Nâng cao hiệu quả công tác quản lý rủi ro tuân thủ thuế ở các doanh nghiệp lớn

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính kỳ 1 tháng 12/2020

Quản lý rủi ro tuân thủ thuế là một phương thức quản lý hiện đại và khoa học nhằm nâng cao tính tuân thủ của người nộp thuế nói chung và các doanh nghiệp lớn nói riêng.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Trong 10 năm qua qua, vấn đề tuân thủ thuế của các doanh nghiệp lớn đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý thuế trên thế giới.

Do mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, bản chất hoạt động kinh doanh phức tạp và dàn trải trên nhiều vùng, lãnh thổ và quốc gia nên các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là các tập đoàn đa quốc gia có rủi ro tuân thủ thuế cao. Đây là thách thức không nhỏ cho các cơ quan quản lý thuế.

Bài viết tập trung làm rõ các vấn đề trong công tác quản lý rủi ro tuân thủ thuế đối với các doanh nghiệp lớn hiện nay, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý rủi ro tuân thủ thuế tại Việt Nam.

Đặt vấn đề

Trong 10 năm qua, vấn đề tuân thủ thuế của các doanh nghiệp lớn (DNL) đã trở thành mối quan tâm toàn cầu (Braithwaite, 2005). Cơ quan thuế đã phải đối diện với không ít thách thức trong việc tổ chức quản lý thuế của các DNL, bởi các DN này thường hoạt động trên phạm vi nhiều quốc gia, có yếu tố nước ngoài, cơ cấu tổ chức phức tạp. Các vụ tranh chấp về thuế nổi tiếng thường diễn ra giữa Chính phủ các nước với các tập đoàn toàn cầu như: Google, Apple và Amazon (Tomkins, Packman, Russel & Colville, 2001).

Là quốc gia đang phát triển, có độ mở cao và chính sách hấp dẫn trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Việt Nam đang đối diện với những vấn đề lớn liên quan đến quản lý rủi ro tuân thủ thuế của DNL, đặc biệt là các DN FDI.

Theo thống kê của Bộ Tài chính, năm 2016, tình trạng thất thu thuế ước tính khoảng 64 nghìn tỷ đồng, tương đương với 5,8% tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN). Con số thất thu này chủ yếu do các chính sách ưu đãi về thuế đối với các DN FDI và các hoạt động chuyển giá. Theo báo cáo của Cục Tài chính doanh nghiệp (Bộ Tài Chính), từ năm 2012-2016 có đến 44%-51% DN FDI báo lỗ, nhưng vẫn thực hiện đầu tư, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên, nhóm chuyên gia quản lý thuế thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Tài chính với chủ đề “Rủi ro tuân thủ thuế ở các DNL tại Việt Nam”. Bài viết này tập trung đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tuân thủ thuế đối với các DNL tại Việt Nam được đúc kết từ kết quả nghiên cứu của đề tài. 

Một số vấn đề lý luận về quản lý rủi ro tuân thủ thuế

Khái niệm về tuân thủ thuế xoay quanh 2 khía cạnh, theo lý thuyết đó là sự tự nguyện tuân thủ của người nộp thuế còn dưới giác độ pháp lý, đó là sự bắt buộc người nộp thuế phải tuân thủ nghĩa vụ thuế theo đúng quy định của pháp luật. James và Alley (2002, trang 32) định nghĩa: Tuân thủ thuế là “sự tự nguyện của cá nhân và tổ chức nộp thuế trong việc hành động theo các quy định của pháp luật về thuế mà không cần sự cưỡng chế từ cơ quan quản lý thuế”. Ở khía cạnh khác, McKerchar (2003) định nghĩa: Tuân thủ thuế có nghĩa là NNT kê khai đầy đủ và đúng hạn số thuế phải nộp, nộp thuế đúng hạn và lưu trữ đầy đủ hồ sơ theo các quy định của pháp luật và quyết định của tòa án.

Theo quan điểm của cơ quan thuế Việt Nam (Tổng cục Thuế) tuân thủ thuế là việc chấp hành nghĩa vụ của NNT theo đúng quy định bao gồm các hoạt động đăng ký, kê khai, tính thuế, nộp thuế, báo cáo thuế. Bất kỳ vi phạm nào trong các khâu này đều dẫn đến sự không tuân thủ thuế ở các mức độ khác nhau. Như vậy, tuân thủ thuế là một khái niệm bao hàm cả ý nghĩa pháp lý và thực tế.

Khi NNT không tuân thủ thuế, bao gồm cả hành vi chủ ý và không chủ ý phạm luật hoặc không phạm luật (kể cả vô tình hay cố ý) đều dẫn đến số thuế phải nộp giảm đi và khi đó rủi ro tuân thủ thuế sẽ tăng cao, buộc các cơ quan quản lý phải có các chính sách và giải pháp nhằm quản lý rủi ro tuân thủ thuế có hiệu quả.

Rủi ro tuân thủ thuế được hiểu theo các cách khác nhau giữa giác độ của NNT và nhà quản lý. Dưới giác độ NNT, Wunder (2009, trang 16) cho rằng, rủi ro về thuế là khả năng kết quả về thuế khác so với những gì một DN dự kiến do nhiều nguyên nhân như thay đổi trong luật thuế, thanh tra, kiểm tra thuế nhiều hơn, sự không chắc chắn trong cách hiểu luật, sự thay đổi điều kiện của công ty…

Dưới giác độ của cơ quan quản lý thuế, thì “rủi ro về thuế” là nguy cơ không tuân thủ chính sách pháp luật thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác thuộc NSNN (Thông tư số 204/2015/TT-BTC). Như vậy, quan niệm về rủi ro tuân thủ thuế dưới giác độ NNT và cơ quan quản lý nhà nước là khác nhau, nhưng nội hàm của hai cách hiểu đều cho thấy, rủi ro tuân thủ thuế cho dù dưới giác độ nào cũng cần phải quản lý, để giảm thiểu các nguy cơ ảnh hưởng đến mục tiêu của tổ chức. Dưới giác độ của nhà quản lý, mục tiêu của tổ chức chính là việc đảm bảo số thuế thu đúng và đủ theo quy định của pháp luật.

Quản lý rủi ro là quá trình thực hiện các biện pháp để giải quyết những rủi ro phát sinh gắn với các nội dung quản ý để đạt được các mục tiêu đề ra. Trong quản lý thuế, quản lý rủi ro được định nghĩa là một quy trình quản lý mang tính hệ thống trong đó các cơ quan thuế lựa chọn một cách kỹ lưỡng các công cụ xử lý hiệu quả nhằm tăng tính tuân thủ và hạn chế hành vi vi phạm pháp luật về thuế dựa trên năng lực có sẵn và những hiểu biết về hành vi của NNT (Ủy ban châu Âu, 2006). Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD, 2010) định nghĩa: Quản lý rủi ro tuân thủ là quy trình quản lý dựa trên sự hiểu biết và sự xác định các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi tuân thủ thuế của NNT, từ đó thực hiện các biện pháp thích hợp để xử lý các hành vi không tuân thủ một cách hiệu quả.

Như vậy, có thể hiểu, quản lý rủi ro tuân thủ thuế là một phương thức quản lý nhằm đạt được sự tuân thủ tối đa của NNT. Cơ quan thuế đã thực hiện phân loại NNT theo mức độ tuân thủ pháp luật thuế để phân bổ nguồn lực khan hiếm của mình cho nhóm NNT có mức độ tuân thủ thấp nhất, khả năng gian lận về thuế cao nhất; tăng cường thực hiện kiểm tra, thanh tra thuế nhằm ngăn ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi không tuân thủ pháp luật thuế của NNT.

Đối với các DNL, việc quản lý rủi ro tuân thủ thuế ngày càng trở nên quan trọng hơn, do nhóm NNT này có quy mô lớn, cấu trúc hoạt động phức tạp, hoạt động kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực và phạm vi hoạt động dàn trải trên nhiều vùng lãnh thổ, có các hoạt động xuyên biên giới nên có nguy cơ cao về việc tuân thủ thuế.  

Thực trạng quản lý rủi ro tuân thủ thuế ở các doanh nghiệp lớn tại Việt Nam

Ở Việt Nam, quản lý rủi ro tuân thủ thuế đã được chính thức luật hóa tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế (Luật số 21/2012/QH13 ngày 20/11/2012) và các văn bản hướng dẫn thi hành bao gồm: Nghị định số 83/2013/NĐ-CP của Chính phủ, Thông tư số 204/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính. Tiếp đó, Luật Quản lý thuế mới (Luật số 38/2019/QH14 của Quốc hội ngày 13/06/2019, có hiệu lực từ ngày 01/07/2020) đã quy định cụ thể hơn với phạm vi rộng hơn đối với cơ chế áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý thuế.

Theo đó, việc áp dụng quản lý rủi ro tuân thủ được thực hiện trong tất cả các khâu của công tác quản lý thuế và bổ sung áp dụng biện pháp ưu tiên đối với NNT có lịch sử tuân thủ tốt. Đây là bước tiến quan trọng trước yêu cầu vừa phải thu thuế hiệu quả, vừa phải tăng cường tính tuân thủ của NNT trong khi đề cao việc đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo thuận lợi tối đa cho DN và người dân.

Đối với các DNL, việc quản lý rủi ro tuân thủ thuế cũng được áp dụng theo các văn bản pháp luật nói chung của ngành Thuế. Tuy nhiên, do các yếu tố đặc thù của DNL, Tổng cục Thuế đã giao cho Vụ Quản lý thuế DNL thực hiện các chức năng quản lý thuế đối với nhóm NNT này. Trải qua gần 10 năm, công tác quản lý rủi ro tuân thủ thuế trong công tác quản lý thuế nói chung và quản lý thuế đối với DNL nói riêng đã đạt được các kết quả tích cực, được thể hiện ở những nội dung sau:

Thứ nhất, thành lập Ban Quản lý rủi ro (trực thuộc Tổng cục Thuế) chuyên trách thực hiện các vấn đề liên quan đến quản lý rủi ro tuân thủ thuế. Kể từ khi Ban Quản lý rủi ro ra đời, công tác quản lý rủi ro tuân thủ thuế của ngành Thuế được thực hiện một cách có hệ thống, bài bản và khoa học hơn.

Quản lý rủi ro là xu hướng tất yếu trong quản lý thuế hiện đại, đảm bảo liên kết, điều phối xuyên suốt trong các hoạt động của nghiệp vụ thuế; tuy vậy, việc sắp xếp bộ máy chưa phù hợp, hiện tại chỉ có Ban Quản lý rủi ro trực thuộc Tổng cục Thuế thực hiện chuyên trách về quản lý rủi ro còn tại Cục thuế tỉnh, thành phố và Chi cục chưa có bộ phận chuyên trách.

Thứ hai, ban hành 3 bộ tiêu chí, chỉ số nhằm áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý thuế bao gồm: (1) Bộ tiêu chí và chỉ số phân loại giải quyết hồ sơ hoàn thuế GTGT và lựa chọn DN có dấu hiệu rủi ro để xây dựng kế hoạch kiểm tra, thanh tra sau hoàn thuế GTGT; (2) Bộ tiêu chí và chỉ số lựa chọn NNT có dấu hiệu rủi ro để xây dựng kế hoạch kiểm tra, thanh tra tại trụ sở NNT; (3) Bộ tiêu chí và chỉ số phân tích thông tin đánh giá NNT có dấu hiệu rủi ro trong việc tạo, in, phát hành và sử dụng hóa đơn.

Thứ ba, xây dựng và triển khai ứng dụng phân tích thông tin rủi ro NNT (TPR) về phân tích rủi ro NNT để thực hiện việc lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra trên toàn ngành Thuế. Từng bước triển khai ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) phục vụ quản lý rủi ro trong công tác quản lý đăng ký thuế, khai thuế và hoàn thuế.

Thứ tư, từng bước xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu về NNT, bao gồm các thông tin liên quan đến việc tuân thủ pháp luật thuế làm căn cứ phục vụ cho công tác phân tích, đánh giá và xử lý rủi ro trong quản lý thuế

Thứ năm, đối với DNL, Vụ Quản lý thuế DNL (Tổng cục Thuế) đã xây dựng dự thảo Bộ tiêu chí đánh giá rủi ro tuân thủ thuế đối với DNL trong phạm vi được phân công, tiến tới hoàn thiện bộ tiêu chí riêng đánh giá rủi ro tuân thủ của NNT lớn.

Bên cạnh các kết quả đạt được, công tác quản lý rủi ro tuân thủ thuế thời gian qua còn có những tồn tại, hạn chế sau:

Một là, tổ chức hoạt động công tác quản lý rủi ro chưa được đồng bộ và chuyên sâu. Hiện nay, công tác quản lý rủi ro mới chỉ được triển khai ở một số phân đoạn của công tác quản lý thuế, chưa được thực hiện đồng bộ trong tất cả các khâu theo tinh thần của Luật Quản lý thuế. Mặt khác, công tác quản lý rủi ro chỉ được thực hiện chuyên trách ở cấp Tổng cục Thuế, chưa có bộ phận phân tích rủi ro riêng ở các cấp cục thuế và chi cục thuế. Thông tin về hoạt động của DN, các kỹ năng, kinh nghiệm quản lý không được chia sẻ, công tác điều phối hoạt động giữa các bộ phận, các cơ quan trong ngành còn bất cập… dẫn đến hoạt động quản lý rủi ro chưa thực sự gắn kết với thực tiễn.

Hai là, cơ sở dữ liệu còn thiếu, chưa đồng bộ và chưa được cập nhật kịp thời. Cơ sở dữ liệu phục vụ công tác phân tích rủi ro hiện nay mới chỉ dừng ở dữ liệu nội bộ ngành Thuế, chưa có dữ liệu bên ngoài và dữ liệu quốc tế. Mặt khác, Tổng cục Thuế chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu riêng cho khối DNL, vốn mang tính đặc thù. 

Ba là, bộ tiêu chí đánh giá rủi ro mới chỉ được dùng để so sánh cùng kỳ của một NNT và so sánh trung bình ngành nhiều DN theo dữ liệu cả nước mà chưa có sự phân loại theo quy mô, đặc điểm vùng miền của DN, nên dễ dẫn đến sự thiên lệch khi kết luận về mức độ rủi ro của NNT. Mặt khác, bộ tiêu chí đánh giá rủi ro đối với DNL cũng chưa được hoàn thiện và thử nghiệm, mới chỉ ở bước dự thảo dùng để tham khảo trong quá trình lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra của Vụ Quản lý thuế DNL.

Bốn là, cơ cấu tổ chức bộ máy cũng như việc trao quyền và trách nhiệm thực hiện quản lý rủi ro chưa phù hợp và chưa tương xứng với công tác quản lý rủi ro hiện nay. Quản lý rủi ro là xu hướng tất yếu trong quản lý thuế hiện đại, đảm bảo liên kết, điều phối xuyên suốt trong các hoạt động của nghiệp vụ thuế; tuy vậy, việc sắp xếp bộ máy chưa phù hợp, hiện tại chỉ có Ban Quản lý rủi ro trực thuộc Tổng cục Thuế thực hiện chuyên trách về quản lý rủi ro còn tại Cục thuế tỉnh, thành phố và Chi cục chưa có bộ phận chuyên trách.

Bên cạnh đó, mặc dù Vụ Quản lý thuế DNL được giao quản lý thuế, trong đó có quản lý rủi ro đối với các DNL nhưng chỉ đóng vai trò tham mưu không có chức năng quản lý thuế trực tiếp như cục thuế các địa phương. Thực tế này dẫn đến các bất cập trong việc thu thập thông tin về NNT lớn, từ đó ảnh hưởng đến việc phân tích rủi ro tuân thủ của các DNL và cũng làm giảm hiệu quả quản lý thuế trong phạm vi toàn Ngành.

Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tuân thủ thuế của các doanh nghiệp lớn tại Việt Nam

Hoàn thiện hệ thống cơ sở pháp lý

Giải pháp cấp thiết hiện nay là hoàn thiện khung pháp lý về quản lý rủi ro tuân thủ thuế, trong đó việc ban hành các văn bản hướng dẫn về nội dung áp dụng cơ chế quản lý rủi ro trong quản lý thuế của Luật Quản lý thuế số 38/2019 cần sớm thực hiện. Chính phủ cần sát sao chỉ đạo Bộ Tài chính để các văn bản trên sớm được đưa vào thực tiễn. Bên cạnh đó, công tác quản lý rủi ro tuân thủ thuế không thể đạt hiệu quả cao nếu không gắn kết với các cải cách hàng loạt về chính sách vĩ mô khác. Do đó, Chính phủ cần sớm chỉ đạo việc cải cách đồng bộ các chính sách có liên quan như chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, chính sách về DN, các chính sách về lao động, về ngân hàng - tài chính, xuất nhập khẩu. Các chính sách này cần xem thuế là đòn bẩy quan trọng, kết hợp với chính sách thuế để tạo ra sức mạnh tổng hợp trong phát triển kinh tế - xã hội.

Xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ công tác quản lý rủi ro trong quản lý thuế

Như đã phân tích ở trên, cơ sở dữ liệu để phục vụ công tác phân tích rủi ro chủ yếu là dữ liệu trong ngành Thuế chưa có sự kết nối với các bên liên quan, trong khi đó, để đánh giá được rủi ro tuân thủ của NNT đặc biệt là các DNL cần có cơ sở dữ liệu đầy đủ từ tài chính đến các thông tin về hoạt động sản xuất trong ngành, các số liệu về giao dịch, về thị trường… Do đó, việc xây dựng cơ sở dữ liệu đầy đủ và kịp thời là hết sức quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả của công tác quản lý rủi ro của NNT nói chung và DNL nói riêng. Để thực hiện được việc trên cần có giải pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất, tăng cường kết nối tự động thông tin với các bên liên quan như: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Hải quan, Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường… từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về NNT.

Thứ hai, tăng cường trao đổi thông tin và liên kết thông tin với quốc tế. Ngiên cứu thực tế cho thấy: Tại Việt Nam, khối DN FDI là khối DN có rủi ro tuân thủ thuế cao. Các nghiên cứu trước đây cũng chỉ ra rằng: Các tập đoàn đa quốc gia có xu hướng chuyển giá từ nơi có thuế suất cao về nơi có thuế suất thấp để giảm thiếu số thuế phải nộp, do vậy công tác thanh tra kiểm tra về chuyển giá đối với các tập đoàn kinh tế đang ngày càng trở nên quan trọng trong công tác quản lý thuế. Tuy nhiên, để phân tích được rủi ro tuân thủ thuế của các tập đoàn đa quốc gia, dữ liệu trong nước là không đủ. Chính vì vậy, việc xây dựng cơ sở dữ liệu về NNT cũng cần hướng đến sự kết nối và trao đổi thông tin giữa các quốc gia trên thế giới.

Thứ ba, việc xây dựng riêng kho dữ liệu DNL trong tổng kho cơ sở dữ liệu của ngành Thuế, theo đó Vụ Quản lý thuế DNL cần phối hợp với Cục CNTT để xây dựng cơ sở dữ liệu riêng về các DNL. Để xây dựng được kho dữ liệu này, trước mắt Vụ Quản lý thuế DNL cần xác định rõ tiêu chí xác định DNL. Bộ tiêu chí này cần đảm bảo đánh giá được quy mô, số thu ngân sách, tính đặc thù của ngành nghề kinh doanh của các DNL theo thông lệ quốc tế. Sau khi xác định được bộ tiêu chí, Vụ Quản lý thuế DNL cần lập danh sách các DNL để đưa vào diện quản lý chính thức, từ đó dựa theo đặc điểm ngành nghề và đặc điểm cụ thể của từng DN, Vụ Quản lý thuế DNL cần xây dựng được kho dữ liệu riêng về NNT là các DNL để phục vụ công tác đánh giá rủi ro.

Kiện toàn tổ chức bộ máy và nguồn lực

Hiện nay, công tác quản lý rủi ro được thực hiện ở cấp Tổng cục Thuế thông qua Ban Quản lý rủi ro, tại các cục thuế và chi cục thuế không thực hiện đánh giá rủi ro chuyên trách. Để đáp ứng được yêu cầu áp dụng cơ chế quản lý rủi ro trong tất cả các khâu trong công tác quản lý thuế như quy định của Luật Quản lý thuế số 38/2019, công tác đánh giá quản lý rủi ro cần được thực hiện ở tất cả các cấp trong ngành Thuế bao gồm cấp tổng cục, cấp cục và cấp chi cục. Để hạn chế việc thành lập thêm các phòng ban, không tăng thêm đầu mối thì chức năng quản lý rủi ro ở các cục và chi cục có thể giao cho 01 phòng thanh tra, kiểm tra và đội thanh tra, kiểm tra làm đầu mối tổng hợp (Ví dụ: Tại Cục Thuế TP. Hà Nội đang giao cho phòng Thanh tra - Kiểm tra số 10).

Đối với Vụ Quản lý thuế DNL, cơ cấu tổ chức hiện theo mô hình vụ không còn phù hợp với nhiệm vụ mới và chưa tương xứng với số lượng và quy mô của các DNL mà Vụ được giao quản lý. Theo mô hình hiện hành, Vụ Quản lý thuế DNL không quản lý trực tiếp với đầy đủ chức năng của quản lý thuế đối với các DNL, mà chỉ đóng vai trò tham mưu cho Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế. Trong khi đó, rủi ro tuân thủ thuế của các DNL được xác định là cao và ngày càng phức tạp, gây ra nhiều thách thức đối với công tác quản lý rủi ro tuân thủ nói riêng và công tác quản lý thuế nói chung của Vụ.

Theo kinh nghiệm quốc tế, bộ phận quản lý thuế DNL nên được cơ cấu là một bộ phận thuộc cơ quan quản lý thuế Trung ương, nhưng được thực hiện đầy đủ chức năng quản lý thuế đối với DNL như một Cục thuế địa phương. Mô hình này giúp cơ quan quản lý thuế DNL có thể chủ động tiếp cận thông tin đầy đủ của các DNL, từ đó chủ động trong công tác phân tích rủi ro để nâng cao hiệu quả quản lý thuế.

Xây dựng và hoàn thiện bộ tiêu chí đánh giá rủi ro tuân thủ

Hiện nay, tại Việt Nam mới xây dựng được bộ tiêu chí đánh giá rủi ro trong khâu hoàn thuế, lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra và quản lý hóa đơn. Bộ tiêu chí này được áp dung chung cho tất cả các đối tượng nộp thuế. Trong khi đó, Luật Quản lý thuế số 38/2019 quy định áp dụng quản lý rủi ro tuân thủ trong tất cả các khâu của công tác quản lý thuế. Bên cạnh đó, DNL mang tính đặc thù nên việc sử dụng một bộ tiêu chí chung cho tất cả các DN là chưa đủ để đánh giá rủi ro tuân thủ của các DNL. Vì vậy, việc xây dựng và hoàn thiện bộ tiêu chí đánh giá rủi ro cho tất cả các khâu trong công tác quản lý thuế nói chung và bộ tiêu chí đánh giá rủi ro cho DNL nói riêng là cần thiết. Các giải pháp cụ thể gồm:

Thứ nhất, cần xây dựng thêm các bộ tiêu chí, chỉ số đầy đủ trên tất cả các khâu của nghiệp vụ quản lý thuế đối với từng phân đoạn NNT, bao gồm đăng ký, thời hạn tuân thủ, kê khai và nộp thuế.

Thứ hai, đối với bộ tiêu chí đang áp dụng để phục vụ lập kế hoạch thanh tra và kiểm tra, cần bổ sung thêm các tiêu chí đánh giá mức độ tuân thủ của NNT phân theo sắc thuế. Đồng thời, cần bổ sung các tiêu chí đánh giá hiện tượng thao túng lợi nhuận nhằm né thuế (Ví dụ: Các hiện tượng đẩy doanh thu hay dấu chi phí, các tiêu chí đánh giá hiện tượng thao túng báo cáo tài chính theo kinh nghiệm thế giới, nhằm nâng cao hiệu quả phân tích rủi ro).

Thứ ba, cần xây dựng riêng bộ tiêu chí đối với DNL đặc thù, bảo đảm sự tương thích trong việc sử dụng các thông tin, dữ liệu quốc tế. Trong danh sách DNL mà Vụ Quản lý thuế DNL đang được giao quản lý có rất nhiều DN đặc thù như các ngân hàng (sử dụng mẫu báo cáo tài chính khác so với các công ty thông thường), các công ty dầu khí, khai thác mỏ có tính chất đặc thù của ngành nghề. Chính vì vậy, Vụ Quản lý thuế DNL cần phối hợp với Ban Quản lý rủi ro và Cục công nghệ thông tin để xây dựng bộ tiêu chí riêng để đánh giá rủi ro tuân thủ thuế của DNL              

Tài liệu tham khảo:

Quốc hội (2012), Luật số 21/2012/QH13 ngày 20/11/2012 về “Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý Thuế”;

Quốc hội (2019), Luật số 38/2019/QH14 ngày 13/06/2019 về “Luật Quản lý thuế”;

Chính phủ (2013), Nghị định số 83/2013/NÐ-CP ngày 22/7/2013 về Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế;

Bộ Tài chính (2015), Quyết định số 2079/QÐ-BTC ngày 9/10/2015 về thành lập Ban Quản lý rủi ro trực thuộc Tổng cục Thuế;

Bộ Tài chính (2015), Thông tư số 204/2015/TT-BTC ngày 21/12/2015 về áp dụng quản lý rủi ro trong tuân thủ thuế;

Bộ Tài chính (2016), Quyết định số 1006/QÐ-BTC ngày 01/11/2016 về “Bộ tiêu chí và chỉ số lựa chọn người nộp thuế có dấu hiệu rủi ro để xây dựng kế hoạch kiểm tra, thanh tra tại trụ sở người nộp thuế”;

Tổng cục Thuế (2017), Quyết định số 1626/QÐ-TCT ngày 27/9/2017 về “Ban hành quy trình áp dụng quản lý rủi ro trong công tác xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế”;

Braithwaite, V., Murphy, K., & Reinhart, M. (2005), The threat of taxation: Management by responsive regulation, Retrieved from https://openresearchrepository,anu,edu,au/handle/1885/43083;

James Simon và Clinton Alley (2002), Tax compliance, self-assessment and tax administration;

McKerchar Margaret (2003), Impact of complexity upon tax compliance: a study of Australian personal taxpayers, The, Tạp chí Australian Tax Research Foundation Research Studies, Trang: 225;

OECD (2010). Forum on Tax Administration: Compliance management of large business task group, nhà xuất bản OECD;

Tomkins, C,, Packman, C,, Russell, S,, & Colville, I, (2001), Managing tax regimes: A call for research, Tạp chí Public Administration, Số 79(3), Trang: 751-758;

Wunder Haroldene F (2009), Tax risk management and the multinational enterprise, Tạp chí Journal of International Accounting, Auditing and Taxation, Số 18(1), Trang: 14-28.