VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng
Giới thiệu tòa soạn Hotline: 0987 828 585
Phát triển tài chính toàn diện trong bối cảnh công nghệ sô

Việt Nam đã và đang triển khai nhiều chính sách và hoạt động trong khuôn khổ tài chính toàn diện. Nguồn: Internet.

Phát triển tài chính toàn diện trong bối cảnh công nghệ sô

Việc tiếp cận sản phẩm, dịch vụ tài chính chính thức giữ vai trò quan trọng đối với mọi đối tượng trong nền kinh tế - xã hội, được xem là một trong những công cụ sống còn để phát triển nền kinh tế nói chung và góp phần xóa đói giảm nghèo nói riêng. Vì vậy, phát triển tài chính toàn diện là mục tiêu của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Bài viết trao đổi về vai trò của tài chính toàn diện đối với phát triển kinh tế-xã hội; Cơ hội và thách thức trong phát triển tài chính toàn diện trong bối cảnh công nghệ số ở Việt Nam, kiến nghị một số giải pháp nhằm phát triển tài chính toàn diện trong thời gian tới.

Vai trò của tài chính toàn diện đối với phát triển kinh tế-xã hội

Tài chính toàn diện (TCTD) là việc cung cấp dịch vụ tài chính phù hợp và thuận tiện cho mọi cá nhân và tổ chức, đặc biệt đối với người có thu nhập thấp và dễ bị tổn thương nhằm tăng cường cơ hội tiếp cận tài chính, góp phần tạo cơ hội sinh kế, luân chuyển dòng vốn đầu tư và tiết kiệm trong xã hội, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. TCTD được coi là trụ cột quan trọng của tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo bền vững, góp phần huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực xã hội.

Có thể khái quát vai trò của TCTD đối với sự phát triển kinh tế - xã hội như sau:

Một là, tạo ra những tác động tích cực thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, thông qua việc gia tăng tiết kiệm và đầu tư. TCTD thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua tăng cường khả năng huy động các khoản tiết kiệm và đầu tư để phát triển sản xuất. TCTD góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua huy động tiết kiệm và đầu tư vào lĩnh vực sản xuất. Các chính sách TCTD hiệu quả tác động lên các ngành kinh tế, góp phần giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế nhanh.

Hai là, TCTD giúp người nghèo được tiếp cận các dịch vụ tài chính phù hợp với giá cả phải chăng. Do thu nhập thấp và không ổn định, nên khi các nhu cầu tài chính xuất hiện, nếu không thể tiếp cận các dịch vụ chính thức và bán chính thức, người nghèo phải tìm đến các dịch vụ tài chính phi chính thức hoặc tín dụng đen. Điều này mang lại nhiều rủi ro cho người dân. Trong khi đó, TCTD mang lại cơ hội tiếp cận hệ thống tài chính chính thức với mức chi phí hợp lý cho tất cả các thành phần của nền kinh tế, đặc biệt là nhóm dân cư “yếu thế”…

Ba là, TCTD góp phần tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo và tăng phúc lợi cho người nghèo. Tiếp cận các sản phẩm, dịch vụ tài chính như: Tiết kiệm, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền kiều hối và bảo hiểm sẽ giúp người nghèo tăng khả năng tích luỹ tài sản, chống chịu trước những cú sốc kinh tế, đồng thời tăng khả năng tạo công ăn việc làm, cải thiện thu nhập thông qua các khoản tín dụng tiếp cận được. Đồng thời, tạo niềm tin thúc đẩy nhu cầu đầu tư, kinh doanh, cải thiện năng suất lao động tại các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa.

Bốn là, cung cấp một nền tảng thúc đẩy giáo dục tài chính, tạo thói quen tiết kiệm, đặc biệt là đối với những người có thu nhập thấp, luôn sống dưới áp lực tài chính, thiếu kỹ năng quản lý dòng tiền, làm cho họ trở thành nhóm dễ bị tổn thương.

Năm là, TCTD là một phương thức chống thất thoát trong việc phân phối những khoản trợ cấp và các khoản phúc lợi khác của Chính phủ thông qua tài khoản.

Phát triển tài chính toàn diện ở Việt Nam trong bối cảnh công nghệ số

Việt Nam đã và đang triển khai nhiều chính sách và hoạt động trong khuôn khổ tài chính toàn diện, như phát triển tài chính vi mô, thanh toán không dùng tiền mặt, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng của người dân…

Theo Quyết định 1726/QĐ-TTg phê duyệt đề án nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế do Thủ tướng Chính phủ ký ban hành vào ngày 5/9/2016, NHNN có nhiệm vụ xây dựng Dự thảo khung chiến lược quốc gia tài chính toàn diện dự kiến trình Thủ tướng thông qua vào năm 2020.

Mục tiêu tổng quát của chiến lược này là phấn đấu đảm bảo tất cả người dân và DN, nhất là người dân ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, các DNNVV có quyền tiếp cận và sử dụng hiệu quả các sản phẩm, dịch vụ tài chính chính thức, phù hợp với nhu cầu, có chất lượng, tiện lợi, nhanh chóng với mức chi phí hợp lý trên cơ sở phát triển hệ thống các TCTD hoạt động an toàn, hiệu quả và bền vững.

Ngoài ra, NHNN - cơ quan được Chính phủ giao chủ trì điều phối tài chính toàn diện tại Việt Nam và xây dựng Chiến lược quốc gia về tài chính toàn diện cũng đã phối hợp chặt chẽ với các đối tác quốc tế, các nền kinh tế thành viên APEC triển khai các nội dung hợp tác, trong đó có nội dung về giáo dục tài chính và bảo vệ người tiêu dùng.

NHNN cũng tích cực tham gia các chương trình, diễn đàn hợp tác về tài chính toàn diện của Quỹ Đầu tư phát triển Liên hợp quốc; Tiến hành thủ tục tham gia Liên minh tài chính toàn diện; Triển khai các chương trình, dự án về tài chính toàn diện của WB/Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB); Tổ chức các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức và kiến thức về tài chính toàn diện, đồng thời tích cực hoàn thiện lộ trình xây dựng Chiến lược quốc gia về tài chính toàn diện...

Theo Lê Phương Lan, Nguyễn Thị Hương Thanh (2017), TCTD tuy mới du nhập vào Việt Nam nhưng nội hàm của nó cũng đã được Chính phủ quan tâm chú trọng từ nhiều năm trước. Các quan điểm, mục tiêu, định hướng và giải pháp trong các Chiến lược phát triển lớn của Việt Nam như: Các Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từng giai đoạn, Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đều hướng tới việc nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của nhân dân; Tạo cơ hội bình đẳng tiếp cận các nguồn lực phát triển và hưởng thụ các dịch vụ cơ bản, các phúc lợi xã hội; Thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ; Xây dựng đồng bộ, nâng cao chất lượng và tổ chức thực hiện có hiệu quả hệ thống pháp luật, thể chế và các chính sách phát triển kinh tế – xã hội, thực hiện ngày càng tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, bảo vệ và trợ giúp các đối tượng dễ bị tổn thương trong nền kinh tế thị trường.

Hiện nay, Chính phủ đang trong quá trình xây dựng Chiến lược TCTD quốc gia, dự kiến được ban hành vào năm 2020 làm cơ sở để triển khai một cách đồng bộ và có hiệu quả các trụ cột của TCTD. Trong đó, Chính phủ đang tập trung nguồn lực vào xây dựng, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý; Phát triển cơ sở hạ tầng tài chính, công nghệ; Đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ tài chính; Xây dựng cơ chế bảo vệ người tiêu dùng và giáo dục tài chính; Quan tâm, ưu tiên đối với các đối tượng dễ bị tổn thương (các doanh nghiệp siêu nhỏ, vừa và nhỏ, người nghèo nông thôn, phụ nữ…) nhằm hỗ trợ, giúp các đối tượng này này tiếp cận tốt hơn, hiệu quả hơn các dịch vụ tài chính, ngân hàng; Xây dựng cơ chế điều phối và phối hợp huy động tổng thể nguồn lực triển khai TCTD hiệu quả (các cơ quan quản lý, TCTD, tổ chức chính trị - xã hội, khu vực tư nhân…).

Phát triển tài chính toàn diện trong bối cảnh công nghệ sô - Ảnh 1

Theo các chuyên gia trong và ngoài nước, Việt Nam có khá nhiều thuận lợi trong ứng dụng công nghệ số thúc đẩy TCTD tại Việt Nam như: Cơ cấu dân số trẻ, dễ tiếp cận các trào lưu tiêu dùng mới; Tỷ lệ người sử dụng tài khoản cá nhân, ATM ngày càng cao; Tỷ lệ sử dụng internet và mobile thuộc nhóm cao nhất thế giới; Các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính, công ty viễn thông, công ty Fintech đã nhanh chóng nắm bắt và chú trọng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số… Song song với các yếu tố thuận lợi, cũng không ít thách thức được đặt ra như: Cách thức nào để cân bằng giữa đổi mới dịch vụ tài chính và kiểm soát rủi ro; Đảm bảo vấn đề bảo mật thông tin và an ninh mạng tài chính ra sao; Nền tảng công nghệ phù hợp với thực tiễn kinh tế địa phương; Cơ sở hạ tầng tài chính đã được cải thiện đáng kể nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu...

Một số kiến nghị

Nhằm thúc đẩy phát triển TCTD trong bối cảnh số ở Việt Nam, cần chú trọng một số vấn đề sau:

Một là, xây dựng một cơ sở dữ liệu quốc gia về TCTD để phục vụ cho việc hoạch định chính sách cũng như đánh giá việc triển khai thực hiện. Với vai trò đầu mối, Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục tăng cường tham gia vào các chương trình, diễn đàn quốc tế về TCTD, đẩy mạnh hợp tác về TCTD trong khuôn khổ APEC, ASEAN và với các đối tác phát triển như: Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á… nhằm huy động và tận dụng nguồn lực kỹ thuật và tài chính để triển khai TCTD thành công tại Việt Nam...

Hai là, cơ quan quản lý cần rà soát, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để thúc đẩy việc phát triển các dịch vụ ngân hàng như: Tín dụng, thanh toán, hoạt động bảo lãnh, cung cấp dịch vụ tài chính… để tiến tới dịch vụ TCTD. Hiện nay, hành lang pháp lý mặc dù đã có nhiều quy định, tuy nhiên, một số quy định chưa sát với bối cảnh và tình hình thực tế, do vậy chưa thực sự thúc đẩy cho sự phát triển của các dịch vụ ngân hàng nhất là với vấn đề ngân hàng điện tử, các dịch vụ thanh toán di động; Khắc phục những hạn chế này cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung một số quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển sản phẩm, dịch vụ thanh toán là rất cần thiết.

Ba là, chú trọng vào việc xây dựng một hệ thống cơ sở hạ tầng tài chính bền vững, tạo điều kiện phát triển đa dạng sản phẩm, dịch vụ, kênh phân phối hiện đại. Để làm được điều đó, cần phải nâng cấp hạ tầng công nghệ tương thích với nền tảng khoa học kỹ thuật hiện đại; đồng thời, có chính sách đào tạo nâng cao chất lượng nhân sự có khả năng vận hành và làm chủ hệ điều hành, cơ sở dữ liệu ngày càng phức tạp cũng như đảm bảo an ninh, an toàn trong quá trình hoạt động.

Bên cạnh đó, cần nhấn mạnh đến vai trò của công nghệ hiện đại và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực tài chính trong việc thúc đẩy sự phát triển các kênh phân phối mới dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại như: Ngân hàng điện tử, ngân hàng di động, ngân hàng đại lý để cung ứng dịch vụ/sản phẩm ngân hàng thông qua internet, điện thoại di động, thông qua việc cộng tác với các đại lý bán lẻ phi ngân hàng.

Bốn là, tăng cường đào tạo kỹ năng và năng lực tài chính cho người dân để họ có thể tiếp cận và sử dụng có trách nhiệm các dịch vụ tài chính, quản lý tốt hơn tình hình tài chính. Đồng thời, Chính phủ cần chỉ đạo và có chính sách triển khai các chương trình hành động về giáo dục tài chính tiếp cận các đối tượng khác nhau như: Trường học, chiến dịch nâng cao hiểu biết tài chính cho người dân… Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và giáo dục tài chính góp phần thay đổi nhận thức của người dân về nhằm nâng cao hiểu biết cũng như kỹ năng tài chính của người dân, từ đó họ mới có thể hiểu và sử dụng các dịch vụ được cung cấp.

Năm là, xây dựng một hệ thống các tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính hoạt động an toàn, hiệu quả và có trách nhiệm. Trong đó, phát huy vai trò của các tổ chức tài chính vi mô và các TCTD phi ngân hàng, cùng những loại hình định chế tài chính đặc biệt khác như Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Nhìn chung, cần xác định hệ thống Ngân hàng là xương sống của hệ thống tài chính Việt Nam khi mà tài sản của các ngân hàng (kể cả Ngân hàng Chính sách xã hội và ngân hàng Phát triển Việt Nam) chiếm tới 200% GDP và hơn 90% tổng tài sản của các định chế tài chính. Với lợi thế này, trong thời gian tới, cần có chính sách khuyến khích nhằm đảm bảo phát triển mạnh mẽ hơn nữa hoạt động của hệ thống ngân hàng, khuyến khích các ngân hàng đa dạng hóa các hình thức cho vay, các sản phẩm tín dụng…

Cùng với đó, quan tâm khuyến khích sự tham gia của các hình thức tổ chức tài chính phi ngân hàng bởi để hỗ trợ cho hoạt động tài chính có phạm vi rộng khắp, đến được với các hộ gia đình, cá nhân ở khu vực nông thôn, vùng xâu, vùng xa đòi hỏi có sự phát triển của các tổ chức tài chính phi ngân hàng.     

Tài liệu tham khảo:

  1. Trần Thị Hà, (2019), Tài chính toàn diện: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị
    cho Việt Nam, Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính;
  2. Lê Phương Lan, Nguyễn Thị Hương Thanh (2017), Chiến lược quốc gia về tài chính toàn diện ở Việt Nam – Ý nghĩa và sự cần thiết, Cổng thông tin điện tử Ngân hàng Nhà nước;
  3. Đức Việt (2019), Cần giải pháp thúc đẩy phát triển tài chính toàn diện
    tại Việt Nam, Thời báo Tài chính Việt Nam;
  4. Một số website: sbv.gov.vn, afi-global.org/, worldbank.org/en/topic/financialinclusion…
THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM