Áp dụng quy định đấu thầu, đặt hàng cung cấp sản phẩm, dịch vụ công: Thực trạng và giải pháp


Phát triển thị trường sản phẩm, dịch vụ công là một nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa lớn đối với nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội mà trong đó đấu thầu, đặt hàng là một trong những “phương thuốc” hữu hiệu để góp phần giúp giải quyết những vấn đề đặt ra, từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả và thúc đẩy xã hội hóa dịch vụ công phục vụ cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong thời gian tới.

Dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí NSNN thực hiện theo các phương thức: Giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu. Nguồn: Internet
Dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí NSNN thực hiện theo các phương thức: Giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu. Nguồn: Internet

Đặt vấn đề

Nghị định số 32/2019/NĐ-CP ngày 10/4/2019 của Chính phủ quy định giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công (DVC) sử dụng ngân sách nhà nước (NSNN) từ nguồn kinh phí chi thường xuyên là một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện các quy định pháp luật về cung cấp DVC. Nghị định này đáp ứng yêu cầu thực hiện chủ trương đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL) và đẩy mạnh xã hội hóa (XHH) một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công (DVSNC). 

Sau gần 2 năm triển khai, Nghị định số 32/2019/NĐ-CP đã được nhiều bộ, ngành, địa phương nghiêm túc quán triệt, tổ chức thực hiện và từng bước phát huy hiệu quả; thúc đẩy XHH, nâng cao chất lương DVC và góp phần đẩy mạnh quá trình đổi mới hoạt động của nhiều ĐVSNCL. Trong đó, một số lĩnh vực, địa bàn đã thực hiện khá tốt, mang lại hiệu quả thiết thực cả về chất lượng sản phẩm, dịch vụ ngày càng được nâng cao với chi phí tiết kiệm hơn.

Một trong những điểm mới quan trọng của Nghị định số 32/2019/NĐ-CP là thống nhất 3 phương thức cung cấp sản phẩm, DVC là giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu trong cùng một văn bản quy phạm pháp luật trên nguyên tắc kế thừa có chọn lọc và đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới; qua đó, khắc phục những tồn tại, hạn chế, chồng chéo trong các quy định tại Nghị định số 130/2013/NĐ-CP và Quyết định số 39/2005/QĐ-TTg như trùng lắp nguồn kinh phí chi thường xuyên cho cùng một nội dung; một danh mục DVSNC sử dụng kinh phí NSNN nhưng lại có 2 khái niệm khác nhau và tổ chức thực hiện giao nhiệm vụ, đặt hàng khác nhau...

Đồng thời, Nghị định số 32/2019/NĐ-CP cũng bảo đảm yêu cầu thống nhất, đồng bộ với các văn bản pháp luật hiện hành như Luật NSNN năm 2015, Luật Đấu thầu năm 2013, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP của Chính phủ về cơ chế tự chủ của ĐVSNCL và các văn bản liên quan; qua đó hướng tới môi trường công bằng, bình đẳng, minh bạch, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia cung cấp sản phẩm, DVC.

Nghị định số 32/2019/NĐ-CP quy định cụ thể về việc nguồn kinh phí thực hiện cung ứng sản phẩm, DVC; danh mục sản phẩm, DVC; các phương thức giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu cung cấp sản phẩm, DVC và thẩm quyền quyết định các phương thức này; đồng thời, quy định rõ về điều kiện, nội dung giao nhiệm vụ, đấu thầu, đặt hàng và căn cứ thực hiện, cũng như trách nhiệm của cơ quan quản lý cấp trên trong việc giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu; trách nhiệm của ĐVSNCL hoặc nhà cung cấp sản phẩm, DVSNC khác; trách nhiệm của cơ quan theo dõi, giám sát trong quá trình thực hiện để đảm bảo tính minh bạch, hiệu quả. Đây cũng là một bước tiến quan trọng, góp phần hoàn thiện cơ chế tài chính, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, giảm kinh phí NSNN đối với ĐVSNCL theo tinh thần của Nghị quyết số 19-NQ/TW của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các ĐVSNCL.

Kết quả triển khai Nghị định số 32/2019/NĐ-CP

Sau gần 2 năm triển khai, Nghị định số 32/2019/NĐ-CP đã được nhiều bộ, ngành, địa phương nghiêm túc quán triệt, tổ chức thực hiện và từng bước phát huy hiệu quả; thúc đẩy XHH, nâng cao chất lương DVC và góp phần đẩy mạnh quá trình đổi mới hoạt động của nhiều ĐVSNCL. Trong đó, một số lĩnh vực, địa bàn đã thực hiện khá tốt, mang lại hiệu quả thiết thực cả về chất lượng sản phẩm, dịch vụ ngày càng được nâng cao với chi phí tiết kiệm hơn.

Trong công tác tổ chức triển khai thực hiện, đến nay đa số các địa phương đã ban hành các văn bản hướng dẫn triển khai trong thực tiễn. UBND các tỉnh, thành phố đã chỉ đạo các sở, ngành, các ĐVSNCL triển khai các nhiệm vụ cụ thể, tăng cường công tác phổ biến, tuyên truyền; yêu cầu các sở, ngành tham mưu trình ban hành danh mục DVSNC sử dụng NSNN, định mức kinh tế kỹ thuật (KTKT), định mức chi phí, tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng DVSNC...

Sở Tài chính được giao nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu trình UBND cấp tỉnh quy định cụ thể về giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp DVSNC từ nguồn kinh phí chi thường xuyên. Đồng thời, theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Nghị định số 32/2019/NĐ-CP, Chủ tịch UBND cấp tỉnh căn cứ các quy định chung về giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp DVSNC sử dụng kinh phí NSNN; sản phẩm, DVC ích tại Nghị định để quy định chi tiết, bổ sung thêm các nội dung về giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu (nếu thấy cần thiết) cho phù hợp với yêu cầu quản lý và tính chất đặc thù của từng lĩnh vực chuyên ngành và pháp luật khác có liên quan. Thực tế, chỉ có một số địa phương như: Đà Nẵng, Hà Giang, Tiền Giang đã ban hành các quyết định và văn bản hướng dẫn một số nội dung cụ thể.

Các địa phương đã thực hiện phân bổ, giao dự toán NSNN năm 2020 theo quy định tại Nghị định số 32/2019/NĐ-CP; trong đó, Chủ tịch UBND tỉnh ủy quyền cho các sở, ngành chuyên môn thực hiện giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, DVC theo quy định.

Theo đó, nhóm các DVSNC thực hiện đặt hàng, đấu thầu gồm các dịch vụ trong lĩnh vực hoạt động kinh tế (tài nguyên và môi trường, giao thông vận tải, nông nghiệp), văn hóa thể thao và du lịch, thông tin và truyền thông (TT&TT)...; nhóm các sản phẩm, DVC ích thực hiện đấu thầu gồm các DVC ích đô thị (như quản lý công viên, trồng và quản lý chăm sóc cây xanh, hoa cảnh vỉa hè, đường phố, dải phân cách, vòng xoay; dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn; dịch vụ thoát nước đô thị, khu dân cư nông thôn tập trung...).

Nhiều địa phương đánh giá việc giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp DVSNC sử dụng kinh phí NSNN theo quy định tại Nghị định số 32/2019/NĐ-CP đã tạo thuận lợi cho việc quản lý, theo dõi, đánh giá, có số lượng, khối lượng cụ thể, chi tiết; góp phần công khai, minh bạch và nâng cao hiệu quả cung cấp sản phẩm, DVC trên địa bàn.

Tuy nhiên, thực tiễn triển khai thực hiện Nghị định số 32/2019/NĐ-CP đã xuất hiện một số khó khăn, vướng mắc, nhất là ở cấp cơ sở. Mặc dù, định hướng ban đầu nhằm đẩy nhanh quá trình cung cấp sản phẩm, DVC thông qua các phương thức đấu thầu, đặt hàng, nhất là phương thức đấu thầu để vừa thúc đẩy XHH, vừa tạo môi trường cạnh tranh để nâng cao chất lượng dịch vụ, nhưng thực tế triển khai cho thấy, phương thức này chỉ có thể áp dụng trên phạm vi các địa bàn có các đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp (DN) đủ điều kiện thực hiện, chủ yếu là những địa bàn, địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội (KT-XH) phát triển khá.

Đến nay, còn nhiều vùng, địa phương, địa bàn sử dụng chủ yếu phương thức giao nhiệm vụ và đặt hàng, chưa áp dụng phương thức đấu thầu, nguyên nhân là do điều kiện, trình độ phát triển KT-XH còn khá lạc hậu. Đặc biệt, hệ thống DN, đơn vị có thể cung cấp sản phẩm, DVC hoặc tương tự để có thể chuyển đổi còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng, năng lực sản xuất kinh doanh, tiềm lực tài chính, trình độ quản lý và công nghệ chưa đáp ứng được yêu cầu. Trong khi đó, nhận thức xã hội và tầm quan trọng của việc XHH, của sự phát triển thị trường sản phẩm, DVC còn chưa được thông tin, tuyên truyền sâu rộng đến cộng đồng DN và người dân.

Đồng thời, nhiều địa phương phản ánh khó khăn, lúng túng khi các bộ, ngành quản lý ngành, lĩnh vực chưa ban hành danh mục DVSNC sử dụng NSNN của ngành, lĩnh vực; chưa ban hành hoặc chưa có văn bản hướng dẫn xây dựng định mức KTKT, định mức chi phí sản phẩm, DVC theo từng lĩnh vực để làm cơ sở ban hành đơn giá, giá sản phẩm, DVC.

Trên cơ sở đó, nhiều địa phương (như Vĩnh Phúc, Lâm Đồng, Bến Tre, Bắc Kạn, Hải Dương, Phú Yên, Bình Dương, Bình Định, Điện Biên, Cần Thơ, Quảng Ninh...) đề nghị các bộ, ngành liên quan ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung định mức KTKT áp dụng trong các lĩnh vực do Nhà nước quản lý; tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng DVSNC; cơ chế giám sát, đánh giá, kiểm định chất lượng DVC, hiệu quả hoạt động của ĐVSNCL làm cơ sở cho các địa phương thực hiện; đồng thời, cần có văn bản hướng dẫn địa phương thực hiện đối với nhiệm vụ thuộc phạm vi quản lý của địa phương.

Thực tế, hiện nay mới chỉ có một số bộ, ngành quản lý ngành, lĩnh vực trình Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục DVSNC sử dụng NSNN của các lĩnh vực (ngoài danh mục DVSCN sử dụng NSNN thuộc phạm vi quản lý của các Bộ) như: Lĩnh vực Thông tin và Truyền thông (Quyết định số 1265/QĐ-TTg ngày 12/8/2020), lĩnh vực giáo dục và đào tạo – GD&ĐT (Quyết định số 186/QĐ-TTg ngày 10/02/2017), lĩnh vực y tế, dân số (Quyết định số 1387/QĐ-TTg ngày 13/7/2016).

Một số bộ, ngành đã ban hành Thông tư hướng dẫn về xây dựng định mức KTKT, giá DVSNC sử dụng NSNN (như Thông tư số 09/2020/TT-BTTTT ngày 24/4/2020 của Bộ TT&TT ban hành định mức KTKT về sản xuất chương trình phát thanh; Thông tư số 03/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018 của Bộ TT&TT ban hành định mức KTTK về sản xuất chương trình truyền hình; Thông tư số 14/2019/TT-BGDĐT ngày 30/8/2019 của Bộ GD&ĐT hướng dẫn xây dựng, thẩm định, ban hành định mức KTKT và phương pháp xây dựng giá dịch vụ GD&ĐT áp dụng trong lĩnh vực GD&ĐT...).

Một số địa phương (như Phú Yên, Bình Dương, Bạc Liêu, Hà Giang, Thái Nguyên, Bắc Giang, Hòa Bình, Nghệ An…) đã đề nghị các bộ, ngành liên quan hướng dẫn về chi phí tiền lương, chi phí nhân công trong giá, đơn giá sản phẩm, DVC do DN thực hiện theo Nghị định số 32/2019/NĐ-CP; tổ chức tập huấn triển khai Nghị định.

Đồng thời, bổ sung hướng dẫn cụ thể một số quy định về xác định chi phí giám sát trong thực hiện cung cấp sản phẩm, DVC; về việc kéo dài thời gian thực hiện hợp đồng từ 03 đến 05 năm để cung cấp một số DVSNC (như quản lý, bảo dưỡng thường xuyên đường bộ, đường thủy nội địa) và sản phẩm, DVC ích (như thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải); xử lý trường hợp gián đoạn cung cấp sản phẩm, DVC (trong quý I của năm sau), do việc đấu thầu chỉ được tổ chức sau khi có quyết định phê duyệt dự toán, cũng như hướng dẫn cụ thể về hình thức chỉ định thầu.

Thúc đẩy hoạt động đấu thầu, đặt hàng cung cấp sản phẩm, dịch vụ công

Thời gian tới, việc thúc đẩy mạnh mẽ đấu thầu, đặt hàng cung cấp sản phẩm, DVC là yêu cầu tất yếu, có ý nghĩa rất quan trọng đối với phát triển KT&XH, nhất là trong điều kiện các vấn đề về đổi mới cơ chế tự chủ ĐVSNCL, thúc đẩy XHH và nâng cao chất lượng sản phẩm, DVC đang ngày càng trở nên cấp thiết đối với Việt Nam. Xuất phát từ những hạn chế, bất cập trong triển khai thực hiện Nghị định số 32/2019/NĐ-CP và những đề xuất, kiến nghị của các địa phương, cơ sở, thời gian tới, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

Một là, các bộ, cơ quan quản lý nhà nước các ngành, lĩnh vực cần khẩn trương ban hành đầy đủ, hệ thống, nhất quán các văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định số 32/2019/NĐ-CP. Đồng thời, theo thẩm quyền quy định, các đia phương cần căn cứ Nghị định số 32/2019/NĐ-CP và các quy định pháp luật chuyên ngành liên quan để chủ động quy định chi tiết, hướng dẫn triển khai thực hiện phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương.

Đây là nhiệm vụ quan trọng để giúp các địa phương tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả, góp phần thiết thực đưa Nghị định số 32/2019/NĐ-CP vào cuộc sống. Nghiêm túc quán triệt, triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả Nghị định số 32/2019/NĐ-CP trong toàn hệ thống hành chính nhà nước; đề cao trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, cá nhân người đứng đầu và từng cán bộ, công chức, viên chức liên quan; có chế tài xử lý nghiêm các sai phạm, các trường hợp làm chậm, làm kém hiệu quả hoặc cố tình không triển khai thực hiện.

Hai là, các địa phương cần căn cứ các quy định cụ thể để tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả. Trường hợp cần thiết, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố được ban hành theo thẩm quyền quy định chi tiết, bổ sung thêm các nội dung về giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cho phù hợp với yêu cầu quản lý và tính chất đặc thù của từng lĩnh vực chuyên ngành và pháp luật khác liên quan.

Ba là, khẩn trương ban hành danh mục DVSNC sử dụng NSNN của ngành, lĩnh vực; Hướng dẫn xây dựng định mức KTKT, định mức chi phí sản phẩm, DVC theo từng lĩnh vực để làm cơ sở ban hành đơn giá, giá sản phẩm, DVC. Theo Quyết định số 695/QĐ-TTg ngày 21/5/2015 về Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định cơ chế tự chủ của ĐVSNCL, Thủ tướng Chính phủ giao Chủ tịch UBND cấp tỉnh ban hành: (1) Danh mục DVSNC sử dụng NSNN thuộc phạm vi quản lý của địa phương (không phụ thuộc vào danh mục DVSNC sử dụng NSNN do các bộ, cơ quan trung ương quản lý và được Thủ tướng Chính phủ ban hành); (2) Định mức KTKT áp dụng trong các lĩnh vực DVSNC, làm cơ sở ban hành giá DVSNC tính đủ chi phí trên địa bàn.

Theo đó, các bộ, ngành liên quan cần khẩn trương hoàn thành việc trình Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục DVSNC sử dụng NSNN thuộc lĩnh vực quản lý và ban hành theo thẩm quyền định mức KTKT áp dụng trong các lĩnh vực DVSNC do Nhà nước quản lý, làm cơ sở ban hành giá DVSNC tính đủ chi phí và các quy định liên quan trong phạm vi lĩnh vực quản lý nhà nước được giao.

Đồng thời, các địa phương (Chủ tịch UBND cấp tỉnh) khẩn trương hoàn thành việc ban hành theo thẩm quyền danh mục DVSNC sử dụng NSNN thuộc phạm vi quản lý của địa phương, do địa phương thực hiện và định mức KTKT áp dụng trong các lĩnh vực DVSNC, làm cơ sở ban hành giá DVSNC tính đủ chi phí và các quy định liên quan áp dụng trên địa bàn và trong phạm vi quản lý nhà nước được giao.

Bốn là, nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù hỗ trợ phù hợp các tổ chức, đơn vị, DN cung cấp sản phẩm, DVC, nhất là tại các địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Chú trọng hơn nữa đến việc khuyến khích ngày càng nhiều các đơn vị, tổ chức, DN đủ điều kiện tham gia và bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng theo quy định. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, số hóa các cơ sở dữ liệu kết nối cung cầu với những thông tin cập nhật, xác thực về sản phẩm, DVC và đơn vị cung ứng để dễ tra cứu, tìm kiếm và từng bước tạo nền tảng phát triển mạnh thị trường này trong tương lai. Chú trọng tăng cường hợp tác quốc tế, tranh thủ các nguồn viện trợ cho phát triển hệ thống quản lý và cung ứng các sản phẩm, DVC.

Năm là, tổ chức tốt hơn công tác đánh giá, kiểm tra, giám sát thực hiện, đặc biệt là về tính kịp thời và bảo đảm chất lượng sản phẩm, dịch vụ cung cấp; trong đó nghiên cứu, ứng dụng phù hợp triết lý quản lý chất lượng toàn bộ và mô hình quản lý chất lượng châu Âu trong cung ứng DVC. Hình thành các tổ chức đánh giá chất lượng chuyên nghiệp theo lĩnh vực; phát huy vai trò của các tổ chức xã hội, nghề nghiệp trong quản lý và tổ chức cung ứng sản phẩm, DVC.

Sáu là, làm tốt công tác thông tin tuyên truyền để các cấp, các ngành, cơ quan đơn vị, DN và người dân hiểu rõ, thấm nhuần sâu sắc và thực hiện hiệu quả Nghị định số 32/2019/NĐ-CP nói riêng và chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước nói chung về thúc đẩy XHH và nâng cao chất lượng sản phẩm, DVC; qua đó, góp phần tạo đồng thuận xã hội và huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân cả nước trong triển khai thực hiện. Chỉ có như vậy, chúng ta mới có  thể tạo được nền tảng vững chắc để phát triển thị trường cung cấp sản phẩm, DVC hiệu quả, góp phần thúc đẩy phát triển KT-XH trong thời gian tới.

(*) Bài viết thể hiện quan điểm, chính kiến của tác giả, không phản ánh quan điểm của cơ quan, tổ chức, đơn vị công tác.

Tài liệu tham khảo:

1. Các Luật: Luật Ngân sách nhà nước năm 2015, Luật Ðấu thầu năm 2013;

2. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 (Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Ðảng);

3. Chính phủ (2019), Nghị định số 32/2019/NÐ-CP ngày 10/4/2019 quy định giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường xuyên;

4. Chính phủ (2013), Nghị định số 130/2013/NÐ-CP về sản xuất cung ứng sản phẩm dịch vụ công;

5. Thủ tướng Chính phủ (2005), Quyết định 39/2005/QÐ-TTg ban hành quy chế đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước;

6. Bộ Tài chính (2020), Báo cáo tình hình triển khai Nghị định số 32/2019/NÐ-CP;

7. Lê Thị Hương (2019), Kinh nghiệm cung ứng dịch vụ công của một số nước trên thế giới và một số gợi mở đối với Việt Nam, Tạp chí Công Thương;

8. Nguyễn Huy Hoàng (2019), Vai trò của hợp tác công tư trong cung cấp dịch vụ công ở nước ta hiện nay, Tạp chí Công Thương;

9. Ðỗ Anh Ðức, Lê Hùng Sơn (2018), Xã hội hóa dịch vụ công ở Việt Nam; Tạp chí Cộng sản;

10. Nguyễn Tuấn Minh (2019), Kinh nghiệm quản lý chất lượng trong cung ứng dịch vụ công tại một số quốc gia trên thế giới, Tạp chí Quản lý Nhà nước;

11. Lê Hiền (2020), Xã hội hóa dịch vụ công ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, lsvn.vn.

(*) ThS. Nguyễn Lê Phương Anh - Vụ Tài chính hành chính sự nghiệp (Bộ Tài chính)

(**) Bài đăng trên Tạp chí Tài chính kỳ 2 tháng 4/2021