Kinh tế - tài chính trong nước tuần từ 26-31/3/2018

KINH TẾ - TÀI CHÍNH VIỆT NAM

Nội dung

Tổng cung

Tăng trưởng

Dự kiến tăng trưởng GDP quý 1/2018 cao nhất trong 10 năm khi đạt trên 7%. Trong đó, công nghiệp - xây dựng là động lực cho tăng trưởng kinh tế với mức tăng 11%. Ngành nông nghiệp tiếp tục duy trì tăng trưởng khi tận dụng được những thuận lợi từ thời tiết và quá trình tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp, thủy sản có nhiều khởi sắc cả về khai thác và môi trường.

Lĩnh vực dịch vụ diễn biến sôi động, sức mua tăng mạnh nhờ kinh tế vĩ mô ổn định , trong đó chi tiêu cá nhân ngày càng tăng. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân được kiểm soát ở mức 2,82%. Cả nước xuất siêu 1,1 tỷ USD. Tổng thu cân đối ngân sách đạt khoảng 17,5% dự toán. Chi cân đối ngân sách là 14,8% dự toán. (Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày 27/3)

IMF ngày 29/3 dự báo triển vọng kinh tế năm 2018 của Việt Nam tiếp tục khả quan, kinh tế có thể tăng trưởng 6,6%, lạm phát dưới 4% nhờ môi trường kinh doanh được cải thiện, sự đóng góp của khối FDI ngày càng tăng...

Bên cạnh đó, Chính phủ Việt Nam cần hiện đại hóa khuôn khổ chính sách tiền tệ, cải thiện công tác quản lý rủi ro khu vực tài chính, hiện đại hóa thể chế và xây dựng năng lực giúp “cởi trói” cho khu vực tư nhân phát triển… (Theo báo Chính phủ ngày 29/3)

Sản xuất công nghiệp

2 tháng đầu năm 2018, cả nước tiêu thụ 593.000 m3 xăng E5 RON 92, chiếm 42% tổng lượng xăng các loại phân phối trên thị trường và tăng hơn 30% so với năm 2017. Hiện Thái Nguyên có tỷ trọng tiêu thụ xăng E5 cao nhất với hơn 80%, tiếp đến là Hà Nội và Hải Phòng, Lào Cai… với sản lượng tiêu thụ khoảng 70%.

Từ ngày 01/01/2018, cả nước đã đồng loạt kinh doanh, sử dụng xăng E5, đồng thời áp dụng tiêu chuẩn khí thải mức IV. Xăng E5 là nhiên liệu chất lượng cao, hàm lượng lưu huỳnh thấp hơn nhiều so với nhiên liệu tiêu chuẩn khí thải mức II. (Theo Bộ Công Thương ngày 27/3)

Quỹ bình ổn - Giá xăng dầu

Số dư Quỹ bình ổn (BOG) tính đến trước 15h ngày 23/3 tại Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) là 2.750 tỷ đồng, giảm 10 tỷ đồng so với kỳ công bố gần nhất ngày 08/3 (2.760 tỷ đồng).

Đây là lần thứ 79 xăng dầu được điều hành theo Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 03/9/2014 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/11/2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành Nghị định 83. (Theo Petrolimex ngày 23/3)

Doanh nghiệp

Trong tháng 3/2018, số doanh nghiệp được thành lập mới là 8.082 doanh nghiệp với số vốn đăng ký 81.156 tỷ đồng, tăng 2,8% về số doanh nghiệp và giảm 18% về số vốn đăng ký. Tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp đạt 10 tỷ đồng, giảm 20,3%.

Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trên cả nước là 1.801 doanh nghiệp, giảm 22,3% so với tháng 02/2018. Lũy kế 3 tháng đầu năm 2018, tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động của cả nước là 35.234 doanh nghiệp, trong đó có 26.785 doanh nghiệp thành lập mới và 8.449 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động.

Tổng số vốn đăng ký vào nền kinh tế trong 3 tháng qua là 763.964 tỷ đồng, bao gồm: Số vốn đăng ký của doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 278.489 tỷ đồng và số vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn là 485.475 tỷ đồng với 7.893 lượt doanh nghiệp đăng ký bổ sung vốn.

(Theo Cục Quản lý đăng ký kinh doanh - Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày 27/3)

Theo kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý 1/2018 của Tổng cục Thống kê ngày 29/3, có 33% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất - kinh doanh quý 1/2018 tốt hơn quý 4/2017; 24,6% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 42,4% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất - kinh doanh ổn định.

Dự kiến quý 2 so với quý 1, có 55,7% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 10,4% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 33,9% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất - kinh doanh sẽ ổn định. (Theo Tổng cục Thống kê ngày 29/3)

Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) về những quốc gia có điều kiện khởi nghiệp tại châu Á - Thái Bình Dương do trang tin Fintech của Singapore công bố cho thấy, mặc dù Việt Nam nằm trong nhóm những quốc gia có tỷ lệ người thất nghiệp thấp trong khu vực châu Á (chỉ 2,3%, cao nhất là Ấn Độ với 6,1%) nhưng lại có GDP bình quân đầu người xếp hàng thấp nhất với 2.171 USD. Số lượng người trưởng thành có tài khoản ngân hàng của Việt Nam cũng chỉ ở mức 39,5%, trong khi Trung Quốc là 97,1% mặc dù tỷ lệ thất nghiệp cao hơn Việt Nam (3,9%).

Đối với chi phí liên quan đến hoạt động kinh doanh (gồm chi phí vay, thuế suất và tiền lương), Việt Nam đứng thứ 4 sau Đài Loan, Ấn Độ, Indonesia. Với tiêu chí về môi trường kinh doanh, Việt Nam đạt điểm số khá thấp và phải đứng gần cuối trong số 12 quốc gia.

Theo đó, với mức độ dễ dàng trong việc khởi nghiệp, thứ hạng của Việt Nam là 9/12, cơ sở hạ tầng là 11/12. Với tiêu chí về chất lượng lao động, Việt Nam đứng cuối bảng khi tỷ lệ tốt nghiệp đại học Việt Nam chỉ đạt 6,7% (Singapore là 42,9%).

(Theo Tạp chí Nhịp cầu đầu tư ngày 27/3)

Năm 2017, doanh số từ các hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A) trên thị trường tài chính Việt Nam đạt 5 tỷ USD. Dự kiến năm 2018 có thể tăng lên 10 tỷ USD trong bối cảnh cung - cầu thị trường M&A đều ở mức cao nhất trong lịch sử.

Sức cầu đầu tư vào thị trường tài chính Việt Nam từ Hàn Quốc và Nhật Bản sẽ tăng mạnh trong năm 2018, trong khi Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, Luật Chứng khoán được Quốc hội xem xét sửa đổi cuối năm 2018 dự kiến sẽ tiếp tục mở “rộng cửa” cho các dòng vốn chuyên nghiệp. (Theo Hiệp hội Ðầu tư nước ngoài Việt Nam ngày 26/3)

Tổng cầu

Đầu tư

Tính đến ngày 20/3/2018, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 19/21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất với 185,9 tỷ USD, chiếm 58,1% tổng vốn đầu tư.

Đồng thời đã có 126 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam, trong đó đứng đầu là Hàn Quốc với tổng vốn đăng ký 59 tỷ USD (chiếm 18,4% tổng vốn đầu tư). Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được khoảng 3,88 tỷ USD, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm 2017. (Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày 27/3)

Tính đến ngày 20/3/2018:

- Cả nước có 618 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 2,12 tỷ USD, bằng 72,7% so với cùng kỳ năm 2017; có 199 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm 1,79 tỷ USD, bằng 45,4%. Vốn đầu tư đăng ký cấp mới trong quý 1/2018 giảm so với cùng kỳ năm 2017 do trong quý 1/2017 có Dự án Samsung Display Việt Nam được điều chỉnh vốn tăng thêm 2,5 tỷ USD.

- Cả nước có 1.285 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị vốn góp là 1,89 tỷ USD, tăng 121,6% so với cùng kỳ năm 2017. Tính chung trong quý 1/2018, tổng vốn đăng ký cấp mới, tăng thêm và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài là 5,8 tỷ USD, bằng 75,2% so với cùng kỳ năm 2017.

(Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày 27/3)

Niềm tin tiêu dùng

Chỉ số niềm tin người tiêu dùng Việt Nam quý 4/2017 đạt 115 điểm, giảm 1 điểm so với quý 3/2017, nhưng vẫn ở mức cao trong năm 2017, giúp Việt Nam tiếp tục xếp thứ 7 trong số các quốc gia lạc quan nhất toàn cầu.

Nguyên nhân là do tốc độ tăng trưởng khả quan của nền kinh tế ở khắp các lĩnh vực, dấu hiệu tích cực của dòng vốn đầu tư nước ngoài, sự tăng trưởng của thu nhập bình quân, những chính sách hỗ trợ của Chính phủ, niềm tin của người tiêu dùng đối với khả năng tài chính cá nhân cũng như xu hướng sẵn sàng chi tiêu của họ trong suốt nhiều năm qua. (Theo kết quả Khảo sát Niềm tin người tiêu dùng quý 4/2017 được The Conference Board và Nielsen, một công ty đo lường hiệu quả kinh doanh toàn cầu công bố ngày 28/3)

Ngân sách
nhà nước

Thu ngân sách của cơ quan hải quan từ ngày 01 - 27/3 đạt hơn 20.000 tỷ đồng. Lũy kế từ ngày 01/01 - 27/3 đạt 64.450 tỷ đồng, bằng 22,8% dự toán, tăng 1,12% so với cùng kỳ năm 2017.

Tổng thu ngân sách nhà nước 3 tháng đầu năm 2018 ước đạt khoảng 67.400 tỷ đồng, bằng 23,82% dự toán và giảm 3,06% so với cùng kỳ năm 2017 (3 tháng đầu năm 2017, số thu đạt 69.530 tỷ đồng). (Theo Tổng cục Hải quan ngày 28/3)

Xuất nhập khẩu

Trong quý 1/2018:

- Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt khoảng 54,31 tỷ USD, tăng 22% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 14,97 tỷ USD, tăng 18,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài kể cả dầu thô đạt 39,34 tỷ USD, tăng 23,2%.

- Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt khoảng 53,01 tỷ USD, tăng 13,6% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 21,26 tỷ USD, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 31,75 tỷ USD.

Như vậy, cán cân thương mại hàng hóa tính chung trong quý 1/2018 xuất siêu 1,31 tỷ USD, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 6,29 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư đầu tư nước ngoài kể cả dầu thô xuất siêu 7,6 tỷ USD.

(Theo Tổng cục Thống kê ngày 29/3)

15 ngày đầu tháng 3/2018 (01 - 15/3/2018):

- Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu của cả nước đạt 9,96 tỷ USD, tăng 94,1% (4,83 tỷ USD) so với 15 ngày cuối tháng 02/2018 ở một số nhóm hàng như: Điện thoại các loại và linh kiện (tăng 70,7%); hàng dệt may tăng 2,7 lần; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 53,6%; giầy dép các loại tăng 1,2 lần; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác tăng 61,9%… Tính đến hết ngày 15/3/2018, kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt 44,42 tỷ USD, tăng 26,5% (9,32 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2017.

- Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu của cả nước đạt 9,1 tỷ USD, tăng 42,2% (2,7 tỷ USD) so với 15 ngày cuối tháng 02/2018 ở một số nhóm hàng như: Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác tăng 53,1%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 22,9%; chất dẻo nguyên liệu tăng 74,1%; xăng dầu các loại tăng 37,4%; kim loại thường khác tăng 58,1%; điện thoại các loại và linh kiện tăng 32%… Tính đến hết ngày 15/3/2018, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa cả nước đạt 43,03 tỷ USD, tăng 16,2% (5,99 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2017.

(Theo Tổng cục Hải quan ngày 26/3)

Kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản tháng 3/2018 đạt khoảng 3,1 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu 3 tháng đầu năm đạt 8,7 tỷ USD, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm 2017.

Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính đạt khoảng 4,6 tỷ USD, tăng 9% so với cùng kỳ năm 2017; thủy sản chính đạt khoảng 1,7 tỷ USD, tăng 11,5%; các mặt hàng lâm sản chính đạt khoảng gần 2 tỷ USD, tăng 6,6%. (Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ngày 27/3)

Giá trị nhập khẩu mặt hàng rau quả tháng 3/2018 đạt khoảng 92 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu 3 tháng đầu năm 2018 đạt 340 triệu USD, tăng 47,7% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, mặt hàng rau đạt khoảng 76 triệu USD, tăng 36,7% so với cùng kỳ 2017 và mặt hàng quả đạt 258 triệu USD, tăng 49,9% so với cùng kỳ năm 2017. (Theo Hiệp hội Rau quả Việt Nam ngày 27/3)

Trong 5 năm qua, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Cuba có tiến triển tích cực. Kim ngạch hai chiều luôn đạt tăng trưởng 10 - 15% (duy trì trên 200 triệu USD) so với cùng kỳ năm trước đó, cao hơn so với kim ngạch song phương giữa Cuba và một số quốc gia có nền kinh tế lớn như Nga, Nhật Bản… Trong đó, Việt Nam là đối tác lớn thứ 2 của Cuba tại châu Á.

Hai quốc gia hướng đến mục tiêu đạt kim ngạch trao đổi thương mại hai chiều Việt Nam - Cuba là 500 triệu USD vào năm 2022, thông qua các giải pháp thúc đẩy kinh doanh và đầu tư. (Theo Bộ Công Thương ngày 29/3)

Trong năm 2017, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) của Hàn Quốc xuất khẩu lượng hàng trị giá gần 13 tỷ USD sang Việt Nam, tăng hơn 33% so với năm 2016. Việt Nam là thị trường ngoài nước lớn thứ hai, chỉ đứng sau Trung Quốc, của các SME Hàn Quốc. Các mặt hàng xuất khẩu chính sang Việt Nam bao gồm thiết bị viễn thông không dây, hàng may mặc và sản phẩm nhựa. (Theo Viện Doanh nghiệp nhỏ Hàn Quốc - KOSBI ngày 25/3)

Cân đối vĩ mô

Lạm phát

CPI tháng 3/2018 giảm 0,27% so với tháng 2, nhưng lại tăng 2,266% so với cùng kỳ năm 2017; tăng 0,97% so với tháng 12/2017. CPI bình quân quý 1/2018 tăng 2,82% so với cùng kỳ năm 2017.

Nguyên nhân là do nhu cầu gia tăng tiêu dùng trong dịp Tết và lễ hội đầu năm, giá cả các mặt hàng thiết yếu thế giới tăng trở lại như nhiên liệu, chất đốt, sắt thép... gây áp lực lên mặt bằng giá trong nước; điều chỉnh một số mặt hàng thiết yếu trong nước tại một số tỉnh. Dự kiến CPI bình quân cả năm 2018 sẽ tăng 3,41 - 3,55% hoặc 3,9%, dưới chỉ tiêu Quốc hội giao (4%). (Theo Cục Quản lý giá - Bộ Tài chính ngày 27/3)

Lao động

Tính đến quý 1/2018, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động đạt khoảng 2,2%; trong đó khu vực thành thị là 3,13%; khu vực nông thôn là 1,73%. Riêng về tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (15 - 24 tuổi) đạt khoảng 7,25%, trong đó khu vực thành thị 11,47%; khu vực nông thôn 5,63%.

Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn nhưng khi xét về thiếu việc làm hoặc có việc làm phi chính thức thì tỷ lệ ở nông thôn lại cao hơn so với ở thành thị.

Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi đạt khoảng 1,48%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 0,55%; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 1,94% (tỷ lệ thiếu việc làm của quý 1/2017 tương ứng là 1,82%; 0,83%; 2,31%).

Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản chưa có sự cải thiện nhiều so với cùng kỳ, đạt khoảng 56,8%, trong đó khu vực thành thị là 48,3%; khu vực nông thôn là 63,8% (tỷ lệ này vào quý 1/2017 tương ứng là 56,9%; 48,8%; 64%).

(Theo Tổng cục Thống kê ngày 29/3)

Thương mại điện tử

Năm 2017, thương mại điện tử của Việt Nam tăng trưởng trên 25%, dự báo có thể tiếp tục duy trì trong giai đoạn 2018 - 2020. Đối với lĩnh vực bán lẻ trực tuyến, doanh thu tăng trưởng khoảng 35%. Với lĩnh vực thanh toán, năm 2017, tăng trưởng số lượng giao dịch trực tuyến thẻ nội địa tăng khoảng 50% so với năm 2016, trong khi giá trị giao dịch tăng trưởng 75%.

Trong lĩnh vực tiếp thị trực tuyến, một số công ty tiếp thị liên kết có tốc độ tăng trưởng năm 2017 đạt khoảng 100 - 200%. Trong lĩnh vực du lịch, tỷ lệ đặt phòng qua đại lý du lịch trực tuyến tăng mạnh, đạt 30%. Nếu kết hợp với đà tăng trưởng 2 chữ số của doanh thu du lịch thì có thể tốc độ tăng trưởng doanh thu du lịch trực tuyến đạt trên 50%.

(Theo Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam - VECOM và Công ty cổ phần Thanh toán quốc gia Việt Nam - NAPAS ngày 28/3)

Lãi suất

Trong quý 1/2018, lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam phổ biến ở mức 0,6 - 1%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,3 - 5,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,3 - 6,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn trên 12 tháng ở mức 6,5 - 7,3%/năm.

Mặt bằng lãi suất cho vay phổ biến của các lĩnh vực ưu tiên khoảng 6 - 6,5%/năm. Lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh thông thường là 6,8 - 9%/năm đối với ngắn hạn; 9,3 - 11%/năm đối với trung và dài hạn. Đối với nhóm khách hàng có tình hình tài chính minh bạch, lãi suất cho vay ngắn hạn khoảng 4 - 5%/năm.

(Theo Tổng cục Thống kê ngày 29/3)

Giá vàng

Trong tuần qua, giá vàng có 1 ngày tăng giá, 5 ngày giảm giá. Trong phiên giao dịch ngày 31/3, so với ngày 30/3, giá vàng miếng SJC được niêm yết tại một số doanh nghiệp kinh doanh vàng:

- Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn: 36,64 - 36,82 triệu đồng/lượng, tăng 50 nghìn đồng/lượng ở chiều mua vào và 70 nghìn đồng/lượng ở chiều bán ra.

- Doji và PNJ: 36,68 - 36,78 triệu đồng/lượng, tăng 80 nghìn đồng/lượng ở chiều mua vào và 90 nghìn đồng/lượng ở chiều bán ra.

Tỷ giá

Tính chung tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng 3 đồng so với tuần trước với 2 ngày tăng, 3 ngày giảm và 1 ngày không thay đổi. Trong phiên giao dịch ngày 31/3, tỷ giá trung tâm là 22.458 VND/USD không thay đổi so với tỷ giá ngày 30/3; tỷ giá USD tại một số ngân hàng thương mại giảm so với ngày 30/3 như sau:

- Vietcombank: 22.750 - 22.820 VND/USD, giảm 15 đồng.

- BIDV: 22.750 - 22.820 VND/USD, giảm 20 đồng.

- Viettinbank: 22.735 - 22.815 VND/USD, giảm 16 đồng.

Tín dụng

Tính đến ngày 20/3/2018:

- Tổng phương tiện thanh toán tăng 3,23% so với cuối năm 2017. Đây là mức tăng cao nhất trong 4 năm trở lại đây, sau mức 3,56% của cùng kỳ năm 2014 (cùng kỳ năm 2017 mức tăng 2,88%, cùng kỳ năm 2016 tăng 3,08%, cùng kỳ năm 2015 tăng 2,09%).

- Huy động vốn của các ngân hàng thương mại tăng 2,2% (cùng kỳ năm 2017 tăng 2,43%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 2,23% (cùng kỳ năm 2017 tăng 2,81%).

(Theo Tổng cục Thống kê ngày 29/3)

Thị trường tài sản

Cổ phiếu

Trong tuần từ 26/3 - 30/3/2018, thị trường chứng khoán tăng điểm.Tính chung cả tuần:

- VN-Index có 4 ngày tăng điểm và 1 ngày giảm điểm. Chốt tuần, VN-Index tăng 7,43 điểm (0,64%) lên 1.174,46 điểm. Tổng khối lượng giao dịch bình quân đạt209,63 triệu đơn vị/ngày, tổng giá trị giao dịch đạt 6.650,88 tỷ đồng/ngày.

- HNX-Index có 2 ngày tăng điểm và 3 ngày giảm điểm. Chốt tuần, HNX-Index tăng 0,58 điểm (0,44%) lên 132,46 điểm. Tổng khối lượng giao dịch bình quân đạt50,4triệu đơn vị/ngày, tổng giá trị giao dịch đạt 884,74 tỷ đồng/ngày.

- Upcom-Index có 4 ngày tăng điểm và 1 ngày giảm điểm. Chốt tuần, Upcom-Index tăng 0,46 điểm (0,76%) lên 60,66 điểm. Tổng khối lượng giao dịch bình quân đạt26,32triệu đơn vị/ngày, tổng giá trị giao dịch bình quân đạt 493,35 tỷ đồng/ngày.

Trong tuần qua, nhà đầu tư nước ngoài đã mua ròng 28,41 triệu đơn vị, trị giá 425,22 tỷ đồng.

- HOSE: Khối ngoại thực hiện 2 ngày mua ròng và 3 phiên bán ròng. Tổng cộng khối ngoại bán ròng 5,33 triệu đơn vị, trị giá 189 tỷ đồng (trong khi tuần trước bán ròng hơn 19,31 triệu đơn vị, trị giá 342 tỷ đồng).

- HNX: Khối ngoại thực hiện 3 ngày bán ròng và 2 ngày mua ròng. Tổng cộng khối ngoại bán ròng 5,84 triệu đơn vị, trị giá 116 tỷ đồng (trong khi tuần trước mua ròng 2,33 triệu đơn vị, trị giá 70,46 tỷ đồng).

- UPCoM: Khối ngoại thực hiện 5 ngày mua ròng liên tiếp, với khối lượng 39,58 triệu đơn vị, trị giá 730,22 tỷ đồng (trong khi tuần trước mua ròng 3,71 triệu đơn vị, trị giá 107,64 tỷ đồng).

Bất động sản

Lượng giao dịch bất động sản trong quý 1/2018 giảm nhẹ so với quý 4/2017, nhưng vẫn cao hơn so với cùng kỳ năm 2017. Tại Hà Nội có khoảng 4.000 giao dịch thành công, giảm khoảng 5,9% so với quý 4/2017; tại thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 4.500 giao dịch thành công, giảm khoảng 7,14%.

Về giá cả, tại Hà Nội, giá căn hộ chung cư quý 1/2018 tăng khoảng 0,19% so với quý 4/2017; tại thành phố Hồ Chí Minh tăng khoảng 1,24%. (Theo Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản và Viện Kinh tế xây dựng - Bộ Xây dựng ngày 28/3)

Đàm phán - Ký kết

Tính đến tháng 12/2017, các dự án hợp tác trong tiểu vùng Mekong mở rộng tại Việt Nam có quy mô đạt khoảng 6 tỷ USD, chiếm 30% tổng số khoản vay/trợ cấp của Sáng kiến hợp tác tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS).

Trong đó, lĩnh vực giao thông chiếm 87%; phát triển đô thị (7,9%), y tế và bảo trợ xã hội (2,7%), nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên (3,7%), công nghiệp và thương mại (0,4%), thuận lợi hóa thương mại và vận tải (0,2%). (Theo TTXVN ngày 28/3)


Trung tâm thông tin và dịch vụ tài chính

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục