VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng
Giới thiệu tòa soạn Hotline: 0987 828 585
Cải cách, hiện đại hoá quản lý thuế: Đồng hành cùng ngành Tài chính

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Cải cách, hiện đại hoá quản lý thuế: Đồng hành cùng ngành Tài chính

Đồng hành cùng với chặng đường 75 năm đổi mới và phát triển của ngành Tài chính, những năm qua, bên cạnh nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước, ngành Thuế đã đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế theo hướng đơn giản, rõ ràng, minh bạch nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế. Những cải cách này của ngành Thuế được cộng đồng doanh nghiệp, người dân và xã hội đánh giá cao. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế trong và ngoài nước giai đoạn tới có những cơ hội, thách thức đan xen đòi hỏi ngành Thuế cần tiếp tục đổi mới để bắt kịp xu hướng phát triển trên thế giới và cải cách được xem như con đường tất yếu để xây dựng ngành Thuế phát triển hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Ngành Thuế tích hợp 120 thủ tục hành chính trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, vượt 30% kế hoạch

Ngành Thuế chung sức, thi đua vượt qua khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ

Ngành Thuế kịp thời đôn đốc, thu hồi nợ thuế cho ngân sách

COVID-19: Vượt khó khăn, ngành Thuế “chỉ bàn tiến không bàn lùi”

Dấu ấn trong cải cách, hiện đại hóa công tác quản lý thuế

Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã duy trì được nhịp độ tăng trưởng khá, lạm phát được kiểm soát và duy trì ở mức độ thấp, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và số doanh nghiệp (DN) đăng ký thành lập mới đều tăng… Đây là những yếu tố thuận lợi tác động tích cực đến tình hình sản xuất kinh doanh của các DN, tổ chức và cá nhân.

Bên cạnh đó, kinh tế thế giới cũng xuất hiện thêm nhiều bất ổn mới sau khủng hoảng tài chính toàn cầu và khủng hoảng nợ công ở châu Âu, hoạt động thương mại toàn cầu đã chững lại đáng kể, trong khi chủ nghĩa bảo hộ có xu hướng gia tăng, cùng với đó xung đột thương mại Trung Quốc - Hoa Kỳ ngày một căng thẳng. Tình hình dịch bệnh, biến đổi khí hậu toàn cầu tiếp tục xảy ra trong phạm vi cả nước, sự biến động bất lợi của giá cả hàng hóa trên thị trường thế giới đã tác động không nhỏ đến việc thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước (NSNN) và các mục tiêu cải cách công tác quản lý thuế.

Trong những năm qua, ngành Thuế luôn chủ động, tích cực thực hiện các biện pháp cải cách, phát huy tối đa những yếu tố thuận lợi của nền kinh tế; đồng thời, triển khai đồng bộ các giải pháp để khắc phục những khó khăn, thách thức, thực hiện hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ được giao, xây dựng ngành Thuế phát triển hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Từ năm 2011 đến nay, thực hiện Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 được ban hành theo Quyết định số 732/QĐ-TTg ngày 17/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ, ngành Thuế luôn hoàn thành xuất sắc chỉ tiêu thu NSNN được giao, tỷ lệ huy động thu NSNN bình quân trên GDP đạt khoảng 24%, trong đó tỷ lệ huy động từ thuế, phí đạt xấp xỉ 21% (so với giai đoạn 2006-2010 là 23,6%). Cơ cấu thu NSNN có chuyển biến tích cực, thu nội địa chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu NSNN, đến năm 2020 dự kiến đạt khoảng 84%, đạt mục tiêu đề ra trong Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020  (84-85%), có sự gia tăng đáng kể so với các giai đoạn trước (giai đoạn 2006-2010 là 58,9%, giai đoạn 2011-2015 là 68%), đảm bảo theo đúng định hướng Chiến lược là tăng dần tỷ trọng từ nguồn thu trong nước để bù đắp thuế xuất nhập khẩu giảm do thực hiện các cam kết khi Việt Nam gia nhập các tổ chức thương mại quốc tế và khu vực.

 Cơ cấu thu trong tổng thu nội địa (không kể thu từ dầu thô) theo thành phần kinh tế có sự thay đổi tích cực theo đúng định hướng phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước: Thu từ khu vực công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh là 19,5% (giai đoạn 2006 - 2010 là 17,5%); thu từ DN đầu tư nước ngoài là 18,4% (giai đoạn 2006-2010 là 17,8%); thu từ khu vực DN nhà nước là 18,9% (giai đoạn 2006-2010 là 29,7%).

Thời gian qua, ngành Thuế tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế theo hướng đơn giản,rõ ràng, minh bạch, tạo thuận lợi cho người nộp thuế, được cộng đồng doanh nghiệp, người dânvà xã hội đồng tình ủng hộ và đánh giá cao
Thời gian qua, ngành Thuế tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế theo hướng đơn giản,rõ ràng, minh bạch, tạo thuận lợi cho người nộp thuế, được cộng đồng doanh nghiệp, người dânvà xã hội đồng tình ủng hộ và đánh giá cao

Cùng với nhiệm vụ thu NSNN, ngành Thuế luôn chú trọng thực hiện các giải pháp cải cách, hiện đại hóa công tác quản lý thuế theo các lĩnh vực nghiệp vụ. Trong cải cách thể chế quản lý thuế, ngành Thuế đã tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế theo hướng đơn giản, rõ ràng, minh bạch nhằm tạo thuận lợi cho người nộp thuế (NNT), qua đó góp phần giảm chi phí, thời gian cho NNT trong thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp thuế, được cộng đồng DN, người dân và xã hội đồng tình ủng hộ và đánh giá cao.

Bên cạnh đó, ngành Thuế đã rà soát, hoàn thiện các văn bản để đảm bảo cơ sở pháp lý đồng bộ trong công tác thu NSNN. Cùng với đó, mở rộng số lượng hộ kinh doanh tham gia để tăng thêm tính dân chủ, bổ sung các quy định về hóa đơn điện tử, hóa đơn điện tử có mã xác thực của cơ quan thuế, quy định đối với DN sản xuất sản phẩm thuốc lá, rượu bia khi thực hiện công nghệ in tem, tem điện tử và các quy định đẩy mạnh việc xã hội hóa hoạt động đối với đại lý thuế, nhân viên đại lý thuế... nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý thuế. Những nỗ lực cải cách thủ tục hành chính của ngành Thuế Việt Nam đã được ghi nhận tại các chỉ số liên quan đến thuế trong Báo cáo Môi trường kinh doanh 2020 của Ngân hàng Thế giới, góp phần thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, nâng dần vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Trong công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT, ngành Thuế đã chuyển từ cơ quan thuế hỗ trợ, cung cấp các dịch vụ thuế cho NNT sang hướng dẫn NNT thực hiện các thủ tục hành chính thuế đảm bảo tạo điều kiện thuận lợi nhất cho NNT trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế trong các khâu: đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế… Đặc biệt, để hiện thực hóa mục tiêu có 1 triệu DN vào năm 2020, ngành Thuế đã triển khai chương trình “Đồng hành cùng DN khởi nghiệp” trên phạm vi cả nước, nhằm giúp DN khởi nghiệp dễ dàng tiếp cận được với các thông tin hỗ trợ thông qua các kênh hỗ trợ riêng cho DN khởi nghiệp như lập các điểm hỗ trợ trực tiếp, bố trí số điện thoại, địa chỉ thư điện tử (email) hỗ trợ. Tăng cường phối hợp với các cơ quan, ban ngành, tiến hành kết nối với các DN cung cấp dịch vụ (như: các đại lý thuế, tổ chức T-VAN, DN cung cấp phần mềm kế toán, các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thư số...) để hỗ trợ các doanh nghiệp mới thành lập. Với những nỗ lực nâng cao chất lượng phục vụ NNT trong thực hiện chính sách pháp luật thuế, ngành Thuế đã nhận được sự đồng lòng ủng hộ cao của người dân và DN. Theo kết quả khảo sát mức độ hài lòng của NNT do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thực hiện, kết quả chung đánh giá sự hài lòng của DN năm 2019 là 78%, tăng 3% so với năm 2016. Kết quả này đã minh chứng cho những nỗ lực cải cách, hiện đại hoá nhằm nâng cao chất lượng phục vụ người dân và DN của cơ quan thuế trong thời gian qua.

Ngành Thuế đẩy mạnh cải cách công tác quản lý đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế, chế độ kế toán thuế thông qua việc đơn giản hoá hồ sơ, thủ tục, mẫu biểu tạo thuận lợi cho NNT thực hiện đăng ký, khai thuế, nộp thuế; đồng thời vẫn đảm bảo cơ quan thuế có đầy đủ thông tin quản lý thuế cần thiết về NNT; liên thông với các cơ quan nhà nước có liên quan (cơ quan đăng ký kinh doanh, ngân hàng, tổ chức tín dụng, Kho bạc, Hải quan...) trong quá trình giải quyết các thủ tục về thuế cho NNT như hồ sơ đăng ký DN, thủ tục nộp thuế...; áp dụng quản lý rủi ro trong công tác quản lý đăng ký thuế, khai thuế, hoàn thuế thông qua việc chuẩn hoá thông tin về NNT trên toàn quốc nhằm hoàn thiện cơ sở dữ liệu định danh NNT đầy đủ, chính xác và cập nhật kịp thời…

Cải cách, hiện đại hoá quản lý thuế: Đồng hành cùng ngành Tài chính - Ảnh 1

Đến năm 2020, ngành Thuế đã triển khai dịch vụ thuế điện tử (khai thuế điện tử, nộp thuế điện tử) trên toàn quốc, cơ bản đáp ứng yêu cầu về triển khai Chính phủ điện tử, tạo thuận lợi cho NNT trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế. Cụ thể, về khai thuế, đối với NNT là DN, Tổng cục Thuế đã triển khai dịch vụ khai thuế điện tử tại tất cả 63 Cục thuế cấp tỉnh và 100% Chi cục thuế trực thuộc; đã phối hợp với 54 ngân hàng thương mại triển khai dịch vụ nộp thuế điện tử chiếm tỷ lệ 99,53% trên tổng số DN đang hoạt động; đã triển khai hoàn thuế điện tử tại 63/63 tỉnh, thành phố, tỷ lệ DN tham gia hoàn thuế điện tử đạt 93,61%, tỷ lệ hồ sơ hoàn tiếp nhận bằng phương thức điện tử đạt 95,80%.

Trong công tác thanh tra, kiểm tra thuế, ngành Thuế đã nghiên cứu và áp dụng phương pháp quản lý rủi ro trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin theo bộ tiêu chí đã được ban hành; chuyển dần từ thanh tra, kiểm tra toàn diện sang thanh tra, kiểm tra theo theo hệ thống tiêu thức lựa chọn, đi vào chiều sâu theo nội dung vi phạm (chuyên đề, lĩnh vực như DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), các DN có dấu hiệu chuyển giá; DN kinh doanh lỗ; các DN có số nợ thuế lớn…). Tăng cường sự phối hợp với các ngành có liên quan trong công tác thanh tra, kiểm tra thuế (Tổng cục Hải quan, Cục Phòng chống rửa tiền thuộc Ngân hàng Nhà nước, Tổng cục Cảnh sát, Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước, Tòa án, Viện Kiểm sát và các bộ, ngành…) trong việc chia sẻ các thông tin phục vụ công tác quản lý thuế.

Đối với công tác quản lý thu nợ và cưỡng chế nợ thuế, ngành Thuế đã đề xuất sửa đổi, bổ sung thể chế quản lý nợ phù hợp với thông lệ quốc tế theo hướng đơn giản hoá thủ tục hành chính, cụ thể như: Giảm tỷ lệ tiền chậm nộp thuế từ 0,05%/ngày xuống còn 0,03%/ngày; bổ sung quy định về khoanh tiền thuế nợ; quy định rõ việc xử lý tiền nợ gốc, tiền phạt hành chính, phạt chậm nộp theo từng cấp độ, từng đối tượng; xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan có liên quan trong xử lý nợ đọng thuế; quy định nguyên tắc áp dụng các biện pháp cưỡng chế linh hoạt để tăng cường hiệu quả của công tác cưỡng chế thu nợ, đơn giản hóa thủ tục hành chính.

 Bên cạnh cải cách các nghiệp vụ công tác quản lý thuế, ngành Thuế tập trung phát triển hệ thống công nghệ thông tin và hiện đại hoá hạ tầng kỹ thuật, nâng cấp và mở rộng triển khai các ứng dụng cung ứng dịch vụ khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế điện tử cho cá nhân và DN phù hợp với những thay đổi của chính sách; hỗ trợ cho các DN tham gia thí điểm hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế; nâng cấp kiến trúc cổng thông tin, tăng cường trao đổi thông tin với các đơn vị, tổ chức bên ngoài; triển khai các giải pháp an toàn, bảo mật thông tin tại cơ quan thuế các cấp, ngăn chặn các nguy cơ xâm nhập, mất an ninh thông tin, đảm bảo hoạt động ổn định.

Về tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực cũng được ngành Thuế quan tâm và quyết liệt cải cách theo hướng tăng cường năng lực thực thi, triển khai nhiệm vụ, tinh gọn đầu mối, phù hợp với công tác quản lý và tình hình thực tế tại địa phương. Đã thực hiện điều chỉnh dần cơ cấu công chức theo chức năng quản lý và theo đối tượng quản lý đảm bảo hiệu quả, phù hợp nhiệm vụ quản lý thuế tại cơ quan thuế các cấp. Đến nay, ngành Thuế đã kiện toàn cơ cấu tổ chức bộ máy ở 3 cấp: Tổng cục, Cục và Chi cục Thuế, theo đó giảm số lượng cấp phòng trong các Vụ/đơn vị tại cơ quan Tổng cục Thuế; giảm số lượng các phòng tại các Cục Thuế; sáp nhập tinh giảm đầu mối các Chi cục Thuế (giảm được 2.520 đầu mối: 27 phòng thuộc Tổng cục Thuế; 62 Phòng của Cục thuế tỉnh, thành phố; 296 Chi cục Thuế tại các Cục thuế tỉnh, thành phố; 2.100 Đội Thuế thuộc Chi cục Thuế).

Bộ máy quản lý thuế tiếp tục tổ chức theo hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương, đã được bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn để thực hiện đầy đủ chức năng của cơ quan quản lý thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế, có phân công, phân cấp rõ ràng giữa cơ quan Thuế các cấp và trong từng cấp; thể hiện rõ vai trò chỉ đạo điều hành của cơ quan thuế cấp trên đối với cơ quan thuế cấp dưới. Thực hiện điều chỉnh dần cơ cấu công chức theo chức năng quản lý và theo đối tượng quản lý đảm bảo hiệu quả, phù hợp nhiệm vụ quản lý thuế tại các cấp. Công tác luân phiên, luân chuyển và chuyển đổi vị trí công tác cũng luôn được quan tâm, đẩy mạnh theo đúng chủ trương của Đảng, Nhà nước đảm bảo công khai, minh bạch, dân chủ.

Định hướng lớn trong xây dựng Chiến lược cải cách quản lý thuế giai đoạn 2021-2025

Trong xu thế hội nhập và hợp tác quốc tế, ngành Thuế đã chủ động hợp tác về thuế với các nước và các tổ chức quốc tế, phục vụ thiết thực tiến trình cải cách, hiện đại hoá hệ thống thuế, nâng cao năng lực chuyên môn của cán bộ thuế trong quản lý thuế, góp phần khẳng định vị thế của ngành Thuế Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.

Song song với việc triển khai thực hiện các nội dung cải cách quản lý thuế, ngành Thuế thường xuyên tổ chức đánh giá hiệu quả hoạt động của Ngành phù hợp với thông lệ quốc tế, thể hiện cam kết của ngành Thuế trong thực hiện các giá trị theo phương châm  “minh bạch, chuyên nghiệp, liêm chính, đổi mới”.

Cải cách, hiện đại hoá quản lý thuế: Đồng hành cùng ngành Tài chính - Ảnh 2

Những năm tiếp theo được dự báo sự biến động phức tạp, khó lường của nền kinh tế thế giới, cạnh tranh kinh tế ngày càng phức tạp. Trong khi khoa học công nghệ ngày càng phát triển nhanh và mạnh mẽ, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ chế tạo và tự động hoá, thay đổi công nghệ góp phần làm tăng hiệu suất đã đặt ra nhiều thách thức đối với các mô hình kinh doanh hiện nay. Cách mạng công nghiệp 4.0 tác động ngày càng sâu rộng đến đời sống kinh tế - xã hội toàn thế giới, nhiều hình thái kinh tế mới đang hình thành kèm theo đó là các phương thức thanh toán, xu hướng tiêu dùng mới như kinh tế mạng, kinh tế chia sẻ… Các quốc gia trên thế giới tiếp tục phải đối phó với nhiều vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, an ninh lương thực, nguồn nước, an ninh mạng, dịch bệnh, tội phạm xuyên quốc gia…

Bên cạnh những yếu tố thuận lợi, nền kinh tế Việt Nam dự báo cũng sẽ đối mặt với không ít những khó khăn, thách thức. Động lực tăng trưởng chủ yếu dựa vào các nguồn lực đầu vào đã đi đến giới hạn, trong khi quá trình tái cơ cấu lại nền kinh tế, hình thành các động lực tăng trưởng mới diễn ra còn chậm. Hiệu quả sử dụng nguồn lực công còn thấp và chậm được cải thiện. Đối mặt sự khó khăn về nhân lực do tốc độ già hoá dân số nhanh tiếp tục đặt ra thách thức về tạo công ăn việc làm, chăm sóc y tế, giáo dục, phúc lợi xã hội… Những yếu tố trên đều có tác động không nhỏ đến việc xây dựng và triển khai chiến lược cải cách của ngành Thuế trong giai đoạn tới.

Bối cảnh này đòi hỏi hỏi ngành Thuế cần phải tiếp tục thay đổi, bắt kịp những xu hướng trên thế giới và cải cách được xem như con đường tất yếu để xây dựng ngành Thuế tiên tiến, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả. Để đạt được mục tiêu này một số định hướng lớn trong xây dựng Chiến lược cải cách quản lý thuế giai đoạn 2021-2025 được đặt ra như sau:

Một là, hoàn thiện hệ thống thể chế quản lý thuế đảm bảo tính đồng bộ, công khai, minh bạch, ổn định, công bằng và phù hợp với yêu cầu thực tiễn nhằm quản lý có hiệu quả nguồn thu mới phát sinh từ nền kinh tế số. Khuyến khích thúc đẩy sự tuân thủ tự nguyện theo mức độ tuân thủ của từng nhóm NNT thông qua việc xây dựng và triển khai Chiến lược nâng cao tuân thủ tổng thể. Sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý thuế đồng bộ, đúng kế hoạch, phù hợp với yêu cầu chính phủ điện tử, đảm bảo cơ quan thuế có đủ năng lực quản lý thuế nội địa và thuế quốc tế.

Hai là, phát triển hệ thống công nghệ thông tin trong các hoạt động quản lý thuế có tính liên kết, tự động hóa cao, gắn với cải cách thủ tục hành chính thuế, áp dụng thuế điện tử và phương pháp quản lý rủi ro trong quản lý thuế. Kết nối, tích hợp, trao đổi thông tin dữ liệu giữa cơ quan thuế với các cơ quan thuộc Bộ Tài chính và các bộ, ngành, địa phương; số hóa các giao dịch nội bộ; các quy chuẩn, tiêu chuẩn về dịch vụ nền tảng công nghệ thông tin và hạ tầng kỹ thuật trong ngành Thuế; an toàn thông tin trong môi trường ứng dụng thuế điện tử.

Ba là, tăng cường công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT đáp ứng nhu cầu theo từng nhóm NNT. NNT được hỗ trợ và cung cấp dịch vụ đầy đủ thông tin theo quy định của pháp luật thông qua các dịch vụ thuế điện tử nhằm tăng cường việc tuân thủ tự nguyện với chất lượng tốt và mức chi phí phù hợp với các chuẩn mực, tiêu chuẩn theo thông lệ quốc tế.

Bốn là, tăng cường đổi mới công tác đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế và kế toán thuế theo hướng thủ tục hành chính thuế đơn giản, rõ ràng, minh bạch, dễ thực hiện. Áp dụng quản lý rủi ro trong việc quản lý đăng ký, kê khai, nộp và hoàn thuế trên cơ sở phân đoạn NNT theo quy mô, ngành, lĩnh vực. Mở rộng thu thập dữ liệu bên thứ ba để tăng cường khả năng xây dựng các phương pháp tiếp cận quản lý rủi ro và phân tích những xu hướng tuân thủ để tăng cường hiệu quả hoạt động nghiệp vụ.

Năm là, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác thanh tra, kiểm tra thuế để phân tích, đánh giá rủi ro, phân loại NNT. Áp dụng hiệu quả các kỹ năng thanh tra, kiểm tra để kịp thời phát hiện và xử lý NNT chây ỳ, nợ thuế, chiến đoạt tiền thuế và các khoản tiền phạt liên quan đến thuế, đảm bảo thu đúng, thu đủ và thu kịp thời vào NSNN phù hợp với pháp luật thuế. Xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra theo chuyên đề một cách hiệu quả dựa trên nền tảng phân khúc NNT, rủi ro của các ngành kinh tế và các hình thức thanh tra, kiểm tra tương ứng. Xây dựng các công cụ hỗ trợ thanh tra giá chuyển nhượng, trao đổi thông tin. Áp dụng kỹ thuật thanh tra được hỗ trợ bởi máy tính nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động thanh tra.

Sáu là, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế đảm bảo các khoản nợ thuế được phân loại, theo dõi đầy đủ, chính xác và xử lý kịp thời theo tính chất của từng khoản nợ. 

Bảy là, ứng dụng công nghệ thông tin trong việc tiếp nhận, theo dõi, giải quyết chính xác, kịp thời các trường hợp khiếu nại, tố cáo về thuế của NNT; minh bạch và nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan thuế trước Chính phủ và cộng đồng NNT trong công tác giải quyết và ghi nhận kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế.

Tám là, tiếp tục nghiên cứu, kiện toàn và thực hiện mô hình quản lý thuế kết hợp quản lý thuế theo chức năng với quản lý thuế theo đối tượng. Tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thuế phù hợp với chương trình chuyển đổi của cơ quan thuế. Tăng cường kiểm tra, giám sát thực thi công vụ của công chức thuế.

Chín là, tăng cường hợp tác, phối hợp với các cơ quan thuế các nước/vùng lãnh thổ, các tổ chức quốc tế trong việc trao đổi thông tin, kinh nghiệm, hỗ trợ kỹ thuật. Tăng cường năng lực giải quyết vấn đề trốn/tránh thuế trong thuế quốc tế và DN nội địa có giao dịch quốc tế, áp dụng thỏa thuận giá tính trước…

Như vậy, những thành tựu cải cách và hiện đại hoá công tác quản lý thuế của ngành Thuế trong giai đoạn vừa qua đã thể hiện sự nỗ lực quyết tâm của toàn thể cán bộ, công chức trong Ngành trong hội nhập và đổi mới. Những định hướng cải cách giai đoạn tới nhằm xây dựng hệ thống thuế đồng bộ, tiên tiến, hiện đại, góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM