VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng
Giới thiệu tòa soạn Hotline: 0987 828 585
Tổ chức kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp ngành giống cây trồng ở Việt Nam

Kế toán quản trị chi phí có tầm quan trọng đặc biệt trong các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp.

Tổ chức kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp ngành giống cây trồng ở Việt Nam

Kế toán quản trị chi phí có tầm quan trọng đặc biệt trong các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, đặc điểm sinh học của cây trồng vật nuôi.

Hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần Lâm sản 19

Nghiên cứu kế toán quản trị chi phí môi trường tại Nhật Bản

Kế toán quản trị chi phí đối với doanh nghiệp dược trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

Vai trò của kế toán quản trị chi phí trong quản trị rủi ro kinh doanh cho doanh nghiệp

Tuy nhiên, hiện nay, các doanh nghiệp thuộc ngành giống cây trồng ở Việt Nam vẫn chưa nhận thức đầy đủ vấn đề này, do đó còn tồn tại nhiều hạn chế trong kế toán nói chung và kế toán quản trị chi phí nói riêng. Bài viết tìm hiểu về công tác kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp thuộc ngành giống cây trồng ở Việt Nam hiện nay và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Tổ chức kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp giống cây trồng ở Việt Nam hiện nay

Hiện nay, các doanh nghiệp (DN) thuộc ngành Giống cây trồng, mặc dù có sự khác nhau về quy mô vốn, loại hình hoạt động, đặc điểm quản lý, nhưng nhìn chung công tác tổ chức kế toán quản trị (KTQT) chi phí sản xuất đều có những ưu điểm sau:

Thứ nhất, hầu hết các DN đều tiến hành phân loại chi phí theo khoản mục chi phí đã giúp cho việc quản lý chi phí được thuận lợi hơn, đảm bảo được yêu cầu cung cấp các thông tin chi phí trên báo cáo tài chính (BCTC) theo quy định của Nhà nước.

Thứ hai, việc xác định đối tượng tập hợp chi phí và tính giá thành ở các DN thuộc ngành Giống cây trồng khá phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất và quy trình sản xuất của từng DN.

Thứ ba, hệ thống chứng từ kế toán về cơ bản được tổ chức hợp lý, chặt chẽ trong toàn bộ quá trình luân chuyển, các chứng từ đảm bảo tính hợp pháp, hợp lệ phục vụ công tác kế toán tài chính một cách chính xác, kịp thời.

Thứ tư, hệ thống tài khoản để tổ chức kế toán chi phí, giá thành sản phẩm dựa trên hệ thống tài khoản kế toán do Bộ Tài chính ban hành và được chi tiết tương đối hợp lý nhằm cung cấp thông tin cần thiết phục vụ nhu cầu quản trị DN.

Thứ năm, hệ thống sổ kế toán chi tiết và tổng hợp đảm bảo đúng quy định của Bộ Tài chính và khá đầy đủ, phần lớn các DN thuộc ngành Giống cây trồng áp dụng hình thức chứng từ ghi sổ nên khá phù hợp với năng lực và trình độ của cán bộ kế toán hiện nay.

Thứ sáu, việc lập BCTC trong các DN thuộc ngành Giống cây trồng được thực hiện một cách đầy đủ, kịp thời theo quy định (BCTC năm, BCTC giữa niên độ).

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm trên, trong quá trình thực thi cũng còn tồn tại một số hạn chế sau:

Một là, về tổ chức bộ máy kế toán và việc xác định ranh giới giữa kế toán tài chính và KTQT hiện nay: Hầu hết các DN thuộc ngành Giống cây trồng Việt Nam chưa xây dựng được mô hình KTQT nói chung và KTQT chi phí giá thành nói riêng. Tổ chức bộ máy kế toán thường gồm các bộ phận chính như: Kế toán các phần hành; Kế toán tổng hợp, chi phí giá thành; Kiểm tra nội bộ; Thống kê...

Đặc biệt, bộ phận kế toán chi phí được tổ chức ở bộ phận kế toán tổng hợp, bộ phận này sử dụng thông tin của các bộ phận khác như vật liệu, tiền lương, tài sản cố định… Vì vậy, thông tin nhận được ở bộ phận này thường chậm hơn các bộ phận khác. Điều này làm suy giảm chức năng quản lý chi phí dẫn đến giá thành sản phẩm còn cao, chưa hợp lý và do giá bán sản phẩm chưa phù hợp, dẫn đến khó có thể cạnh tranh được với sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài, đặc biệt là từ Trung Quốc. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến những tồn tại khác.

Hai là, công tác nhận diện, phân loại chi phí sản xuất và phân tích chi phí sản xuất. Hiện nay, việc phân loại chi phí tại các DN thuộc ngành Giống cây trồng Việt Nam chủ yếu phân loại theo nội dung để phục vụ cho việc lập BCTC. Đây là cách phân loại dựa trên những quy định của Nhà nước, những chi phí này được phân loại và ghi chép trên các tài khoản kế toán nhằm tổng hợp để tính toán và lập bảng tính giá thành sản phẩm, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Đó là những phần hành của kế toán tài chính. Còn các cách phân loại khác như: Phân loại chi phí theo mối quan hệ với khối lượng hoạt động, phân loại chi phí theo trách nhiệm quản lý… để phục vụ trực tiếp cho yêu cầu quản trị của DN thì chưa được quan tâm. Điều này chứng tỏ mức độ coi trọng, đầu tư vào việc hạch toán nội bộ ở DN chưa cao, chưa thấy hết tầm quan trọng của các thông tin do KTQT cung cấp trong việc ra quyết định quản trị ở DN.

Ba là, về xác định đối tượng, phương pháp tập hợp chi phí sản xuất: Việc tập hợp chi phí ở nhiều DN mới chỉ theo địa điểm phát sinh (trại, chi nhánh, công nghệ) mà chưa tập hợp chi tiết theo đối tượng chịu chi phí như sản phẩm, đơn đặt hàng, chủng loại sản phẩm; chưa xây dựng được định mức chi phí, kế hoạch chi phí cho từng sản phẩm, trại, chi nhánh…

Bốn là, về việc tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ, hệ thống tài khoản kế toán quản trị chi phí giá thành: Nhìn chung, việc vận dụng hệ thống chứng từ và hệ thống tài khoản kế toán tại các DN thuộc ngành Giống cây trồng Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu của KTQT nói chung và KTQT chi phí giá thành nói riêng. Các chứng từ và tài khoản vận dụng tại các DN chủ yếu phục vụ cho kế toán tài chính mà chưa có sự bổ sung để đáp ứng yêu cầu thu thập thông tin phục vụ yêu cầu quản trị sản xuất kinh doanh ở DN.

Năm là, hệ thống sổ kế toán chi tiết phục vụ cho công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành chưa đầy đủ, đặc biệt là kế toán chi tiết theo dõi từng địa điểm phát sinh, từng nhóm sản phẩm, từng sản phẩm, từng trung tâm chi phí. Điều này, dẫn đến hạn chế trong việc kiểm soát chi phí và giá thành sản phẩm.

Sáu là, việc lập dự toán chi phí, định mức chi phí: KTQT chi phí, giá thành sản phẩm mới chỉ dừng lại ở chức năng cung cấp thông tin quá khứ mà chưa phục vụ cho mục đích kiểm tra giám sát tình hình tuân thủ các định mức kinh tế kỹ thuật và dự toán chi phí sản xuất kinh doanh của DN. Tuy có một số DN có dự toán và định mức chi phí, song chưa đồng bộ, dẫn đến chưa sát với diễn biến thực tế thị trường cũng như tình hình kinh doanh của DN. Do đó, thông tin dự toán phục vụ cho mục đích kiểm tra, giám sát và ra quyết định của DN chưa sát thực, dẫn đến một số khó khăn trong việc ra quyết định của các nhà quản trị DN.

Bảy là, chưa thiết lập được hệ thống báo cáo nội bộ phục vụ cho quản trị DN. Nhìn chung, hiện nay, các DN thuộc ngành Giống cây trồng Việt Nam mới chỉ thực hiện BCTC bắt buộc của kế toán tài chính mà chưa thực hiện vận dụng, sửa đổi bổ sung các mẫu biểu để phục vụ quản trị nội bộ DN.

Tám là, chế độ kế toán Việt Nam trong những năm qua đã có những bước tiến quan trọng, song mới phù hợp với các DN thuộc các ngành sản xuất công nghiệp, xây dựng, còn đối với ngành nông nghiệp thì chưa hợp lý. Vì vậy, các DN thuộc ngành Giống cây trồng trong quá trình vận dụng còn gặp một số khó khăn và đôi khi thực hiện không thống nhất.

Một số giải pháp, kiến nghị

Trên cơ sở thực trạng của KTQT chi phí và giá thành sản phẩm tại các DN ngành Giống cây trồng nước ta và xu hướng phát triển của DN trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, bài viết khẳng định sự cần thiết phải tổ chức KTQT chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, đưa ra các nguyên tắc chung, nội dung cần hoàn thiện. Theo đó, các nội dung chủ yếu cần tập trung hoàn thiện như sau:

- Hoàn thiện tổ chức bộ máy KTQT trong các DN thuộc ngành Giống cây trồng Việt Nam theo mô hình kết hợp.

- Hoàn thiện tổ chức công tác lập, luân chuyển và lưu trữ chứng từ kế toán có liên quan đến KTQT chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.

- Hoàn thiện cách phân loại chi phí sản xuất để phục vụ cho KTQT và quản lý nội bộ DN.

- Xây dựng, bổ sung hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật cho các sản phẩm.

- Hoàn thiện hệ thống tài khoản kế toán, hoàn thiện hệ thống sổ kế toán chi tiết phục vụ cho KTQT chi phí giá thành sản phẩm.

- Hoàn thiện hệ thống báo cáo KTQT chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.

Để đảm bảo thực hiện được các nội dung trên cần có sự tham gia, phối hợp từ các cơ quan hữu quan đến DN, cụ thể:

Đối với Nhà nước và các cơ quan chức năng

Trong điều kiện hiện nay, sự nhận thức và các quan điểm về KTQT còn có những điểm khác nhau cả về lý luận và thực tiễn. Vì vậy, Nhà nước cũng như, các cơ quan chuyên ngành, các cơ sở đào tạo chuyên ngành, các nhà khoa học, kế toán có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức mô hình KTQT ở các DN:

Một là, tạo môi trường cho KTQT phát triển. Hiện nay, ở Việt Nam, KTQT chỉ mới được biết đến về mặt lý thuyết, thực tế chưa có DN, tổ chức nào thực hiện đầy đủ KTQT, cán bộ kế toán tại các DN chưa hiểu KTQT đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Chính vì vậy, cần tổ chức tuyên truyền để DN nhận thức về nội dung, vai trò quan trọng của KTQT đối với hoạt động sản xuất kinh doanh.

Hai là, cần có quan điểm nhất trí cơ bản về KTQT và sự cần thiết phải tổ chức KTQT cho các DN với những hình thức có tính chất quy định thích hợp, bước đầu cần yêu cầu DN thực hiện.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện các chính sách tài chính, chính sách kế toán, hoàn thiện về mặt lý luận KTQT DN bao gồm: Xác định rõ phạm vi và nội dung của KTQT trong các DN; Xác lập mô hình KTQT cho từng loại hình DN thuộc các thành phần kinh tế và theo quy mô của từng DN, đặc biệt là các DN thuộc ngành Giống cây trồng Việt Nam.

Bốn là, các cơ sở đào tạo chuyên ngành tài chính kế toán, các nhà khoa học tài chính kế toán cần nghiên cứu, biên soạn nhiều tài liệu, sách tham khảo về KTQT để tuyên truyền và hướng dẫn về tổ chức KTQT cho các DN. Đồng thời, tăng cường việc giảng dạy, bồi dưỡng kiến thức và sự hiểu biết về KTQT cho sinh viên, cán bộ kế toán trong DN.

Năm là, thực tế hiện nay nhiều DN chưa tổ chức KTQT vì chưa hiểu về KTQT cũng như chưa có kiến thức về nó, nên các trường đại học, cao đẳng, các nhà nghiên cứu về lĩnh vực này cần phải có nhiệm vụ giúp DN hiểu biết thêm về KTQT.

Đối với các doanh nghiệp thuộc ngành Giống cây trồng Việt Nam

Các DN thuộc ngành Giống cây trồng là nơi trực tiếp vận dụng và thực hiện KTQT nói chung và KTQT chi phí giá thành sản phẩm nói riêng, theo đó cần tập trung vào các nội dung sau:

- Cần tăng cường nhận thức về KTQT, cũng như sự cần thiết phải vận dụng tổ chức KTQT ở DN.

- Hoàn thiện cơ chế tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh ở DN. Các DN cần căn cứ vào điều kiện, quy mô sản xuất kinh doanh của từng DN và cơ chế quản lý kinh tế, tài chính mới. Các DN cũng cần hoàn thiện cơ chế tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh phù hợp với sự phân cấp quản lý nhằm tăng cường hạch toán kinh tế nội bộ; Xác định rõ mối quan hệ giữa các bộ phận trong đơn vị, giữa phòng kế toán với các bộ phận có liên quan trong toàn DN.

- Các DN thuộc ngành Giống cây trồng Việt Nam cần rà soát, bổ sung, xây dựng hệ thống các định mức kinh tế kỹ thuật và thường xuyên rà soát, bổ sung cho phù hợp với từng thời kỳ.

- Trong nền kinh tế mới, công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, các DN ngành Giống cây trồng cần xây dựng và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý sao cho phù hợp đặc thù của ngành, đặc thù và yêu cầu quản lý của đơn vị.

- Tổ chức bồi dưỡng kiến thức về KTQT cho cán bộ quản lý, cán bộ kế toán.

- Chủ động xây dựng mô hình tổ chức KTQT phù hợp với công ty; tổ chức sắp xếp, điều chỉnh và hoàn thiện tổ chức quản lý kinh doanh của công ty. Xây dựng và thiết kế hệ thống kiểm soát quản lý một cách phù hợp và hiệu quả...  

Tài liệu tham khảo:

Chính phủ (2003), Nghị định số 06/2003/NÐ-CP ngày 22/01/2003 quy định việc phân loại hàng hóa xuất khẩu, thuế nhập khẩu;

Nguyễn Tấn Bình (2008), Tài chính kế toán dành cho nhà quản trị, NXB Thống kê;

Đào Văn Tài, Võ Văn Nhị, Trần Anh Hoa (2003), Kế toán quản trị áp dụng cho các doanh nghiệp Việt Nam, NXB Tài chính, Hà Nội;

www.mof.gov.vn; www.vcci.com.vn, cuctrongtrot.gov.vn.

THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM