Sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2016

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Chín ước tính tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước (cao hơn mức tăng 7,5% của tháng Tám), trong đó ngành khai khoáng giảm 7,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,7%; sản xuất và phân phối điện tăng 11,2%; cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 7,4%.

Tính chung 9 tháng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 9,9% của cùng kỳ năm 2015, chủ yếu do ngành khai khoáng giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước.

Trong các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 10,4%, đóng góp 7,4 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 12,1%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 6,9%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 4,1%, làm giảm 0,9 điểm phần trăm mức tăng chung.

Xét theo công dụng của sản phẩm, các sản phẩm trung gian (phục vụ cho quá trình sản xuất tiếp theo) tăng 5,6%; sản phẩm phục vụ cho sử dụng cuối cùng tăng 8,9%, trong đó sản phẩm là tư liệu sản xuất tăng 11%; sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng của dân cư tăng 7,8%.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 9 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 16,9%; dệt tăng 16,4%; sản xuất xe có động cơ tăng 15,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và quang học tăng 14,9%.

Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 7,6%; sản xuất thiết bị điện tăng 6,7%; sản xuất thuốc lá tăng 5,5%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 3,8%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 2,5%; khai khoáng khác tăng 2,4%; khai thác than cứng và than non tăng 1,8%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 5,8%.

Trong 9 tháng năm nay, một số sản phẩm công nghiệp tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Ti vi tăng 86%; thép cán tăng 24,3%; ô tô tăng 21%; thức ăn gia súc tăng 20,3%; sắt thép thô tăng 17,2%; xi măng tăng 15,2%.

Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm: Than đá tăng 1,8% (gặp khó khăn trong tiêu thụ than do giá giảm); giày, dép da tăng 1,5%; xe máy tăng 0,1%; phân urê giảm 4,1%; vải dệt từ sợi tự nhiên giảm 5,3%; đường kính giảm 5,9%; dầu thô khai thác giảm 7,8%; phân hỗn hợp (NPK) giảm 9,7%; điện thoại di động giảm 10,7%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Quảng Nam tăng 30,7%; Thái Nguyên tăng 28,5%; Hải Phòng tăng 16,5%; Đà Nẵng tăng 12,1%; Cần Thơ tăng 11%; Bình Dương tăng 9,6%; Bắc Ninh tăng 9,1%; Hải Dương tăng 8,2%; Đồng Nai tăng 7,9%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 7,3%; Hà Nội tăng 7,1%; Quảng Ninh tăng 5,6%; Vĩnh Phúc tăng 4,3%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 2,5%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 8/2016 tăng 2,1% so với tháng trước  tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng, chỉ số tiêu thụ tăng 8,3% so với cùng kỳ năm 2015 (cùng kỳ năm trước tăng 13,2%).

Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất xe có động cơ tăng 19,2%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 15,7%; dệt tăng 11,7%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 10,8%; sản xuất đồ uống tăng10,4%. 

Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 7,2%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 4,5%; sản xuất thuốc lá; sản xuất da, các sản phẩm có liên quan tăng 3,8%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 2,9%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 1,8%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 2,3%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/9/2016 tăng 9% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm 2015 tăng 9,9%), trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Dệt tăng 7%; sản xuất trang phục tăng 6,1%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 6%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 0,7%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 4,8%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 13%; sản xuất thiết bị điện giảm 13,4%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 36,5%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 46,9%.

Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn nhiều so với mức tăng chung: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 125% (chủ yếu là sản phẩm điện thoại di động mới sản xuất); sản xuất xe có động cơ tăng 40,6%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 32,9%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 22,5%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 22,4%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 21,1%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân 8 tháng năm 2016 là 68,4% (cùng kỳ năm trước là 74%), trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn 129,8%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 112,5%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 106,3%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/9/2016 tăng 4,2% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 1,7%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 1,2%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 6,8%.

Tại thời điểm trên, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 7% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 4,8%; ngành sản xuất, phân phối điện giảm 0,4%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 2,6%.

Lao động của các doanh nghiệp tại thời điểm 01/9/2016 so với cùng thời điểm năm trước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Thái Nguyên tăng 25,2%; Hải Phòng tăng 14%; Vĩnh Phúc tăng 6,3%; Bình Dương tăng 6,2%; Đồng Nai tăng 6,1%; Bắc Ninh tăng 5,8%; Đà Nẵng tăng 3,6%; Hải Dương tăng 3,1%; Hà Nội tăng 1,9%; Quảng Nam tăng 1,7%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 0,8%; Cần Thơ bằng mức cùng thời điểm năm trước; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 1,1%; Quảng Ninh giảm 3%.

Nhìn chung, trong 9 tháng năm nay, bên cạnh sự giảm sút của ngành khai khoáng, các ngành công nghiệp khác, nhất là ngành chế biến, chế tạo (có quy mô và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong toàn ngành công nghiệp) vẫn giữ được sự phát triển khá ổn định.

Điều này được thể hiện thông qua xu hướng khá tích cực của chỉ số tiêu thụ, tồn kho và thu hút lao động: Chỉ số tiêu thụ tháng 8 của toàn ngành chế biến, chế tạo tăng 10,8%, trong khi chỉ số tồn kho thời điểm 01/9/2016 tăng 9%.

Bên cạnh đó, tình hình thu hút lao động trong ngành công nghiệp cho thấy sản xuất công nghiệp, đặc biệt là ngành chế biến, chế tạo và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mặc dù còn khó khăn, nhưng vẫn đang trên đà phục hồi và dần phát triển ổn định.

Theo Tổng cục Thống kê

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục