Doanh nghiệp nào đủ điều kiện được cấp bảo lãnh Chính phủ?

(Taichinh) - Luật Quản lý nợ công (sửa đổi) vừa được thông qua tại Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIV nêu rõ, ngoài Ngân hàng chính sách của Nhà nước là đối tượng được bảo lãnh Chính phủ còn có các doanh nghiệp có dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, quyết định đầu tư của Thủ tướng Chính phủ
Ảnh minh họa. Nguồn: InternetẢnh minh họa. Nguồn: Internet

Luật Quản lý nợ công (sửa đổi) cũng quy định các điều kiện mà doanh nghiệp phải đáp ứng đầy đủ để được cấp bảo lãnh Chính phủ gồm: Có tư cách pháp nhân, được thành lập hợp pháp tại Việt Nam và có thời gian hoạt động ít nhất 03 năm; Không bị lỗ trong 03 năm liền kề gần nhất theo báo cáo kiểm toán, trừ các khoản lỗ do thực hiện chính sách của Nhà nước được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Doanh nghiệp không có nợ quá hạn tại thời điểm đề nghị cấp bảo lãnh; Bảo đảm hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu không vượt quá 03 lần theo báo cáo tài chính đã được kiểm toán năm gần nhất so với thời điểm thẩm định cấp bảo lãnh Chính phủ; Khoản bảo lãnh nằm trong hạn mức bảo lãnh hằng năm đã được Chính phủ phê duyệt

Doanh nghiệp phải hoàn thành thủ tục đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư và các quy định của pháp luật có liên quan; Có phương án tài chính được Bộ Tài chính thẩm định và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; Có tỷ lệ vốn chủ sở hữu tham gia dự án tối thiểu 20% tổng vốn đầu tư của dự án. Vốn chủ sở hữu phải được bố trí theo tiến độ thực hiện dự án.

Trường hợp doanh nghiệp phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh trên thị thường vốn trong nước, ngoài các điều kiện quy định nêu trên, doanh nghiệp phải có hồ sơ phát hành trái phiếu theo quy định của pháp luật về chứng khoán và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Luật Quản lý nợ công (sửa đổi) cũng quy định rõ, mức bảo lãnh Chính phủ đối với trị giá gốc của khoản vay, khoản phát hành trái phiếu cho dự án đầu tư không vượt quá 70% tổng mức đầu tư đã được phê duyệt của dự án. Ngoài vốn vay được Chính phủ bảo lãnh, đối tượng được Chính phủ bảo lãnh phải bảo đảm đủ nguồn vốn để thực hiện dự án theo tổng mức đầu tư đã được phê duyệt.

Đối tượng được bảo lãnh phải nộp phí bảo lãnh theo mức độ rủi ro của từng chương trình, dự án nhưng tối đa là 2%/năm trên dư nợ được bảo lãnh.

Đối tượng được bảo lãnh phải thế chấp tài sản theo quy định của pháp luật về đăng ký tài sản bảo đảm.

Luật Quản lý nợ công (sửa đổi) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2018.


PV.

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục