VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng
Giới thiệu tòa soạn Hotline: 0987 828 585

Những đóa hoa xuân không lộng lẫy

(Tài chính) Trong đời, thỉnh thoảng gặp lại những bài thơ nho nhỏ của các bậc tài danh ngày trước, giống như những bông hoa khiêm tốn, không lộng lẫy kiêu sa, nhưng hương thơm tinh khiết, không phai theo ngày tháng…

Ngửi” những bông hoa ấy, gợi một chút buồn ma mác, nỗi buồn thấu đạt lẽ tuần hoàn vũ trụ, nhân sinh. Từ đấy, thay vì bi quan, lòng lại bình tĩnh vươn lên. Thế là không uỷ mị nữa, không cuồng si hung hãn, mà đầy tự chủ, tràn ngập niềm vui, sự nhân hậu và thấu đạt lẽ đời.

Mãn Giác thiền sư (1052-1096) đời Lý có viết bài thơ chữ Hán được nhà thơ Khương Hữu Dụng dịch như sau:

Xuân qua trăm hoa rụng

Xuân tới trăm hoa cười

Trước mắt việc đi mãi

Trên đầu già đến rồi…

Đừng tưởng tượng xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước một nhành mai

Mới đọc nửa bài, ngỡ rằng luật trời khe khắc, tàn bạo, vô tình, thì đột nhiên được nâng lên tầng cao có nắng. Mãn Giác thiền sư thi sĩ đã xoay đôi mắt ta nhìn theo hướng tan sương. Tâm hồn ta như thanh sắt gỉ dưới tay một thợ rèn vĩ đại. Ta bị nung đỏ, bị cong queo, lại được vuốt thẳng để nhúng vào nước. Ta đã được trui già, trở nên cứng rắn và hữu ích.

Nhà thơ Cao Bá Quát, có bài thơ “Hàn dạ ngâm” được Nguyễn Huệ Chi dịch là “Khúc ngâm đêm lạnh” như sau:

Rét nhiều không ngủ được

Dậy chữa lại vần thơ

Dầu hết gọi nhỏ rót

Nhỏ cứ nằm ậm ờ

Vội vàng đi lấy chiếu

Đắp lên mình chú ta.

Thử hỏi ai được ấm giữa đêm đông lạnh giá? Chú nhỏ ngủ say hay cụ Cao Bá Quát? Xin mạo muội thưa rằng: cả ba người đều ấm. Tại sao lại đến ba người? Vì còn phải cộng thêm người đọc bài thơ vào nữa. Lời thơ, ý thơ, đơn giản chỉ là lòng nhân từ nhỏ nhoi, âm thầm, lặng lẽ. Lòng nhân từ ấy như bông hoa không tên, cứ mãi ngát hương. Lòng người đọc được nâng lên cao, ở đó bàng bạc niềm vui thanh thoát của bao dung đức độ. Bài thơ của cụ thật hay. Mà đã thật hay, thì không bàn nữa.

Nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) có bài “Vô Đề” như sau:

Tóc đã thưa, răng đã mòn

Việc nhà đã phó mặc dâu con

Bàn cờ cuộc rượu vầy hoa trúc

Bó củi cần câu chốn nước non

Nhàn được thú vui hay nấn ná

Bữa chiều muối bể chứa tươi ngon

Chín mươi thì kể xuân đã muộn

Xuân ấy qua ngày xuân khác còn.

Dẫu biết ở đời có tứ khổ là sinh, lão, bệnh, tử, nhưng với cụ thì “lão” không còn là khổ nữa, mà là sự thâm trầm vui vẻ. Một tâm hồn không có vết nhăn, cho dù khuôn mặt nhăn nheo. Cái già chẳng việc gì mà đáng sợ cả. Cứ thuận theo tự nhiên mà sống. Đọc bài thơ, ta bỗng như con thiên nga, cứ thảnh thơi trên bập bềnh sóng nước. Thời gian đã mất đi vẻ tàn khốc, đã trở nên dịu dàng, thậm chí còn dễ mến.

Cụ Nguyễn Trãi (1380-1442) tác giả áng thiên cổ hùng văn Bình Ngô Đại Cáo, có làm bài tứ tuyệt “Cuối xuân tức sự”, được Khương Hữu Dụng dịch:

Suốt ngày nhàn nhã khép phòng văn

Khách tục không ai bén mảng gần

Trong tiếng cuốc kêu xuân đã muộn

Đầy sân mưa bụi nở hoa xoan.

Một tâm hồn cô đơn nhưng nghị lực, khí phách. Một nỗi buồn thoang thoảng của tất cả mọi thiên tài kim cổ. Một bóng dáng kiên cường đang di động.

Cụ nhà thơ Nguyễn Công Trứ (1778-1858) có vịnh bài “Mùa đông” như sau:

Nghĩ lại thì trời vốn cũng sòng

Chẳng vì rét mướt bỏ mùa đông

Mây về Ngàn Hống đen như mực

Gió lọt rèm thưa lạnh tựa đồng

Cảo mực hơi may ngòi bút rít

Phím loan cười nhuốm sợi tơ chùng

Bốn mùa ví những Xuân đi cả

Góc núi ai hay sức lão tùng?

Một khí phách vững chãi, rắn chắc trước gian lao thử thách cuộc đời. Ngày xuân, đọc lại những bài thơ, khổ thơ của các bậc tiền nhân, như thưởng thức những bông hoa tinh khiết của trí tuệ và khí phách. Xin tri ân những đóa hoa tiếp sức khiêm tốn mà vững mạnh đến tuyệt vời...

Bài đăng trên Tài chính & Đầu tư số 1+2-2013

THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM