Việt Nam tham gia các Hiệp định FTA: Thực trạng, cơ hội và thách thức

ThS. TRẦN THỊ TRANG

(Taichinh) - (Tài chính) Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, mở rộng tự do hóa thương mại, làn sóng ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đang trở nên mạnh mẽ trên khắp thế giới và trở thành một xu thế mới trong quan hệ kinh tế quốc tế. Không nằm ngoài xu thế đó, trong những năm qua Việt Nam đã rất nỗ lực, tích cực tham gia ký kết nhiều Hiệp định FTA, mở ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế - xã hội.

Thực trạng tham gia FTA của Việt Nam

Hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement – FTA) là thỏa thuận giữa các bên tham gia ký kết dành cho nhau ưu đãi về mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, thuế quan. Thực hiện cam kết FTA, các nước phải tiến hành theo lộ trình việc cắt giảm và xóa bỏ hàng rào thuế quan, phi thuế quan nhằm tiến tới việc thành lập một khu vực mậu dịch tự do.

Theo thống kê của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), hiện trên thế giới có khoảng gần 400 Hiệp định FTA song phương, đa phương có hiệu lực. Các Hiệp định FTA diễn ra dưới hình thức song phương và đa phương, nghĩa là có thể được thực hiện giữa hai nước riêng lẻ hoặc có được giữa một khối thương mại và một quốc gia như Hiệp định FTA Liên minh châu Âu (EU) - Chile, Hiệp định FTA ASEAN - Trung Quốc, Hiệp định FTA Việt Nam – EU…

Việc hình thành các Hiệp định FTA hiện đang là xu thế tất yếu trong quá trình hội nhập, phát triển mà các quốc gia không thể đứng ngoài cuộc. Nhận thức rõ điều này, trong những năm qua Việt Nam rất tích cực tham gia đàm phán, ký kết các Hiệp định FTA song phương và đa phương. Đến nay, Việt Nam đã chính thức tham gia, ký kết và thực hiện 8 Hiệp định FTA.

ảnh 1

Tháng 07/1995, Việt Nam đã ký kết các điều ước quốc tế gia nhập ASEAN và chính thức tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) vào tháng 01/1996. Tiếp đó, Việt Nam đã tham gia một số Hiệp định FTA như: ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) được thiết lập bởi Hiệp định khung về hợp tác kinh tế ASEAN – Trung Quốc năm 2002, Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN – Trung Quốc (ACTIG) năm 2004, thực hiện từ 01/07/2005; riêng Việt Nam còn được điều chỉnh bởi Biên bản ghi nhớ Việt Nam – Trung Quốc (tháng 07/2005); ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA) được thiết lập bởi Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN – Hàn Quốc (AKTIG) ký kết tháng 08/2006, thực hiện từ 01/06/2007; Khu vực thương mại tự do ASEAN – Nhật Bản (AJFTA) được thiết lập bởi Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản (AJCEP) ký kết năm 2003, thực hiện từ năm 2008; riêng Việt Nam còn được điều chỉnh bởi Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA) năm 2008, thực hiện từ 01/01/2009.

Bên cạnh đó, khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Australia/New Zealand (AANZFTA) được thiết lập bởi FTA và quan hệ kinh tế thân thiện toàn diện ASEAN-Australia/New Zealand (AANZCERFTA), ký kết tháng 02/2009, thực hiện từ 01/01/2010 cũng đều có sự tham gia của Việt Nam. Khu vực thương mại tự do ASEAN - Ấn Độ (AIFTA) được hình thành và thiết lập bởi Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Ấn Độ (AICECA) ký năm 2003 và Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN - Ấn Độ (AITIG) ký kết năm 2009, thực hiện từ 01/06/2010. Khu vực thương mại Việt Nam – Chile được thiết lập bởi Hiệp định FTA song phương Việt Nam – Chile ký kết tháng 10/2011.

Đặc biệt, từ giữa năm 2012, tiến trình đàm phán tham gia các Hiệp định FTA đã được đẩy mạnh hơn. Đến cuối năm 2014, Việt Nam và các đối tác đã kết thúc đàm phán 3 Hiệp định FTA song phương và đa phương: Hiệp định FTA Việt Nam với EU (EVFTA), với Hàn Quốc (VKFTA), với Liên minh Hải quan Nga - Belarus - Kazakhstan (VCUFTA). Đây là dấu ấn rất quan trọng của Việt Nam trên con đường hội nhập ngày càng sâu hơn với kinh tế thế giới.

Nhìn lại các Hiệp định giữa Việt Nam với các đối tác cho thấy, Việt Nam luôn chủ động, tích cực tham gia đàm phán. Cụ thể là:

Hiệp định FTA Việt Nam - EU, được khởi động từ tháng 6/2012 tại Brussels (Bỉ), đã trải qua 10 phiên chính thức và nhiều phiên giữa kỳ. Ngày 13/10/2014, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch Ủy ban châu Âu (EC) Manuel Barroso đã có buổi thảo luận về kết thúc đàm phán FTA này. Hiện hai bên tập trung xử lý một số vấn đề then chốt để hướng tới việc thực hiện các cam kết đạt yêu cầu chất lượng cao và cân bằng trong tất cả các lĩnh vực đàm phán mở cửa thị trường (thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư, mua sắm công) cũng như các quy định và quy tắc quản lý (đặc biệt là sở hữu trí tuệ, bao gồm chỉ dẫn địa lý của hai bên; doanh nghiệp nhà nước và bảo hộ đầu tư...).

Hiệp định FTA Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA) được khởi động từ tháng 8/2012, sau 8 phiên đàm phán chính thức và 8 phiên họp giữa kỳ, hai bên đã đi đến thống nhất nội dung Hiệp định với phạm vi toàn diện, mức độ cam kết cao và bảo đảm cân bằng lợi ích. Nhân dịp Hội nghị Cấp cao đặc biệt kỷ niệm 25 năm thiết lập quan hệ đối thoại ASEAN - Hàn Quốc, ngày 10/12/2014 tại Bu-san (Hàn Quốc), hai nước đã ký Biên bản thoả thuận về kết thúc đàm phán Hiệp định FTA Việt Nam - Hàn Quốc. Trong Hiệp định này, phía Hàn Quốc dành cho Việt Nam ưu đãi cắt, giảm thuế quan, tạo cơ hội xuất khẩu mới quan trọng đối với các nhóm hàng nông nghiệp, thủy hải sản chủ lực, công nghiệp dệt, may, sản phẩm cơ khí và tạo cơ hội cho các lĩnh vực dịch vụ, đầu tư, hỗ trợ kỹ thuật trên nhiều lĩnh vực. Phía Việt Nam cũng dành ưu đãi cho Hàn Quốc với các nhóm hàng công nghiệp, nguyên phụ liệu dệt, may, nhựa, linh kiện điện tử, xe tải và xe con, phụ tùng ô tô, điện gia dụng, sắt thép, dây cáp điện, góp phần đa dạng hóa thị trường nhập khẩu, tránh phụ thuộc vào một vài nước.

Hiệp định FTA Việt Nam - Liên minh Hải quan Nga - Belarus-Kazacstan (VCUFTA), được khởi động vào tháng 3/2013. Sau 8 phiên đàm phán chính thức và nhiều phiên họp giữa kỳ ở cấp kỹ thuật, hai bên cũng đã thống nhất nội dung Hiệp định với phạm vi toàn diện, mức độ cam kết cao và bảo đảm cân bằng lợi ích, có tính đến điều kiện cụ thể của mỗi bên. Ngày 15/12/2014, hai bên đã ký Tuyên bố kết thúc đàm phán Hiệp định. Theo đó, phía Liên minh Hải quan đã dành cho Việt Nam ưu đãi về các mặt hàng như: nông sản, bao gồm tất cả các mặt hàng thủy sản và hàng công nghiệp như dệt, may, da giày, đồ gỗ và một số sản phẩm chế biến. Đồng thời, Việt Nam cũng mở cửa thị trường theo lộ trình cho Liên minh Hải quan đối với một số sản phẩm chăn nuôi, hàng công nghiệp, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, góp phần làm đa dạng hóa thêm thị trường tiêu dùng trong nước.

ảnh 2

Thời cơ và thách thức

Việc tích cực tham gia đàm phán và ký kết các Hiệp định FTA đã mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam, tuy nhiên, đi liền với đó là không ít thách thức đòi hỏi nền kinh tế nước ta phải có nỗ lực vượt bậc để đạt được thành công.

Từ 1/1/2015, Việt Nam cắt giảm 1.720 dòng thuế từ mức thuế suất 5% về 0%, theo Hiệp định FTA ASEAN. Năm 2015 chỉ còn 7% dòng thuế, tương đương với khoảng trên 600 mặt hàng được xem là nhạy cảm chưa cắt giảm về 0%.

EU là một trong những thị trường nhập khẩu hàng hóa lớn của Việt Nam, đặc biệt là nhóm hàng da giày, dệt may và nông nghiệp, thủy sản. Theo thống kê năm 2014, EU là thị trường nhập khẩu da giày lớn nhất với trị giá trên 2 tỷ USD, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm 2013 và chiếm đến trên 35% kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam. Tiếp sau là các mặt hàng dệt may, thủy sản với kim ngạch xuất khẩu lần lượt đạt 1,98 tỷ USD và trên 950 triệu USD. Hiện tại, EU là bạn hàng lớn thứ 2 về xuất khẩu, thứ 5 về nhập khẩu của Việt Nam. Sau khi ký Hiệp định, sẽ có 90% hàng hóa của Việt Nam vào thị trường EU được hưởng mức thuế suất 0%. Nhằm tận dụng cơ hội từ thị trường EU, hiện Việt Nam đang điều chỉnh chiến lược thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), chú trọng chất lượng nhà đầu tư với khả năng chuyển giao công nghệ mới… Tuy nhiên, EU là một thị trường khó tính, cạnh tranh đòi hỏi những tiêu chuẩn kỹ thuật, khả năng quản trị, công nghệ cao nếu DN Việt Nam không thay đổi để thích ứng thì khó có thể tham gia sâu vào thị trường này.

Hiệp định FTA Việt Nam - Hàn Quốc không chỉ có ý nghĩa tăng cường hợp tác thương mại song phương hướng tới mục tiêu 70 tỷ USD vào năm 2020, mà còn góp phần thúc đẩy toàn diện quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược Việt Nam - Hàn Quốc. Theo dự báo, khi thực hiện Hiệp định FTA song phương này, các DN Hàn Quốc sẽ có một “cuộc đổ bộ” lớn vào Việt Nam. Tính đến nay, Hàn Quốc là đối tác đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam cả về quy mô tổng vốn đầu tư và số dự án, với tổng vốn đăng ký đạt 36,71 tỷ USD và 4.063 dự án đầu tư còn hiệu lực. Các DN FDI Hàn Quốc là thành phần quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, sử dụng trên 50 vạn lao động và đóng góp trên 25% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam. Việt Nam cũng là đối tác đầu tư ra nước ngoài lớn thứ 3 của Hàn Quốc sau Mỹ, Trung Quốc. Khoảng 95% các dự án đầu tư của Hàn Quốc được thực hiện bởi các DN nhỏ và vừa (quy mô dưới 500 người, doanh thu dưới 150 triệu USD) chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp nhẹ như ngành may mặc, sản xuất giày, dép… Quan hệ thương mại giữa hai nước trong những năm qua cũng phát triển mạnh, từ 500 triệu USD năm 1992 lên 2,1 tỷ USD năm 2000, 278,3 tỷ USD vào năm 2013, con số này tính đến hết tháng 10/2014 đã tăng trên 4,5% so với cùng kỳ năm 2013. Hai nước đặt mục tiêu nâng kim ngạch thương mại song phương lên 70 tỷ USD vào năm 2020, dự kiến sẽ chiếm 30% tổng kim ngạch thương mại ASEAN - Hàn Quốc (200 tỷ USD). Tuy nhiên, trong những năm qua, Hàn Quốc là một trong những đối tác mà Việt Nam có thâm hụt thương mại cao nhất (năm 2013 là 14,067 tỷ USD) do Việt Nam phải nhập khẩu máy móc, thiết bị, tư liệu sản xuất. Số lượng các DN Việt Nam có hoạt động kinh doanh xuất, nhập khẩu với Hàn Quốc tính đến hết tháng 11/2014 là 13,1 nghìn DN, năm 2013 con số này là 10,9 nghìn DN.

Liên minh Hải quan (gồm Nga, Belarus, Kazakhastan) là thị trường rộng lớn, mới mở cửa, có mức tăng trưởng GDP khá và tương đối ổn định. Tổng GDP của khối hiện nay đạt khoảng 2.500 tỷ USD. Đối với hàng tiêu dùng, đây cũng là thị trường không quá khó tính, nhu cầu tiêu dùng hàng nhập khẩu đang ngày càng được đa dạng hóa, nhất là trong bối cảnh phương Tây gia tăng trừng phạt kinh tế Nga. Dự báo, sau khi FTA Việt Nam - Liên minh Hải quan có hiệu lực, kim ngạch hai chiều của hai bên sẽ tăng bình quân 18 - 20%/năm, từ mức khoảng 4 tỷ USD năm 2014 lên 10 - 12 tỷ USD vào năm 2020. Lĩnh vực đầu tư, dịch vụ tài chính - ngân hàng, logistics và hợp tác về hải quan cũng được hai bên ưu tiên tự do hóa. FTA sẽ giúp cho DN hai bên học hỏi lẫn nhau để cùng phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh, đồng thời cũng tạo cơ hội cho Việt Nam tranh thủ tiếp thu công nghệ tiên tiến của Liên minh này trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Bên cạnh các cơ hội lớn, cũng có không ít thách thức đang đặt ra đối với Việt Nam yêu cầu cần phải thay đổi để khắc phục các hạn chế, yếu kém để tận dụng thời cơ phát triển. Cụ thể:

Thứ nhất, về năng lực quản lý. Thách thức đặt ra với cơ quan quản lý nhà nước cần phải hoàn thiện và bổ sung cơ chế, chính sách về phát triển các ngành công nghiệp nội địa trong khi năng lực cạnh tranh vẫn yếu kém. Thực tế, hệ thống pháp luật và năng lực quản lý Nhà nước trên một số lĩnh vực trực tiếp liên quan đến hội nhập quốc tế nói chung và tham gia FTA nói riêng hiện còn nhiều bất cập. Kết cấu hạ tầng còn yếu kém, nhất là hạ tầng phát triển kinh tế và xuất nhập khẩu. Chất lượng nguồn nhân lực, nhất là đội ngũ chuyên gia còn nhiều hạn chế, cả ở trong khâu đàm phán ký kết FTA và thực hiện các cam kết. Ngoài ra, những thách thức từ việc giảm thuế nhập khẩu dẫn đến giảm thu ngân sách; Cơ cấu XNK thâm hụt ngân sách ngày càng gia tăng, đặc biệt với các đối tác như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và ASEAN; Sự phối hợp giữa các bộ, ngành, giữa trung ương với địa phương chưa thực sự hiệu quả, từ đó dẫn đến lúng túng khi đưa ra chính sách và xử lý các vấn đề phát sinh trong khi sức ép từ các ràng buộc cam kết trong Hiệp định FTA ngày càng tăng.

Thứ hai, năng lực cạnh tranh của DN còn yếu. Mặc dù được tạo điều kiện, các DNNN vẫn chưa phát huy được vai trò dẫn dắt, chủ đạo trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới và phát triển công nghệ. Khu vực tư nhân đã phát triển nhưng quy mô còn nhỏ và hạn chế về năng lực tài chính, công nghệ; các ngành sản xuất trong nước phải đối mặt với sức cạnh tranh về giá cả, chất lượng của hàng nhập khẩu. Đặc biệt, trong nông nghiệp, Việt Nam còn thiếu gắn kết giữa các ngành, địa phương, quá trình triển khai chưa có sự chuẩn bị đúng mức về nội lực cho cả DN và nông dân. Do vậy, nhiều DN sản xuất hàng nông sản đã gặp phải tình trạng giảm sút lợi nhuận, nợ tăng cao, dẫn đến phá sản hoặc chuyển hướng sang nhập khẩu. Ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam chưa phát triển, nhập khẩu bị phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu. Tỷ lệ cung ứng nguyên liệu trong nước của một số ngành công nghiệp như ô tô chỉ khoảng 20 - 30% và dệt may là gần 50%... Bên cạnh đó, cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường đã ký FTA chưa có chuyển biến mạnh, vẫn tập trung chủ yếu vào các mặt hàng nông sản, các mặt hàng công nghiệp sử dụng nhiều lao động và các mặt hàng nguyên nhiên vật liệu… Đặc biệt, có một số mặt hàng như cao su, dừa, rau quả, than đá… chúng ta đã tập trung quá lớn vào thị trường Trung Quốc (chiếm trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng này) mà không đa dạng hóa thị trường. Tình hình trên đã dẫn đến việc phụ thuộc lớn vào một thị trường và khi đối tác giảm nhập khẩu thì chúng ta đã phải gánh chịu những hậu quả không nhỏ… Do vậy, dẫn đến giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của các DN Việt Nam chưa cao.

Thứ ba, mặc dù đã chủ động tham gia các Hiệp định FTA nhưng Việt Nam đôi khi còn bị lôi cuốn theo tình thế, thiếu nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn, chưa có chiến lược bài bản rõ ràng khi tham gia các hiệp định FTA, đặc biệt là mức độ sẵn sàng và sự chuẩn bị chưa tốt. Có thể nói, hiện Việt Nam chưa chuẩn bị tốt các điều kiện cơ bản trong nước khi tham gia các hiệp định FTA và chưa tận dụng tốt các ưu đãi trong các hiệp định FTA đã ký kết để cải thiện cán cân thương mại, cán cân thanh toán vãng lai và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, phát triển bền vững.

Giải pháp cho Việt Nam khi tham gia các FTA

Trong thời gian tới, việc đàm phán, tham gia một số hiệp định FTA sẽ làm tăng thêm nhiều nghĩa vụ của Việt Nam về cải cách thể chế kinh tế (nhất là các vấn đề liên quan đến lao động và công đoàn, mua sắm Chính phủ, DNNN, môi trường, chính sách cạnh tranh…). Đồng thời, để thực hiện tiếp các cam kết trong các FTA đã ký chúng ta sẽ phải tiếp tục giảm thuế, tham gia các hiệp định FTA thế hệ mới đòi hỏi chúng ta phải cạnh tranh ở mức độ cao hơn. Do vậy, cần tập trung vào một số giải pháp cụ thể sau:

Một là, sớm hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển, đầu tư đáp ứng, phù hợp trong nối cảnh hội nhập; Sửa đổi chính sách đầu tư nhằm phát triển công nghiệp hỗ trợ để phục vụ cho nhu cầu trong nước, giảm nhập khẩu đầu vào trung gian, tăng hàm lượng nội địa và giá trị gia tăng cho hàng xuất khẩu. Điều chỉnh dòng vốn FDI theo hướng thu hút có chọn lọc, chấm dứt tình trạng ưu đãi tràn lan, hạn chế dòng vốn FDI vào lĩnh vực khai thác tài nguyên khoáng sản, lĩnh vực kinh doanh bất động sản, một số lĩnh vực dịch vụ giải trí…; Xây dựng và triển khai thực hiện tốt chương trình tái cấu trúc cơ cấu đầu tư, trong đó trọng tâm là đầu tư công; Chính sách ưu đãi đầu tư cần tập trung khuyến khích cao hơn cho lĩnh vực có khả năng tăng năng lực và tạo sự lan tỏa như: công nghiệp chế tạo, chế biến có sử dụng công nghệ cao, công nghệ tiết kiệm năng lượng, công nghệ thân thiện môi trường.

Hai là, hoàn thiện chính sách thương mại cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam và không gây xung đột với các cam kết trong các Hiệp định FTA Việt Nam đã hoặc sẽ tham gia. Trong đó, cần tập trung hoàn thành Chương trình thực thi hàng rào kỹ thuật trong thương mại giai đoạn 2011-2015; xây dựng các tiêu chuẩn đối với hàng xuất khẩu, xây dựng lộ trình hạn chế xuất khẩu sản phẩm thô; Ban hành quy định tiêu chuẩn DN được xuất khẩu một số mặt hàng gắn việc tạo ra liên kết lâu dài và ổn định giữa nhà xuất khẩu và nhà sản xuất, chế biến; Gắn việc cấp phép cho các DN FDI mở cơ sở bán lẻ thứ hai với việc DN đưa hàng của Việt Nam bán trong hệ thống phân phối ở nước ngoài; Hoàn thiện chính sách thương mại biên giới để nâng cao hiệu quả hoạt động của các Khu kinh tế cửa khẩu và Khu hợp tác thương mại biên giới; Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến thương mại và Chương trình thương hiệu quốc gia…

Ba là, cần chủ động điều chỉnh cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu và thị trường trong nước theo định hướng Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam thời kỳ 2011-2020, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 2471/QĐ-TTg ngày 28/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ); Đề án Phát triển thương mại nông thôn giai đoạn 2010-2015 và định hướng đến năm 2020 (Quyết định số 23/QĐ-TTg ngày 6/1/2010 của Thủ tướng Chính phủ); và các Chiến lược phát triển khác đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Tài liệu tham khảo:

1. Đề án thực thi Hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại giai đoạn 2011- 2015 của Thủ tướng Chính phủ;

2. Tài liệu Hội thảo: Hội thảo Giới thiệu về đàm phán FTA Việt Nam – Hàn Quốc; Việt Nam EU; Việt Nam - Liên minh Hải quan (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam);

3. Hiệp định đối tác toàn diện ASEAN-Nhật Bản; NXB Công Thương, 2012; Hiệp định khu vực thương mại tự do ASEAN- Hàn Quốc; NXB Công Thương, 2012; Hiệp định thương mại hàng hóa trong khu vực thương mại tự do ASEAN(AFTA); NXB Công Thương, 2012;

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục