VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2018

Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp năm 2018 phát triển ổn định và có mức tăng trưởng khá do điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triển, chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng tích cực, giống lúa mới chất lượng cao đang dần thay thế giống lúa truyền thống, phát triển mô hình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP cho giá trị kinh tế cao.

Diện tích lúa cả năm 2018 ước tính đạt 7,57 triệu ha, giảm 134,8 nghìn ha so với năm trước; năng suất lúa ước tính đạt 58,1 tạ/ha, tăng 2,6 tạ/ha. Mặc dù diện tích lúa giảm nhưng năng suất tăng cao nên sản lượng lúa cả năm 2018 ước tính đạt 43,98 triệu tấn, tăng 1,24 triệu tấn so với năm 2017.

Vụ lúa đông xuân năm nay đạt kết quả tốt trên cả nước. Với điều kiện thời tiết thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng và phát triển, năng suất cao, chi phí thấp nên lợi nhuận thu được của người trồng lúa cao hơn những năm gần đây.

Tính chung toàn vụ, cả nước gieo cấy được 3,1 triệu ha lúa, giảm 15 nghìn ha so với vụ đông xuân năm trước do chuyển đổi cơ cấu sản xuất và mục đích sử dụng đất; năng suất lúa đạt 66,4 tạ/ha, tăng 4,1 tạ/ha so với vụ đông xuân trước; sản lượng đạt 20,6 triệu tấn, tăng 1,19 triệu tấn.

Vụ lúa hè thu năm 2018 cả nước gieo cấy được 2,05 triệu ha, giảm 0,7% so với năm 2017; năng suất đạt 54,6 tạ/ha, tăng 0,6%; sản lượng đạt 11,21 triệu tấn, giảm 0,1%. Sản lượng lúa hè thu của hầu hết các vùng tăng so với năm trước (riêng vùng Duyên hải miền Trung do ảnh hưởng của nắng hạn vào thời điểm gieo cấy và thu hoạch nên sản lượng giảm), trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long năng suất đạt 54,8 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha; sản lượng đạt 8,8 triệu tấn, tăng 15,1 nghìn tấn.

Diện tích lúa thu đông tại Đồng bằng sông Cửu Long năm nay ước tính đạt 732,1 nghìn ha, giảm 78,1 nghìn ha so với năm 2017; năng suất ước tính đạt 53,2 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha; sản lượng đạt 3,9 triệu tấn, giảm 343,2 nghìn tấn.

Diện tích gieo trồng lúa thu đông giảm do ảnh hưởng của thời tiết diễn biến phức tạp, lũ đầu nguồn lên nhanh, mưa nhiều làm một số đê bao có nguy cơ bị ngập, có những diện tích không thể xuống giống.

Một số địa phương có diện tích và sản lượng giảm mạnh: Long An diện tích giảm 16,5 nghìn ha và sản lượng giảm 48,8 nghìn tấn; Đồng Tháp giảm 16,1 nghìn ha và 89,8 nghìn tấn; An Giang giảm 10,7 nghìn ha và 60,6 nghìn tấn; Hậu Giang giảm 12,1 nghìn ha và 60,2 nghìn tấn.

Vụ mùa năm nay cả nước gieo cấy được 1,68 triệu ha, giảm 28,1 nghìn ha so với vụ mùa năm trước; năng suất ước tính đạt 49,1 tạ/ha, tăng 3,2 tạ/ha; sản lượng ước tính đạt 8,26 triệu tấn, tăng 403 nghìn tấn.

Trong đó, diện tích lúa mùa của miền Bắc đạt 1,10 triệu ha, giảm 29,8 nghìn ha so với năm trước, chủ yếu do các địa phương chuyển một phần diện tích trồng lúa sang sử dụng cho mục đích khác; năng suất ước tính đạt 49,4 tạ/ha, tăng 3,2 tạ/ha; sản lượng đạt 5,46 triệu tấn, tăng 217,1 nghìn tấn.

Một số địa phương có sản lượng lúa mùa tăng so với năm trước: Thái Bình tăng 91,2 nghìn tấn; Nam Định tăng 51,2 nghìn tấn; Hải Dương tăng 40,1 nghìn tấn; Hà Nam và Ninh Bình cùng tăng trên 21 nghìn tấn. Tại các tỉnh phía Nam, diện tích gieo cấy lúa mùa đạt 579,1 nghìn ha, tăng 1,7 nghìn ha so với năm trước; năng suất ước tính đạt 48,5 tạ/ha, tăng 3,1 tạ/ha; sản lượng đạt 2,81 triệu tấn, tăng 185,9 nghìn tấn.

Kết quả sản xuất hoa màu và một số cây hàng năm: Sản lượng ngô đạt 4,91 triệu tấn, giảm 203,7 nghìn tấn so với năm 2017 do diện tích gieo trồng giảm 60,5 nghìn ha (năng suất ngô tăng 0,7 tạ/ha); sản lượng khoai lang đạt 1,37 triệu tấn, tăng 15,8 nghìn tấn (diện tích giảm 3,9 nghìn ha); mía đạt 17,84 triệu tấn, giảm 519,9 nghìn tấn (diện tích giảm 12 nghìn ha); sản lượng sắn đạt 9,94 triệu tấn, giảm 327,8 nghìn tấn (diện tích giảm 17,3 nghìn ha); lạc đạt 458,7 nghìn tấn, giảm 0,9 nghìn tấn (diện tích giảm 9,9 nghìn ha); đậu tương đạt 80,8 nghìn tấn, giảm 20,9 nghìn tấn (diện tích giảm 15,3 nghìn ha); sản lượng rau các loại đạt 17,09 triệu tấn, tăng 622,5 nghìn tấn (diện tích tăng 23,3 nghìn ha); sản lượng đậu các loại đạt 155 nghìn tấn, giảm 8,1 nghìn tấn (diện tích giảm 7,1 nghìn ha).

Năm 2018, diện tích trồng cây lâu năm ước tính đạt 3.482,3 nghìn ha, tăng 2,3% so với năm 2017, trong đó nhóm cây công nghiệp đạt 2.228,4 nghìn ha, tăng 0,4%; nhóm cây ăn quả đạt 989,4 nghìn ha, tăng 6,6%; nhóm cây lấy dầu đạt 175,4 nghìn ha, tăng 3,3%; nhóm cây gia vị, dược liệu đạt 53,9 nghìn ha, tăng 7,2%; nhóm cây lâu năm khác đạt 35,2 nghìn ha, giảm 0,7%.

Trong nhóm cây công nghiệp, diện tích cao su đạt 965,4 nghìn ha, giảm 0,4% so với năm trước, sản lượng cả năm đạt 1.141,9 nghìn tấn, tăng 4,3%; hồ tiêu diện tích đạt 149,9 nghìn ha, tăng 0,1%, sản lượng đạt 255,4 nghìn tấn, tăng 1,1%; cà phê diện tích đạt 688,4 nghìn ha, tăng 1,6%, sản lượng đạt 1.626,2 nghìn tấn, tăng 3,1%; điều diện tích đạt 301 nghìn ha, tăng 0,4%, sản lượng đạt 260,3 nghìn tấn, tăng 20,6%; chè diện tích đạt 123,7 nghìn ha, tăng 0,6%, sản lượng chè búp đạt 987,3 nghìn tấn, tăng 1,6%.

Nhóm cây ăn quả năm nay đạt sản lượng thu hoạch khá do nhiều cây trồng tăng về diện tích và có thị trường tiêu thụ ổn định. Sản lượng cam, quýt, bưởi đạt 1.697,9 nghìn tấn, tăng 10,9% so với năm trước; xoài đạt 788,5 nghìn tấn, tăng 5,8%; thanh long đạt 1.074,2 nghìn tấn, tăng 12,8%; dứa đạt 674 nghìn tấn, tăng 9,1%; nhãn đạt 541,4 nghìn tấn, tăng 8,4%; vải đạt 380,6 nghìn tấn, tăng 63,6% (chủ yếu do năm trước mất mùa nên sản lượng thấp); chôm chôm đạt 338,7 nghìn tấn, tăng 2,5%.

Chăn nuôi trâu, bò nhìn chung ổn định, nuôi gia cầm đạt khá, chăn nuôi lợn được phục hồi nhanh, nhất là những tháng cuối năm do giá bán sản phẩm tăng nhanh và người chăn nuôi có lãi. Tính đến tháng 12/2018, đàn trâu cả nước giảm 2,8% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò tăng 2,7%; đàn lợn tăng 3,2%; đàn gia cầm tăng 6,1%.

Sản lượng thịt hơi các loại năm nay đạt khá, trong đó sản lượng thịt trâu đạt 92,1 nghìn tấn, tăng 4,7% so với năm trước (quý IV đạt 23,7 nghìn tấn, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm 2017); sản lượng thịt bò đạt 334,5 nghìn tấn, tăng 4% (quý IV đạt 80,3 nghìn tấn, tăng 7,2%); sản lượng thịt lợn đạt 3,8 triệu tấn, tăng 2,2% (quý IV đạt 1.072,2 nghìn tấn, tăng 7,1%); sản lượng thịt gia cầm đạt 1,1 triệu tấn, tăng 6,4% (quý IV đạt 276,9 nghìn tấn, tăng 6,9%).

Sản lượng trứng gia cầm năm 2018 đạt khá, ước tính đạt 11,6 tỷ quả, tăng 9,5% so với năm 2017 (quý IV đạt 3.262,5 triệu quả, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước); sản lượng sữa bò cả năm 2018 đạt 936 nghìn tấn, tăng 6,2% (quý IV đạt 232,7 nghìn tấn, tăng 4,3%).

Tính đến thời điểm 26/12/2018, cả nước không còn dịch tai xanh trên lợn; dịch cúm gia cầm còn ở Quảng Ninh; dịch lở mồm long móng còn ở Bắc Ninh, Hà Nội. Hiện nay bệnh dịch tả lợn Châu Phi vẫn đang diễn biến phức tạp tại một số quốc gia, các cấp các ngành cần chủ động có biện pháp ngăn chặn bệnh dịch xâm nhập vào Việt Nam.

Lâm nghiệp

Thời tiết trong năm tương đối thuận lợi cho hoạt động trồng, chăm sóc rừng và khai thác lâm sản. Trong quý IV/2018, diện tích rừng trồng tập trung của cả nước ước tính đạt 77,4 nghìn ha, giảm 2,4% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 26,6 triệu cây, giảm 0,5%; sản lượng gỗ khai thác đạt 3.723 nghìn m3, tăng 7,4%; sản lượng củi khai thác đạt 5 triệu ste, tăng 0,3%.

Năm 2018, diện tích rừng trồng tập trung của cả nước ước tính đạt 238,6 nghìn ha, giảm 1,2% so với năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 85,8 triệu cây, giảm 0,3%; sản lượng củi khai thác đạt 23,7 triệu ste, giảm 1,2%; sản lượng gỗ khai thác ước tính đạt 12,8 triệu m3, tăng 9,6%. Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác tăng cao: Quảng Trị tăng 22,1%; Nghệ An tăng 19,4%; Quảng Nam tăng 10,3%; Phú Thọ tăng 10,2%; Quảng Ngãi tăng 9,9%.

Diện tích rừng bị thiệt hại quý IV/2018 là 387,4 ha, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 289,4 ha, gấp 2,2 lần; diện tích rừng bị chặt, phá là 98 ha, giảm 51,7%. Tính chung năm 2018, diện tích rừng bị thiệt hại là 1.283,3 ha, giảm 17,8% so với năm 2017, trong đó diện tích rừng bị cháy là 739,1 ha, tăng 41,7%; diện tích rừng bị chặt phá là 544,2 ha, giảm 47,6%.

Thủy sản

Sản xuất thủy sản năm 2018 có nhiều thuận lợi về thời tiết và thị trường tiêu thụ nên tăng trưởng khá. Sản lượng thuỷ sản quý IV/2018 ước tính đạt 2.106,4 nghìn tấn, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1.503,5 nghìn tấn, tăng 7,5%; tôm đạt 296,8 nghìn tấn, tăng 5,9%.

Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng quý IV/2018 ước tính đạt 1.228,2 nghìn tấn, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 840,8 nghìn tấn, tăng 7,5%; tôm đạt 261,4 nghìn tấn, tăng 7,1%. Sản lượng thuỷ sản khai thác quý IV/2018 ước tính đạt 878,2 nghìn tấn, tăng 5,7% so với cùng kỳ, trong đó cá đạt 662,7 nghìn tấn, tăng 7,6%; tôm đạt 35,4 nghìn tấn, giảm 1,7%.

Tính chung cả năm, tổng sản lượng thuỷ sản ước tính đạt 7.756,5 nghìn tấn, tăng 6,1% so với năm trước, trong đó cá đạt 5.602,8 nghìn tấn, tăng 6,7%; tôm đạt 966,1 nghìn tấn, tăng 7%; thủy sản khác đạt 1.187,6 nghìn tấn, tăng 2,5%.

Hoạt động nuôi trồng thủy sản năm 2018 đạt khá, nhất là nuôi tôm nước lợ và cá tra. Diện tích nuôi trồng thủy sản cả năm ước tính đạt 1.120,6 nghìn ha, tăng 1,7% so với năm trước, trong đó diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh đạt 268,5 nghìn ha, tăng 5%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng năm nay ước tính đạt 4.153,8 nghìn tấn, tăng 6,7% so với năm 2017, trong đó cá đạt 2.902,5 nghìn tấn, tăng 6,9%; tôm đạt 804,3 nghìn tấn, tăng 8,1%. Nuôi cá tra gặp thuận lợi cả về sản xuất, giá và thị trường tiêu thụ nên thời gian nuôi được rút ngắn, một số hộ nuôi bán thâm canh chuyển sang nuôi thâm canh. Giá cá tra các tháng trong năm tương đối cao và ổn định, bình quân dao động từ 27.000-33.000 đồng/kg. Xuất khẩu cá tra tăng trưởng tốt, đặc biệt là các thị trường lớn và truyền thống như Mỹ, Trung Quốc và EU.

Diện tích nuôi cá tra năm 2018 ước tính đạt 22,4 nghìn ha, giảm 0,9% so với năm trước; sản lượng cá tra ước tính đạt 1.418 nghìn tấn, tăng 10,4%. Diện tích nuôi tôm nước lợ năm nay đạt 712,7 nghìn ha, tăng 1,4% so với năm trước, trong đó diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh đạt 142,4 nghìn ha, tăng 2,6%. Sản lượng tôm sú cả năm ước tính đạt 274,3 nghìn tấn, tăng 5,5% so với năm trước; sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 492,3 nghìn tấn, tăng 10%.

Thời tiết trong năm tương đối thuận lợi cho hoạt động khai thác, đồng thời tàu thuyền đang được cơ cấu lại theo hướng giảm lượng tàu công suất nhỏ, tăng tàu công suất lớn đánh bắt xa bờ nên sản lượng khai thác biển tăng khá.

Năm 2018, sản lượng thủy sản khai thác cả nước ước tính đạt 3.602,7 nghìn tấn, tăng 5,3% so với năm 2017, trong đó cá đạt 2.700,3 nghìn tấn, tăng 6,4%, tôm đạt 161,8 nghìn tấn, tăng 1,8%. Sản lượng thủy sản khai thác biển ước tính đạt 3.392,6 nghìn tấn, tăng 5,5%, trong đó cá đạt 2.560 nghìn tấn, tăng 6,8%, tôm đạt 146,4 nghìn tấn, tăng 1,7%.

THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM