Để thị trường chứng khoán trở thành kênh huy động vốn hiệu quả

TS. NGUYỄN SƠN - Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

(Taichinh) -
(Tài chính) Mặc dù chỉ số thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam thuộc nhóm tăng cao trên thế giới trong những tháng đầu năm 2013, nhưng hoạt động của thị trường vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả huy động vốn trung và dài hạn của Việt Nam cũng như nền kinh tế.

“Bức tranh” huy động vốn trên thị trường chứng khoán

Tính đến ngày 8/10/2013, chỉ số VN-Index đứng ở mức 502,22 điểm (tăng 20% so với cuối năm 2012). Mức vốn hóa thị trường đạt 882.000 tỷ đồng, tăng 15,3% so với cuối năm 2012 và ở mức 31,4% GDP (trong đó sàn HSX chiếm khoảng 86% mức vốn hóa toàn thị trường).

6 tháng đầu năm 2013, VN-Index có sự góp mặt của 7 công ty niêm yết mới. Trong khi đó, có 21 công ty và 1 chứng chỉ quỹ bị hủy niêm yết (16 công ty hủy niêm yết bắt buộc, 3 công ty huỷ niêm yết tự nguyện và 2 công ty chuyển sang thị trường UpCoM), tổng số công ty niêm yết trên 2 sàn khoảng 698 công ty (chưa kể 135 công ty giao dịch trên hệ thống UpCoM).

Tổng mức huy động trên TTCK thông qua phát hành cổ phiếu, đấu giá cổ phần hóa (CPH) và đấu thầu trái phiếu chính phủ (TPCP) đạt 114.840 tỷ đồng tăng 37% so với cùng kỳ năm 2012. Tuy nhiên, huy động vốn qua phát hành cổ phiếu giảm mạnh, chỉ đạt 2.344 tỷ đồng (giảm 58% so với cùng kỳ); đấu giá CPH đạt 420 tỷ đồng (tăng 75% so với cùng kỳ); tổ chức được 110 đợt đấu thầu TPCP với tổng giá trị trúng thầu đạt trên 112.000 tỷ đồng (chiếm 67% so với tổng khối lượng trúng thầu cả năm 2012).

ảnh 1

Về hoạt động đầu tư, số lượng tài khoản nhà đầu tư (NĐT) đạt khoảng 1,2 triệu tài khoản, trong đó có khoảng 16.000 tài khoản của NĐT nước ngoài. Tính đến tháng 9/2013, giá trị danh mục đầu tư chứng khoán của NĐT nước ngoài đạt 11,5 tỷ USD, trong đó cổ phiếu niêm yết chiếm 70%, cổ phiếu chưa niêm yết (không tính vốn M&A) chiếm khoảng 9%, trái phiếu chiếm khoảng 18%. Dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thuần trong 9 tháng đầu năm 2013 cao gấp 3 lần cùng kỳ năm 2012...

Cơ hội và thách thức

Năm 2013, kinh tế thế giới và trong nước tiếp tục đối mặt với những khó khăn, thách thức nhưng cũng xuất hiện các cơ hội và điều kiện thuận lợi:

(i) Chính phủ tiếp tục triển khai các biện pháp để tái cấu trúc nền kinh tế khi các đề án về tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước (DNNN), hệ thống ngân hàng và TTCK đã được ban hành. Đồng thời, Chính phủ cũng sẽ tiếp tục thực hiện các chính sách để ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng năm 2013;

(ii) Chính phủ đã chỉ đạo triển khai các giải pháp tích cực nhằm tháo gỡ khó khăn cho DN, xử lý các vấn đề về nợ xấu trong hệ thống ngân hàng, thị trường bất động sản, tăng trưởng tín dụng và mặt bằng lãi suất;

(iii) Điều kiện kinh tế trong nước đã có những cải thiện nhất định khi lạm phát từng bước được kiềm chế (chỉ số CPI 9 tháng đầu năm chỉ tăng khoảng 4,63%); cán cân thương mại cải thiện, mặt bằng lãi suất có xu hướng giảm dần, tỷ giá được duy trì ổn định, dự trữ ngoại hối dần ổn định và có xu hướng tăng;

(iv) Bộ Tài chính cũng đã trình Chính phủ ban hành nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh và hỗ trợ thị trường thông qua các giải pháp về thuế, phí, hỗ trợ tài chính, chi tiêu ngân sách, đầu tư xây dựng cơ bản. Đặc biệt, các giải pháp tái cấu trúc DNNN sẽ tạo ra những tác động tích cực cho các DN và cả nền kinh tế;

(v) Ngân hàng Nhà nước cũng đưa ra nhiều giải pháp nhằm giảm dần mặt bằng lãi suất, triển khai các chương trình tín dụng hỗ trợ lãi suất đối với DN và tháo gỡ khó khăn thị trường bất động sản;

(vi) Khung pháp lý cho thị trường và cho công tác tái cấu trúc thị trường, đặc biệt là tái cấu trúc các công ty chứng khoán về cơ bản đã được hoàn thiện nên đây cũng là tiền đề rất quan trọng để thúc đẩy TTCK trong thời gian tới.

Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có các yếu tố không thuận lợi như: (i) Diễn biến kinh tế - tài chính thế giới dự báo còn phức tạp, tiềm ẩn nhiều rủi ro và tốc độ tăng trưởng toàn cầu khó phục hồi. Các tổ chức tài chính quốc tế đều dự báo hạ tăng trưởng các nền kinh tế lớn như Mỹ, khu vực Eurozone, Trung Quốc, Nhật Bản; (ii) Các chính sách kinh tế trong nước cần thực hiện đồng thời mục tiêu duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và vẫn bảo đảm tăng trưởng cao hơn so với năm 2012; (iii) Sức cầu trong nước còn yếu, khả năng cạnh tranh, hiệu quả của nền kinh tế còn thấp; (iv) Việc xử lý nợ xấu ngân hàng và tái cấu trúc là vấn đề lớn và không thể xử lý ngay trong ngày một ngày hai; (v) Ngân sách nhà nước sẽ còn có nhiều khó khăn, yêu cầu chi cho mục tiêu ổn định vĩ mô tăng nhưng nguồn thu có hạn.

Nếu không có giải pháp hỗ trợ TTCK thì DN không thể huy động vốn khi việc tiếp cận tín dụng ngân hàng rất hạn chế. Các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho DN, phá băng thị trường bất động sản, xử lý nợ xấu mà Chính phủ và các bộ, ngành đang triển khai sẽ khó có thể thực hiện suôn sẻ, vì DN mới là vấn đề “gốc” và ngân hàng chỉ là phần “ngọn”. Do vậy, việc hỗ trợ TTCK thông qua các chính sách kinh tế và công cụ tài chính đúng đắn là một việc làm cần thiết. Bên cạnh đó, sự phát triển ổn định của TTCK còn có tác dụng góp phần phát triển thị trường vốn, tăng nguồn đầu tư và ít nhiều “bình ổn” các thị trường liên quan khác như bất động sản, vàng...

Giải pháp nâng cao hiệu quả để huy động vốn

Thực hiện chủ trương của Chính phủ, các bộ, ngành đang tích cực triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho DN, TTCK thông qua các nhóm chính sách sau:

Đưa tín dụng chứng khoán ra khỏi lĩnh vực phi sản xuất

Quy định tín dụng chứng khoán thuộc vào diện phi sản xuất trong thời gian dài đã tác động tiêu cực đến tâm lý thị trường nhiều hơn ở khía cạnh dòng tiền. Bản chất phát triển của TTCK với tư cách là kênh huy động vốn trung và dài hạn chủ đạo của nền kinh tế, việc cung ứng vốn cho TTCK là dòng vốn hỗ trợ để cung ứng vốn cho DN và tạo động lực để đẩy nhanh quá trình CPH. Việc cho rằng tín dụng bơm ra TTCK bị sử dụng để đầu cơ cổ phiếu là chưa thỏa đáng, mà một phần không nhỏ tín dụng chảy vào các DN, nhất là thông qua các đợt phát hành tăng vốn.

Thông điệp của Chính phủ không hạn chế tín dụng phi sản xuất năm 2013 và việc gỡ bỏ quy định đối với tín dụng cho lĩnh vực chứng khoán là một giải pháp hợp lý nhằm tạo ra sức cầu cho phát triển thị trường tiền tệ và chứng khoán. Bên cạnh đó, thực hiện cơ chế kiểm soát tín dụng dựa trên quản trị rủi ro và kiểm soát hiệu quả dòng tiền sẽ là tối ưu hơn cho cả ngân hàng lẫn TTCK.

Về ngắn hạn, quy định này sẽ có tác động đến tâm lý người đầu tư, khi động thái của các cơ quan quản lý đang phát đi một tín hiệu là thị trường sẽ được quan tâm và nhìn nhận đúng bản chất hơn. Về dài hạn, khi kinh tế vĩ mô dần ổn định, thị trường có dấu hiệu hồi phục, việc đưa tín dụng chứng khoán ra khỏi khu vực phi sản xuất có thể hỗ trợ thị trường khá lên, từ đó TTCK lại hỗ trợ trở lại cho DN và nền kinh tế.

Gỡ khó cho doanh nghiệp thông qua cơ chế...

Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, TTCK sụt giảm, việc tiếp cận vốn của các DN trở nên khó khăn hơn. Do giá cổ phiếu trên thị trường thấp hơn mệnh giá, không ít DN chấp nhận phát hành cổ phiếu với giá thấp hơn mệnh giá nhằm huy động vốn. Để tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn cho DN huy động vốn, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã hướng dẫn một số DN được phép phát hành dưới mệnh giá với điều kiện Quỹ thặng dư vốn cổ phần của DN (của các lần phát hành trước) đảm bảo bù đắp được phần chênh lệch cho khoản thặng dư cổ phần âm do phát hành dưới mệnh giá.

Việc cho phép DN được phép phát hành dưới mệnh giá đối với DN thông thường (không bao gồm các DN thuộc các ngành kinh doanh có điều kiện như công ty chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm…) trên cơ sở nghị quyết đại hội cổ đông thông qua và DN phải có lãi, không có lỗ lũy kế và các thông tin về DN phải minh bạch, công khai trong bản cáo bạch và phải đáp ứng đủ các điều kiện phát hành quy định tại Luật Chứng khoán. Riêng đối với ngân hàng, tổ chức bảo hiểm nếu được cơ quan quản lý chấp thuận thì có thể phát hành dưới mệnh giá. Nếu tháo gỡ vấn đề này, sẽ giúp cho DN huy động vốn, từ đó sẽ xử lý được vấn đề nợ xấu và gỡ khó cho ngân hàng.

Nới tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài

Để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, hỗ trợ quá trình tái cấu trúc khu vực DN trong nước, cần thiết phải có chính sách nới lỏng việc tham gia sở hữu có yếu tố nước ngoài trong các DN nói chung và các lĩnh vực kinh doanh có điều kiện nói riêng (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm). Hiện nay, Bộ Tài chính đang trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định thay thế Quyết định 55/2009/QĐ-TTg về tỷ lệ tham gia của NĐT nước ngoài trên TTCK Việt Nam, theo hướng:

Đối với công ty niêm yết: Cho phép NĐT nước ngoài sở hữu tối đa 60% cổ phiếu không có quyền biểu quyết của công ty niêm yết có nhu cầu huy động vốn nước ngoài được đại hội đồng cổ đông thông qua, ngoại trừ các trường hợp quy định pháp luật chuyên ngành hoặc các cam kết quốc tế Việt Nam chưa cho phép. Đối với cổ phiếu không có quyền biểu quyết phát hành theo Luật DN thì không hạn chế sở hữu nước ngoài, hướng tới cho phép NĐT nước ngoài nắm giữ các chứng chỉ lưu ký cổ phiếu không có quyền biểu quyết (NVDR);

Đối với tổ chức kinh doanh chứng khoán: Bên cạnh việc cho phép tổ chức đầu tư nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm được tham gia góp vốn, mua cổ phần để thành lập công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ 100% vốn nước ngoài dưới hình thức TNHH hoặc cổ phần tại Việt Nam theo cam kết WTO và Nghị định 58/2012/NĐ-CP, cần hướng tới cho phép tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài mua, nắm giữ cổ phần trên 49% đến 100% đối với các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ hiện nay để đẩy nhanh quá trình tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán.

Tăng thanh khoản cho thị trường

Biên độ giao dịch được coi là một công cụ kỹ thuật để điều tiết thị trường. Khi thị trường có dấu hiệu tăng điểm nhẹ và tính thanh khoản ở mức hợp lý, việc mở rộng biên độ giao dịch cùng với một số giải pháp kỹ thuật khác sẽ tạo hiệu ứng tốt để hỗ trợ tâm lý thị trường. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu triển khai áp dụng hệ thống ngắt mạch tự động thị trường sẽ góp phần hỗ trợ công tác quản lý, giám sát thị trường hiệu quả hơn.

Bên cạnh việc mở rộng tỷ lệ giao dịch ký quỹ (margin) lên 50%, từng bước nghiên cứu đưa vào áp dụng hệ thống giao dịch bán khống có điều kiện (sortselling); Hoàn thiện hệ thống lưu ký, đăng ký, bù trừ, thanh toán chứng khoán trên cơ sở phát triển các chức năng thanh toán bù trừ đối tác trung tâm (CCP) và chức năng vay, cho vay chứng khoán (SBL) của Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam; Từng bước thực hiện chuyển thanh toán giao dịch chứng khoán từ NHTM sang NHNN.

Gỡ khó cho doanh nghiệp bằng chính sách thuế

Xây dựng chính sách ưu đãi về thuế đối với các định chế quỹ mới (Quỹ ETF, quỹ mở, Quỹ đầu tư bất động sản, công ty đầu tư chứng khoán, quỹ hưu trí tự nguyên), cụ thể:

Trong giai đoạn đầu (khoảng 5 năm) giảm thuế đối với các giao dịch chuyển nhượng các chứng chỉ quỹ/cổ phiếu công ty đầu tư chứng khoán này, miễn thuế đối với lợi tức được chia từ các quỹ cho NĐT;

Cho phép đưa khoản đóng góp vào quỹ hưu trí tự nguyện của DN cho người lao động vào chi phí hợp lý để tính thuế TNDN và miễn thuế đối với khoản đóng góp của bản thân người lao động (có giới hạn mức đóng góp được miễn thuế); Miễn thuế cho khoản thu nhập tích lũy vào quỹ trong suốt quá trình hoạt động của quỹ; Miễn thuế thu nhập khi người tham gia quỹ hưu trí nhận lương từ quỹ hưu trí theo hình thức chi trả từng tháng.

Đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Tính đến tháng 9/2013, giá trị danh mục đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư nước ngoài tại TTCK Việt Nam đạt 11,5 tỷ USD, trong đó cổ phiếu niêm yết chiếm 70%, cổ phiếu chưa niêm yết (không tính vốn M&A) chiếm khoảng 9%, trái phiếu chiếm khoảng 18%.
Thúc đẩy tiến trình CPH các DNNN theo đúng lộ trình và niêm yết trên TTCK theo đúng quy định tại Luật Chứng khoán. CPH DNNN không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với thị trường vốn mà còn nâng cao hiệu quả của nền kinh tế. Sự phát triển của TTCK tạo điều kiện thúc đẩy quá trình CPH của DNNN.

Nhiệm vụ trước mắt là định hướng cho các DN CPH gắn với chào bán ra công chúng và đưa vào niêm yết, đặc biệt là các DN lớn xây dựng lộ trình đưa cổ phiếu vào niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán, tạo hàng hóa chất lượng cho TTCK. Ngoài ra, việc thúc đẩy CPH, đặc biệt các NĐT chiến lược nước ngoài sẽ góp phần thu hút vốn đầu tư.

Triển khai các sản phẩm mới

Tiếp tục triển khai các sản phẩm mới trên thị trường như quỹ mở, công ty đầu tư chứng khoán, quỹ đầu tư bất động sản, quỹ ETF, quỹ Hưu trí tự nguyện, chứng khoán hóa khoản vay thế chấp mua bất động sản... nhằm đa dạng hóa TTCK, tạo tính thanh khoản và thu hút NĐT có tổ chức.

Hiện nay, sản phẩm giao dịch trên thị trường còn đơn giản, chỉ có các sản phẩm chứng khoán cơ sở (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đóng) và chưa có thị trường dành cho sản phẩm cơ cấu, sản phẩm phái sinh. Đối với thị trường chứng chỉ quỹ, hiện mới chỉ có quỹ đóng hoạt động với số lượng ít (23 quỹ, trong đó có 6 quỹ đại chúng), quy mô nhỏ, tỷ trọng giao dịch chứng chỉ quỹ niêm yết so với toàn thị trường giảm dần qua các năm, thị giá của chứng chỉ quỹ quá thấp (6/6 quỹ có giá dưới mệnh giá), tỷ lệ chiết khấu giữa thị giá và giá trị tài sản ròng lớn (13% - 48%).

Điều này thể hiện chứng chỉ quỹ đóng không còn hấp dẫn đối với NĐT. Bản thân các quỹ đóng cũng có nhu cầu chuyển sang loại hình khác nhằm tháo gỡ các khó khăn hiện tại. Về cầu đầu tư thị trường, số lượng NĐT tương đối lớn (khoảng 1.200.000 NĐT), tuy nhiên cơ sở NĐT còn chưa vững chắc do thiếu vắng NĐT có tổ chức làm nền tảng (hiện chỉ chiếm 4%), do đó TTCK Việt Nam hiện rất cần các NĐT tổ chức, NĐT chuyên nghiệp để đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững…

Đẩy nhanh tái cấu trúc thị trường chứng khoán

Tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán: tăng cường công tác giám sát, kiểm tra đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán nhằm hỗ trợ công tác tái cấu trúc công ty chứng khoán. Đồng thời, xây dựng hệ thống trung gian thị trường vững mạnh thông qua việc nâng cao chất lượng hoạt động, năng lực tài chính.

Tăng cường công tác quản lý, giám sát: tiếp tục tăng cường công tác giám sát giao dịch, kịp thời phát hiện các dấu hiệu giao dịch bất thường, giao dịch nội bộ, thao túng giá chứng khoán... thanh tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quy định của pháp luật trên TTCK.

Phát triển thị trường TPCP trên cơ sở hoàn thiện hệ thống tổ chức thị trường từ sơ cấp đến thị trường thứ cấp cho TPCP, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương. Từng bước cơ cấu lại số lượng trái phiếu đang lưu hành thông qua hoán đổi về các mã chuẩn, thực hiện phát hành trái phiếu theo lô lớn để tăng tính thanh khoản, xây dựng đường cong lợi suất chuẩn, hình thành hệ thống nhà tạo lập thị trường trái phiếu (PD) và thành lập công ty định mức tín nhiệm để đánh giá rủi ro thị trường nợ.

Xây dựng TTCK phái sinh theo lộ trình phát triển các sản phẩm phái sinh từ đơn giản đến phức tạp, phù hợp với năng lực quản lý, giám sát và quản trị các rủi ro trên thị trường. Trước mắt, phát triển các sản phẩm phái sinh gắn liền với chỉ số chứng khoán (Index - future; index - option; Bond - future; Bond - option) về lâu dài sẽ phát triển các sản phảm phái sinh dựa trên cổ phiếu, vàng lãi suất, hàng hóa.

Như vậy, việc hoàn thiện các chính sách, giải pháp tháo gỡ khó khăn cho DN và TTCK nhằm hỗ trợ và thúc đẩy TTCK vượt qua giai đoạn khó khăn nội tại cũng như khó khăn chung của nền kinh tế.

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 11 - 2013

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục