Sản xuất công nghiệp 4 tháng đầu năm 2017

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Tư ước tính tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 5,6%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,1%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,9%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,5%.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2017, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều mức tăng của cùng kỳ năm 2016, nhưng cao hơn mức tăng 4,2% của quý I năm nay. Trong các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,2%, đóng góp 6,5 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,3%, đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,3%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm 9,7%, làm giảm 2,1 điểm phần trăm mức tăng chung.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 4 tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 47,5%; sản xuất các sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 13,3%; dệt tăng 12,5%; sản xuất xe có động cơ tăng 10,9%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 10,7%; sản xuất đồ uống tăng 10,3%. 

Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 6,4%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 4,5%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 4,2%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 3%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 1,5%; khai thác than cứng và than non tăng 0,8%; sản xuất thuốc lá tăng 0,5%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 12,9%.

Trong 4 tháng đầu năm, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Ti vi tăng 42%; sắt thép thô tăng 30,1%; thép cán tăng 29,3%; phân ure tăng 23,9%; thức ăn cho gia súc và sơn hóa học cùng tăng 13,8%; dầu gội, dầu xả tăng 10,9%; bột ngọt tăng 10,6%; sữa tươi tăng 10,3%; bia tăng 10,1%. 

Một số sản phẩm có mức tăng thấp hoặc giảm: Thủy hải sản chế biến tăng 7,8%; nước máy thương phẩm tăng 7%; xi măng tăng 6,8%; thức ăn cho thủy sản tăng 5,3%; xe máy tăng 4,1%; than đá tăng 0,8%; điện thoại di động giảm 1,6%; khí đốt thiên nhiên giảm 8,4%; dầu thô khai thác giảm 14,2%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 4 tháng đầu năm nay so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Hải Phòng tăng 20,4%; Thái Nguyên tăng 17,7%; Đà Nẵng tăng 12,1%; Hải Dương tăng 9%; Bình Dương tăng 8%; Đồng Nai tăng 7,4%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 7,1%; Hà Nội tăng 5,9%; Quảng Nam tăng 5,3%; Cần Thơ tăng 3,7%; Vĩnh Phúc tăng 2,6%; Quảng Ninh tăng 2,2%; Bắc Ninh tăng 1,6%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 4,8%.

 Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3/2017 tăng 15,1% so với tháng trước và tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 3 tháng đầu năm nay, chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2016 tăng 10,2%), trong đó các ngành có chỉ số tiêu thụ tăng khá: Sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 15,5%; sản xuất xe có động cơ tăng 13,4%; sản xuất kim loại tăng 9,5%; sản xuất thiết bị điện tăng 9,4%. 

Một số ngành có chỉ số tiêu thụ 3 tháng tăng thấp hoặc giảm: Dệt tăng 6,9%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 5,4%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 4,7%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 2,4%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 0,5%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 3,8%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thời điểm 01/4/2017 tăng 12,7% so với cùng thời điểm năm 2016 (cùng kỳ năm trước tăng 8,9%), trong đó một số ngành tăng thấp hoặc giảm: Dệt tăng 7,2%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 4,5%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 3,8%; sản xuất trang phục giảm 6,4%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 23,5%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 50,2%.

Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn mức tăng chung: Sản xuất xe có động cơ tăng 158,9%, chủ yếu do Công ty ô tô Trường Hải giảm mạnh sản lượng tiêu thụ; sản xuất kim loại tăng 54,5%; sản xuất đồ uống tăng 45,4%; sản xuất các sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại (chủ yếu là xi măng) tăng 39,7%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 32,8%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 29,9%; sản xuất các sản phẩm từ cao su và plastic tăng 23%; sản xuất thiết bị điện tăng 14,9%.

Tỷ lệ tồn kho bình quân toàn ngành chế biến, chế tạo 3 tháng đầu năm là 71,9%, trong đó một số ngành tỷ lệ tồn kho cao: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 111,4%; sản xuất các sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) 107,3%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất 98,2%; sản xuất, chế biến thực phẩm 86,3%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/4/2017 tăng 2,4% so với cùng thời điểm năm trước (cùng kỳ năm 2016 tăng 6%), trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 2,2%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 0,3%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 4,9%. Tại thời điểm trên, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 4,8% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 2,9%; sản xuất và phân phối điện giảm 0,4%; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 1,3%.

Lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/4/2017 so với cùng thời điểm năm trước của một số địa phương như sau: Bắc Ninh tăng 14,2%; Hải Phòng tăng 13,5%; Bình Dương tăng 5,9%; Hải Dương tăng 5,8%; Vĩnh Phúc tăng 5,4%; Đà Nẵng tăng 4,3%; Thái Nguyên tăng 2,4%; Cần Thơ tăng 0,8%; Đồng Nai tăng 0,8%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 0,6%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 8,4%.

Theo Tổng cục Thống kê

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục