VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng
Giới thiệu tòa soạn Hotline: 0987 828 585
Một số vấn đề về kiểm toán nội bộ  trong doanh nghiệp

Kiểm toán nội bộ có vai trò rất quan trọng trong bộ máy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Một số vấn đề về kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp

Kiểm toán nội bộ có vai trò rất quan trọng trong bộ máy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Dù vậy, đến nay, kiểm toán nội bộ vẫn chưa được các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm và chú trọng, nếu có áp dụng cũng mang tính hình thức, đối phó.

Kinh nghiệm quốc tế về tổ chức Kiểm toán Nội bộ trong các Công ty Niêm yết

Kiểm toán nội bộ: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

03 đối tượng doanh nghiệp bắt buộc phải kiểm toán nội bộ

Kinh nghiệm quốc tế về thực hiện chức năng kiểm toán nội bộ

Mới đây, Chính phủ ban hành Nghị định số 05/2019/NĐ-CP quy định về kiểm toán nội bộ, trong đó có một số quy định về kiểm toán nội bộ tại doanh nghiệp, kỳ vọng sẽ tạo động lực cho các doanh nghiệp nhà nước mà các doanh nghiệp tư nhân vận dụng kiểm toán nội bộ một cách thực chất trong hoạt động của mình.

Tầm quan trọng của kiểm toán nội bộ  trong doanh nghiệp

Theo Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC), kiểm toán nội bộ (KTNB) là “một hoạt động đánh giá được lập ra trong doanh nghiệp (DN) như là một loại dịch vụ, có chức năng kiểm tra, đánh giá và giám sát tính thích hợp và hiệu quả của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ”. Còn theo Viện KTNB (IIA): “KTNB là hoạt động đánh giá và tư vấn độc lập trong nội bộ tổ chức, được thiết kế nhằm cải tiến và tăng giá trị cho các hoạt động của tổ chức đó. Giúp tổ chức đạt được mục tiêu, bằng việc đánh giá và cải tiến một cách có hệ thống và chuẩn tắc tính hiệu lực của quy trình quản trị, kiểm soát và quản lý rủi ro”...

Theo Nghị định số 05/2019/NĐ-CP ngày 22/1/2019 của Chính phủ, KTNB có nhiệm vụ sau đây: Kiểm tra tính phù hợp, hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ; Kiểm tra và xác nhận chất lượng, độ tin cậy của thông tin kinh tế, tài chính của báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị trước khi trình ký duyệt; Kiểm tra việc tuân thủ nguyên tắc hoạt động, quản lý, việc tuân thủ pháp luật, chế độ tài chính, kế toán, chính sách, nghị quyết, quyết định của lãnh đạo đơn vị kế toán; Phát hiện những sơ hở, yếu kém, gian lận trong quản lý, bảo vệ tài sản của đơn vị; đề xuất các giải pháp nhằm cải tiến, hoàn thiện hệ thống quản lý, điều hành hoạt động của đơn vị kế toán.

Đặng Văn Thanh (2017) cho rằng, KTNB có 3 chức năng lớn, đó là: Phân tích chiến lược hiện tại và dự đoán tương lai; Quản trị rủi ro và ngăn ngừa, khắc phục các hậu quả rủi ro trong hoạt động kinh tế, tài chính, hoạt động kinh doanh của đơn vị, thông qua việc tổ chức và kiểm soát hệ thống thông tin, truyền thông; Kiểm soát hoạt động tài chính. Theo Đặng Văn Thanh (2017), yêu cầu mang tính bản chất của hoạt động tài chính là phải an toàn, hiệu quả, minh bạch. Mỗi tổ chức kinh tế phải thiết lập và duy trì sự hiện hữu, hiệu lực của 3 vòng kiểm soát, trong đó có KTNB. Đây là công cụ quản lý của các nhà lãnh đạo, quản lý tài chính nhà nước, cũng như DN để kiểm soát, đánh giá, phân tích tình hình hoạt động tài chính nhà nước, tài chính của DN, đánh giá và điều chỉnh chiến lược hoạt động, chiến lược kinh doanh sao cho hiệu quả, đảm bảo an toàn tài sản, vốn và tăng tính cạnh tranh cho DN. KTNB cũng là công cụ để phân tích, đánh giá chất lượng của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ.

Chức năng KTNB đã trở thành nhu cầu tất yếu đối với hoạt động quản trị DN, kiểm soát nội bộ và quản lý rủi ro của các DN trong bối cảnh hiện nay. Các kiểm toán viên nội bộ có thể thực hiện việc kiểm toán để đánh giá và đưa ra các khuyến nghị cải tiến quy trình quản trị hoặc thực hiện tư vấn các vấn đề quản trị do DN thực hiện. Trên thực tế, KTNB được xem là “tai mắt” của quản lý DN thông qua việc kiểm tra và soát xét tất cả các bộ phận và chức năng trong DN.

Trong nền kinh tế thị trường, KTNB đã dần mở rộng phạm vi trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của tổ chức trong DN và hướng hoạt động vào việc cải thiện những phương thức quản lý trong DN. KTNB có thể hiểu như bộ phận phụ trách việc xem xét lại một cách định kỳ các biện pháp mà Ban giám đốc và các nhà quản lý áp dụng để quản lý và kiểm soát DN. Mục tiêu chính của KTNB là kiểm tra tính hợp lý, hiệu quả của các thủ tục tổ chức cơ cấu, độ tin cậy và trung thực của các thông tin kế toán, tính hợp lý, hợp pháp của các nghiệp vụ kinh tế.

Có thể nói, KTNB là công cụ giúp cho lãnh đạo DN phân tích hoạt động đầu tư, kinh doanh, kiểm soát, đánh giá các chiến lược phát triển kinh doanh của DN, các hành vi quản lý. KTNB cung cấp các căn cứ, để lãnh đạo DN điều hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả và chiếm lĩnh được thị trường.

Xu thế phát triển hoạt động  kiểm toán nội bộ ở Việt Nam

KTNB bắt đầu hình thành và phát triển trên thế giới cả về lý thuyết lẫn thực hành vào những năm 1940 của thế kỷ trước. Tại Việt Nam, ngày 28/10/1997, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 832-TC/QĐ/ CĐKT về quy chế KTNB áp dụng cho các DN. Đây là văn bản pháp lý đầu tiên của Việt Nam về KTNB. Tuy nhiên, do nhận thức chưa đầy đủ và quan điểm thiếu nhất quán, nên ở thời gian đó, Văn bản này đã không được triển khai một cách nghiêm túc.

Sau gần 20 năm, trước những bất cập trong kiểm tra, kiểm soát các hoạt động tài chính nhà nước, tài chính DN và sự đòi hỏi của yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, của kinh tế thị trường, vấn đề kiểm soát nội bộ, KTNB đã chính thức đưa vào quy định, mang tính pháp lý trong Luật Kế toán sửa đổi năm 2015. Đặc biệt, ngày 22/1/2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 05/2019/ NĐ-CP quy định về KTNB, trong đó có một số quy định về KTNB tại DN.

Theo đó, các loại hình DN sau đây phải thực hiện công tác KTNB: Công ty niêm yết; DN mà Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ là công ty mẹ hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con; DN nhà nước là công ty mẹ hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con. Các DN không thuộc đối tượng trên được Nhà nước khuyến khích thực hiện công tác KTNB. Hiện nay, quá trình mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế và với sự phát triển của thị trường vốn có sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài, KTNB mới bắt đầu được quan tâm hơn.

Trong đó, nhiều DN tên tuổi trên thị trường tài chính bắt đầu sử dụng hiệu quả công cụ KTNB, trong đó có Tập đoàn Bảo Việt. Trong Báo cáo phát triển bền vững của Tập đoàn này được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá cao với việc được lập riêng thành Báo cáo phát triển bền vững theo Bộ tiêu chuẩn quốc tế về lập báo cáo phát triển bền vững và gắn kết 17 mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp quốc trong chiến lược của Bảo Việt, thì cùng với việc thực hiện kiểm toán các chỉ tiêu tài chính bởi kiểm toán Ernst & Young, Bảo Việt còn kiểm toán các chỉ tiêu phi tài chính. Khối Kiểm toán Nội bộ Tập đoàn Bảo Việt đã tiên phong tham gia vào việc đảm bảo Báo cáo phát triển bền vững theo các nội dung trong Bộ tiêu chuẩn để đảm bảo phù hợp với chiến lược, kế hoạch của Bảo Việt và phù hợp với thông lệ quốc tế...

Tuy nhiên, hiện nay, hầu hết các chủ DN tại Việt Nam chưa nhận thức đúng về vai trò, nhiệm vụ và chức năng của kiểm toán nội bộ trong hoạt động kinh doanh của DN. Nguyên nhân là vì các DN chưa nhận thấy được tầm quan trọng và vai trò của KTNB. Vai trò của KTNB khá mờ nhạt, nguyên nhân một phần là do hệ thống quản trị của các DN Việt Nam chưa đồng bộ. Lĩnh vực KTNB vẫn chưa thực sự thu hút được nguồn nhân lực có chuyên môn cao, đi kèm với đó là nguồn nhân lực chưa được đào tạo bài bản, chuyên sâu, nội dung kiểm toán cụ thể là các chương trình kiểm toán mẫu áp dụng cho loại hình KTNB chưa được ban hành, do vậy để kiểm toán các công ty đang phải tự xây dựng, do vậy rất khó đánh giá kiểm soát được chất lượng...

Một số khuyến nghị

Đối với cơ quan quản lý

- Tăng cường tổ chức thông tin tuyên truyền về vai trò của KTNB trong hoạt động của DN, đồng thời tổ chức tuyên truyền về các nội dung của Nghị định số 05/2019/NĐ-CP về các nội dung liên quan đến hoạt động KTNB tại DN. - Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động KTNB đối với những DN nằm trong đối tượng điều chỉnh của Nghị định số 05/2019/NĐ-CP. Đồng thời, có hình thức khuyến cáo, răn đe đối với các DN không chịu thực hiện các quy định này. Đối với cộng đồng doanh nghiệp

- Thay đổi nhận thức về thực hiện KTNB đối với hoạt động của DN trong bối cảnh hội nhập, kể cả các DN không nằm trong điều chỉnh của Nghị định số 05/2019/NĐ-CP, từ đó chủ động thực hiện công tác KTNB trong DN mình. - Để phát huy vai trò của KTNB trong quản trị rủi ro, DN cần tổ chức và duy trì chức năng KTNB trong DN một cách thích hợp. Trước hết về định hướng tiếp cận, KTNB tiếp cận theo định hướng rủi ro sẽ là giải pháp lựa chọn tốt nhất cho các DN trong bối cảnh hiện nay. KTNB trên cơ sở tiếp cận rủi ro đang là xu thế và ngày càng chứng minh tính tiến bộ, hiệu quả của mình trong vai trò đồng hành cùng quản lý DN. Bên cạnh đó, KTNB có thể mở rộng phạm vi, nội dung sang kiểm toán hoạt động theo hướng thực hiện các cuộc kiểm toán liên kết, trong đó trọng tâm là kiểm toán tính hiệu năng, hiệu quả, hiệu lực.

- Đối với các DN bắt buộc phải thực hiện KTNB, có thể đi thuê tổ chức kiểm toán độc lập đủ điều kiện hoạt động kiểm toán theo quy định của pháp luật để cung cấp dịch vụ KTNB. Trường hợp DN đi thuê tổ chức kiểm toán độc lập để cung cấp dịch vụ KTNB phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản của KTNB và yêu cầu tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của KTNB quy định tại Nghị định này.

Đối với lãnh đạo doanh nghiệp

- Đối với HĐQT, Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty: Có trách nhiệm ban hành quy chế về KTNB của đơn vị; Tạo điều kiện thuận lợi để đảm bảo bộ phận KTNB thực hiện đầy đủ các quyền hạn và nhiệm vụ theo quy định; Rà soát, kiểm tra, đánh giá hiệu lực và hiệu quả của bộ phận KTNB; Chịu trách nhiệm chính về việc đảm bảo chất lượng hoạt động KTNB; Trang bị các nguồn lực cần thiết cho bộ phận KTNB; Quyết định việc thực hiện các kiến nghị của KTNB; Đôn đốc, theo dõi các bộ phận thực hiện kiến nghị của KTNB; Có biện pháp xử lý kịp thời khi có các kiến nghị, đề xuất của KTNB; Phê duyệt, điều chỉnh kế hoạch KTNB hàng năm đảm bảo kế hoạch KTNB được định hướng theo rủi ro…

- Đối với Tổng giám đốc (Giám đốc) DN: Tạo điều kiện thuận lợi để KTNB thực hiện nhiệm vụ được giao và chỉ đạo các bộ phận thực hiện phối hợp công tác với KTNB theo quy định của quy chế về KTNB; Đôn đốc các đơn vị, các bộ phận thực hiện những kiến nghị đã thống nhất với bộ phận KTNB hoặc theo chỉ đạo của HĐQT, Hội đồng thành viên; Thông báo cho bộ phận KTNB tình hình thực hiện những kiến nghị đã thống nhất với bộ phận KTNB; Đảm bảo bộ phận KTNB được thông báo đầy đủ về các thay đổi, những vấn đề phát sinh mới trong hoạt động của đơn vị nhằm xác định sớm những rủi ro liên quan…

Đối với người làm công tác kiểm toán nội bộ

- Người làm công tác KTNB không thực hiện kiểm toán đối với quy định, chính sách nội bộ, thủ tục, quy trình mà mình là người chịu trách nhiệm chính trong việc xây dựng quy định, chính sách nội bộ, thủ tục, quy trình đó.

- Người làm công tác KTNB không có những xung đột về quyền và lợi ích kinh tế với đơn vị, bộ phận được kiểm toán; người làm công tác KTNB không được thực hiện kiểm toán đối với đơn vị, bộ phận mà người điều hành đơn vị, bộ phận đó là người có liên quan.

- Người làm công tác KTNB không được tham gia kiểm toán các hoạt động, các bộ phận mà mình chịu trách nhiệm thực hiện, hoặc quản lý bộ phận đó trong thời hạn 03 năm kể từ khi có quyết định không thực hiện hoạt động hoặc quản lý bộ phận đó.

- Đảm bảo các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp kiểm toán nội bộ: Tính chính trực, tính khách quan, năng lực chuyên môn và tính thận trọng, tính bảo mật, tư cách nghề nghiệp. Người phụ trách KTNB ngoài việc đảm bảo các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp, còn phải có biện pháp theo dõi, đánh giá, quản lý nhằm đảm bảo người làm công tác KTNB tuân thủ nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp KTNB.

Tài liệu tham khảo:
1. Quốc hội (2015), Luật Kế toán;
2. Chính phủ (2019), Nghị định số 05/2019/NĐ-CP ngày 22/1/2019 quy định về kiểm toán nội bộ;
3. Bộ Tài chính (1997), Quyết định số 832-TC/QĐ/CĐKT ngày 28/10/1997 về việc ban hành quy chế kiểm toán nội bộ;
4. Đặng Văn Thanh (2017), Kiểm toán nội bộ – Công cụ kiểm soát tài chính thiết yếu, Tạp chí Kế toán và Kiểm toán, số tháng 7/2017;
5. Đặng Thị Mây (2019), Quy định mới về kiểm toán nội bộ tại các DN hiện nay, Tạp chí Tài chính;
6. International Organizationfor Standardization. Risk management - Principles and guidelines. ISO 31000:2009;
7. The Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission. Enterprise risk management framework. 2004;
8. IFAC (2003), International Standard on Auditing 610 – Considering the Work of Internal Audit,

THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM