Chỉ số giá 6 tháng đầu năm 2016

Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2016 tăng 0,46% so với tháng trước, trong đó nhóm giao thông tăng cao nhất với 2,99%, chủ yếu do giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh tăng vào các thời điểm 20/5/2016 và 04/6/2016 (làm chỉ số giá nhóm nhiên liệu tăng 6,46%, tác động làm CPI chung tăng khoảng 0,27%); nhà ở vật liệu xây dựng tăng 0,55% do thời tiết nắng nóng nên nhu cầu sử dụng điện tăng cao làm cho chỉ số giá điện sinh hoạt tăng 1,27% (tác động làm CPI chung tăng khoảng 0,03%), giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,14%.

Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,21% (Lương thực giảm 0,24%; thực phẩm tăng 0,36%); văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,18%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,13%; nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép; thiết bị, đồ dùng gia đình và giáo dục cùng tăng 0,06%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,05%; riêng bưu chính viễn thông giảm 0,06%.

CPI tháng 6/2016 tăng 2,35% so với tháng 12/2015, bình quân mỗi tháng tăng 0,39%. CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2016 tăng 1,72% so với bình quân cùng kỳ năm 2015, tuy cao hơn so với mức tăng 0,86% của bình quân cùng kỳ năm trước, nhưng thấp hơn nhiều so với mức tăng CPI bình quân 6 tháng của một số năm gần đây[14]. CPI 6 tháng đầu năm tăng do một số nguyên nhân chủ yếu sau: (i) Giá dịch vụ y tế tăng theo Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài chính, đồng thời một số địa phương thực hiện lộ trình tăng học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ[15]; (ii) Trong 6 tháng đầu năm có nhiều kỳ nghỉ kéo dài nên nhu cầu mua sắm, vui chơi, giải trí tăng cao, giá các mặt hàng lương thực, thực phẩm tăng lên. Bên cạnh đó, do nhu cầu thu mua thịt lợn xuất khẩu sang Trung Quốc tăng và hạn hán, xâm nhập mặn ở các tỉnh Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long đã ảnh hưởng đến giá lương thực, thực phẩm trong nước[16].

Bên cạnh các nguyên nhân làm tăng CPI trong 6 tháng đầu năm, có một số yếu tố góp phần kiềm chế CPI: (i) Mặc dù trong quý I nhu cầu hàng hóa phục vụ Tết Nguyên đán tăng, nhưng do giá xăng dầu và giá cước vận tải giảm, nguồn cung hàng hóa dồi dào nên giá cả không biến động lớn; (ii) Giá các mặt hàng thiết yếu trên thế giới tương đối ổn định, một số mặt hàng giảm mạnh trong quý I như giá nhiên liệu, chất đốt, sắt thép. Giá xăng dầu giảm 21,07%, kéo theo chỉ số giá nhóm giao thông 6 tháng đầu năm 2016 giảm 9,37% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp mức giảm CPI chung 0,85%; (iii) Các cấp, các ngành tăng cường thực hiện tốt công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, đồng thời thực hiện các chính sách bình ổn giá một số mặt hàng thiết yếu, ổn định giá cả thị trường trong dịp Tết Nguyên đán.

Lạm phát cơ bản tháng 6/2016 tăng 0,13% so với tháng trước và tăng 1,88% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 6 tháng đầu năm 2016 tăng 1,80% so với bình quân cùng kỳ năm 2015.

Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá vàng tháng 6/2016 giảm 0,01% so với tháng trước; tăng 9,67% so với tháng 12/2015; tăng 4,04% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 6/2016 tăng 0,09% so với tháng trước; giảm 0,80% so với tháng 12/2015 và tăng 2,52% so với cùng kỳ năm 2015.

Chỉ số giá sản xuất

Chỉ số giá sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản quý II năm nay tăng 2,17% so với quý trước và tăng 0,90% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất hàng nông nghiệp tăng 2,42% và tăng 1,35%; hàng lâm nghiệp tăng 0,44% và tăng 2,83%; hàng thủy sản tăng 1,56% và giảm 0,91%. Tính chung 6 tháng đầu năm, chỉ số giá sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 0,46% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá sản xuất hàng công nghiệp quý II tăng 0,07% so với quý trước và giảm 1,29% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng giảm 2,39% và giảm 10,89%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,37% và giảm 0,25%; điện và phân phối điện tăng 0,39% và tăng 0,99%; nước sạch và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,35% và tăng 1,93%. Tính chung 6 tháng đầu năm, chỉ số giá sản xuất hàng công nghiệp giảm 1,15% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất quý II năm nay tăng 0,06% so với quý trước và giảm 1,59% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu sử dụng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 0,94% và giảm 4,61%; sử dụng cho sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,09% và giảm 1,16%; sử dụng cho xây dựng tăng 1,61% và giảm 6,09%. Chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu của một số ngành như sau: Sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 0,65% so với quý trước và giảm 0,05% so với cùng kỳ năm trước; sản phẩm khai khoáng tăng 0,93% và tăng 1,78%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,10% và giảm 2,24%; điện, hơi nước tăng 0,70% và tăng 6,71%; nước tự nhiên khai thác tăng 0,60% và tăng 5,02%; dịch vụ xây dựng chuyên dụng tăng 1,01% và tăng 3,52%; dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 0,15% và tăng 1,10%. Tính chung 6 tháng đầu năm, chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất giảm 2,12% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá cước vận tải kho bãi quý II giảm 1,15% so với quý trước và giảm 2,35% so với cùng kỳ năm trước, trong đó giá cước vận tải hành khách giảm 1,99% và giảm 1,40%; giá cước vận tải hàng hóa giảm 0,80% và giảm 4,62%; giá cước dịch vụ kho bãi và hỗ trợ vận tải giảm 0,10% và tăng 3,06%. Chỉ số giá cước vận tải các ngành đường trong quý II như sau: Giá cước ngành đường sắt giảm 12,86% so với quý trước và giảm 5,28% so với cùng kỳ năm trước; giá cước vận tải đường bộ và xe buýt giảm 2,09% và giảm 3,27%; đường thủy tăng 0,22% và giảm 5,61%; dịch vụ kho bãi và các dịch vụ hỗ trợ vận tải giảm 0,10% và tăng 3,06%. Tính chung 6 tháng đầu năm, chỉ số giá cước vận tải kho bãi giảm 2,05% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá sản xuất dịch vụ quý II năm 2016 tăng 0,80% so với quý trước và tăng 2,12% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất dịch vụ của một số ngành như sau: Ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 0,78% và tăng 3,23%; thông tin và truyền thông tăng 0,01%và tăng 0,18%; giáo dục và đào tạo tăng 0,31% và tăng 6,03%; y tế và trợ giúp xã hội tăng 16,26%và tăng 27,08%. Tính chung 6 tháng đầu năm, chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 1,98% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa

Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá quý II năm nay tăng 0,90% so với quý trước và giảm 2,88% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm giảm 1,72% và giảm 6,44%; nhóm nhiên liệu tăng 13,38% và giảm 26,58%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 0,45% và tăng 1,28%. Chỉ số giá xuất khẩu của một số mặt hàng tăng/giảm so với các kỳ tương ứng như sau: Rau quả giảm 1,49% và giảm 8,50%; cà phê giảm 4,69% và giảm 19,51%; dầu thô tăng 15,61% và giảm 27,83%; cao su tăng 2,54% và giảm 18,00%; sắt, thép giảm 3,18% và giảm 24,03%. Tính chung 6 tháng đầu năm, chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá giảm 3,85% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá quý II tăng 0,26% so với quý trước và giảm 6,66% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nhập khẩu của nhóm nông sản, thực phẩm giảm 3,03% và giảm 8,03%; nhóm nhiên liệu tăng 9,27% và giảm 29,42%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác giảm 0,12% và giảm 4,46%. Chỉ số giá nhập khẩu của một số mặt hàng tăng/giảm so với quý trước và cùng kỳ năm trước như sau: Khí đốt hóa lỏng tăng 9,32% và giảm 8,05%; xăng dầu tăng 9,26% và giảm 31,1%; cao su tăng 0,84% và giảm 9,36%; gỗ và sản phẩm từ gỗ tăng 2,48% và giảm 6,07%; máy vi tính, sản phẩm điện tử, điện thoại và linh kiện tăng 0,78% và giảm 2,77%. Tính chung 6 tháng đầu năm, chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá giảm 7,77% so với cùng kỳ năm trước.

Tỷ giá thương mại hàng hóa[17] quý II năm nay tăng 0,64% so với quý trước và tăng 4,06% so với cùng kỳ năm trước, trong đó tỷ giá thương mại của xăng dầu các loại giảm 3,61% và giảm 1,08%; cao su tăng 1,69% và giảm 9,54%; máy vi tính, sản phẩm điện tử, điện thoại và linh kiện tăng 2,01% và tăng 5,43%; dây điện và dây cáp điện tăng 1,15% và tăng 4,02%. Tính chung 6 tháng đầu năm, tỷ giá thương mại hàng hoá tăng 4,25% so với cùng kỳ năm 2015.


Theo gso.gov.vn

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục