Sản xuất công nghiệp 2017

Sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng cao trong tháng cuối năm. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Mười Hai ước tính tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 10%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,8%; sản xuất và phân phối điện tăng 9%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 15,7%.

Tính chung cả năm 2017, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,4% so với năm 2016 (quý I tăng 4%; quý II tăng 8,2%; quý III tăng 9,7%; quý IV ước tính tăng 14,4%), cao hơn nhiều so với mức tăng 7,4% của năm 2016.

Trong các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 14,5% (mức tăng trưởng cao nhất trong 6 năm trở lại đây), đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng chung toàn ngành công nghiệp với 10,2 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,4%, đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,7%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm sâu 7,1%, làm giảm 1,5 điểm phần trăm mức tăng chung.

Chỉ số sản xuất công nghiệp giai đoạn 2015-2017

Đơn vị tính: %

 

2015

2016

Ước tính 2017

Toàn ngành công nghiệp

109,8

107,4

109,4

Khai khoáng

107,1

93,2

92,9

Công nghiệp chế biến, chế tạo

110,5

111,3

114,5

Sản xuất và phân phối điện

111,4

111,5

109,4

Cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải

106,9

108,0

108,7

Xét theo công dụng của sản phẩm, các sản phẩm trung gian (phục vụ cho quá trình sản xuất tiếp theo) năm 2017 tăng 11% so với năm trước; sản phẩm phục vụ cho sử dụng cuối cùng tăng 8,6% (trong đó sản phẩm là tư liệu sản xuất tăng 7,3%; sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng của dân cư tăng 9,2%). Chỉ số sản xuất sản phẩm trung gian cao hơn chỉ số sản xuất sản phẩm phục vụ cho sử dụng cuối cùng cho thấy, sản phẩm trung gian trong sản xuất công nghiệp của nước ta đã có sự thay đổi theo hướng giảm dần phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu.

Trong năm 2017, một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng cao so với năm trước, đóng góp chủ yếu vào mức tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 32,7% (tập trung ở sản xuất điện thoại di động thông minh giá trị cao và linh kiện điện tử xuất khẩu toàn cầu), đặc biệt tăng mạnh trong quý IV với mức tăng 55,6% (quý I tăng 5,9%, quý II tăng 20,5%, quý III tăng 47%); sản xuất kim loại tăng 17,6%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 14,4%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 13,5%; dệt, sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy cùng tăng 10,2%.

Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 3,3%; sản xuất xe có động cơ tăng 0,2%; khai thác than cứng và than non bằng năm trước; sản xuất thuốc lá giảm 0,1%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 9,3%.

Trong năm 2017, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng cao so với năm trước: Sắt, thép thô tăng 31,6%; ti vi tăng 30,5%; thép cán tăng 17,5%; vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 12,6%; phân urê tăng 11,4%; phân hỗn hợp NPK và sữa bột cùng tăng 10,4%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm: Thức ăn cho gia súc tăng 3,6%; thuốc lá điếu tăng 2%; giày, dép da tăng 1,5%; than đá giảm 0,5%; ô tô giảm 6,6%; khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 7,7%; dầu thô khai thác giảm 10,8%; khí hóa lỏng (LPG) giảm 14,8%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2017 so với năm 2016 của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Bắc Ninh tăng 37,2%; Hải Phòng tăng 21,6%; Thái Nguyên tăng 18,1%; Bình Dương tăng 11%; Vĩnh Phúc tăng 10,9%; Hải Dương tăng 10,5%; Đà Nẵng tăng 9,5%; Đồng Nai tăng 8,7%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 7,9%; Cần Thơ tăng 7,3%; Hà Nội tăng 7,1%; Quảng Ninh tăng 3,7%; Quảng Nam giảm 2,3%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 3,1%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 11/2017 tăng 1% so với tháng trước và tăng 18,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,6% so với cùng kỳ năm 2016 (cùng kỳ năm trước tăng 8,4%), trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: Dệt tăng 28,7%; sản xuất kim loại tăng 27,6%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 21,7%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 20,2%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 17,6%; sản xuất trang phục tăng 16,7%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp: Sản xuất thiết bị điện tăng 7,7%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 6,3%; sản xuất xe có động cơ tăng 4%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 1/12/2017 tăng 8% so với cùng thời điểm năm trước, là mức tồn kho thấp nhất trong nhiều năm qua, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Sản xuất trang phục tăng 2,3%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 1,9%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 1,1%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan bằng cùng kỳ năm trước; sản xuất thuốc lá giảm 0,1%; sản xuất kim loại giảm 2,7%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 9,4%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 30,2%.

Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn mức tăng chung: Sản xuất đồ uống tăng 49,1%; sản xuất xe có động cơ tăng 35,2%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 29,7%; sản xuất thiết bị điện tăng 20,7%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 18,2%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 16,2%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân 11 tháng năm 2017 là 65,9% (cùng kỳ năm trước là 66,1%), trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 112,5%; sản xuất xe có động cơ 84,8%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 84,7%; sản xuất, chế biến thực phẩm 74,9%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác 74,2%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/12/2017 tăng 5,1% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 0,7%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 3,9%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 6,9%. Tại thời điểm trên, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 1,1% so với cùng thời điểm năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,4%; ngành sản xuất, phân phối điện giảm 1%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 0,7%.

Lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/12/2017 so với cùng thời điểm năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Bắc Ninh tăng 21,6%; Đà Nẵng tăng 13,5%; Vĩnh Phúc tăng 12,8%; Hải Phòng tăng 9,9%; Thái Nguyên tăng 8,6%; Hải Dương tăng 8,1%; Cần Thơ tăng 5,5%; Đồng Nai tăng 4,8%; Hà Nội tăng 3,6%; Quảng Nam và Bình Dương cùng tăng 3,5%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 0,7%; Quảng Ninh giảm 0,9%; Bà Rịa-Vũng Tàu giảm 3,2%.

Nhìn chung, trong năm 2017 mặc dù ngành khai khoáng giảm sâu so với năm trước nhưng sản xuất công nghiệp vẫn tăng trưởng tích cực nhờ đóng góp của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mức tăng trưởng cao trong nhiều năm trở lại đây; tình hình tiêu thụ sản phẩm thuận lợi, tồn kho ở mức hợp lý và an toàn. Tuy nhiên, tăng trưởng công nghiệp nước ta vẫn chủ yếu dựa vào tăng trưởng về số lượng doanh nghiệp, vốn đầu tư và lao động, trong khi năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn hạn chế.

Theo Tổng cục Thống kê

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục