Xác định nguồn kinh phí được phép chi thu nhập tăng thêm với cán bộ,công chức

(Taichinh) - Giáp đáp ý kiến của ông Trần Văn Đại (Quảng Nam) về những quy định liên quan đến chi thu nhập tăng thêm đối với cán bộ, công chức, Bộ Tài chính đã hướng dẫn cụ thể vấn để này.
Ảnh minh họa. Nguồn: internetẢnh minh họa. Nguồn: internet

Hỏi: Đơn vị tôi là cơ quan hành chính nhà nước, trong năm có 02 biên chế nghỉ thai sản, do đó trong thời gian nghỉ thai sản lương sẽ do BHXH trả. Vậy cho tôi hỏi lương và các khoản đóng góp theo lương đã được NSNN giao dự toán đầu năm 2017cho 02 biên chế này thì cơ quan tôi có được sử dụng trong năm 2017 không hay phải nộp trả lại NSNN? Xin hỏi thêm nếu cơ quan được sử dụng thì cuối năm cơ quan tôi có được phép chi thu nhập tăng thêm cho 02 biên chế nghỉ thai sản này không?

Về vấn đề này, Bộ Tài chính có hướng dẫn như sau:

Cách xác định tổng mức lương để chi trả thu nhập tăng thêm thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 8 Điều 3 Thông tư liên tịch số 71/2014/TTLT-BTC-BNV ngày 30/5/2014 của Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng kinh phí quản lý hành chính, cụ thể:

Trong phạm vi nguồn kinh phí tiết kiệm được, cơ quan thực hiện chế độ tự chủ được áp dụng hệ số tăng thêm quỹ tiền lương tối đa không quá 1,0 (một) lần so với tiền lương ngạch, bậc, chức vụ do nhà nước quy định để trả thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức và người lao động. Quỹ tiền lương để trả thu nhập tăng thêm một năm được xác định theo công thức:

       QTL  =   Lmin  x  K1 x K2 x L x 12 tháng

QTL: Là Quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ của cơ quan được phép trả tăng thêm tối đa trong năm;

Lmin: Là mức lương cơ sở (đồng/tháng) hiện hành do nhà nước quy định;

K1: Là hệ số điều chỉnh tăng thêm thu nhập (tối đa không quá 1,0 lần);

K2: Là hệ số lương ngạch, bậc, chức vụ bình quân của cơ quan;

L: Là số biên chế được giao và số lao động hợp đồng không xác định thời hạn đối với một số chức danh theo quy định của pháp luật và được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Trả thu nhập tăng thêm thực hiện theo quy định tại tại điểm b khoản 8 Điều 3 Thông tư liên tịch số 71/2014/TTLT-BTC-BNV ngày 30/5/2014, cụ thể:

Trên cơ sở tổng nguồn kinh phí được phép chi thu nhập tăng thêm, cơ quan thực hiện chế độ tự chủ quyết định phương án chi trả thu nhập tăng thêm cho từng cán bộ, công chức và người lao động (hoặc cho từng bộ phận trực thuộc) theo nguyên tắc phải gắn với hiệu quả, kết quả công việc của từng người (hoặc từng bộ phận trực thuộc). Người nào, bộ phận nào có thành tích đóng góp để tiết kiệm chi, có hiệu suất công tác cao thì được trả thu nhập tăng thêm cao hơn; không thực hiện việc chia thu nhập tăng thêm cào bằng bình quân hoặc chia theo hệ số lương. Mức chi trả cụ thể do Thủ trưởng cơ quan quyết định sau khi thống nhất ý kiến với tổ chức công đoàn cơ quan.

Trên cơ sở tổng nguồn kinh phí được phép chi thu nhập tăng thêm, cơ quan thực hiện chế độ tự chủ quyết định phương án chi trả thu nhập tăng thêm cho từng cán bộ, công chức và người lao động (hoặc cho từng bộ phận trực thuộc) theo nguyên tắc phải gắn với hiệu quả, kết quả công việc của từng người (hoặc từng bộ phận trực thuộc). Người nào, bộ phận nào có thành tích đóng góp để tiết kiệm chi, có hiệu suất công tác cao thì được trả thu nhập tăng thêm cao hơn; không thực hiện việc chia thu nhập tăng thêm cào bằng bình quân hoặc chia theo hệ số lương. Mức chi trả cụ thể do Thủ trưởng cơ quan quyết định sau khi thống nhất ý kiến với tổ chức công đoàn cơ quan.

Như vậy, phương án chi trả thu nhập tăng thêm cho từng cán bộ, công chức và người lao động cho từng cán bộ, công chức và người lao động (gồm cả trường hợp nghỉ thai sản) do Thủ trưởng cơ quan thực hiện chế độ tự chủ quyết định sau khi thống nhất ý kiến với tổ chức công đoàn cơ quan.

PV.

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục