Tác động từ dòng kiều hối đến kinh tế Việt Nam và một số khuyến nghị

TS. Đỗ Đức Quân

(Taichinh) - Cùng với nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nguồn vốn vay ưu đãi (ODA), nguồn kiều hối cũng là một kênh cung cấp ngoại tệ lớn cho phát triển kinh tế - xã hội nước ta, tác động trực tiếp đến thị trường ngoại hối, chính sách tiền tệ của Việt Nam và ảnh hưởng một phần đến chiến lược phát triển lâu dài của hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam. Bài viết đánh giá những tác động của kiều hối đến nền kinh tế Việt Nam giai đoạn gần đây, đề xuất một số khuyến nghị về chính sách đối với hoạt động quản lý dòng kiều hối trong giai đoạn hội nhập quốc tế.
Trong thời gian qua, dòng kiều hối vào Việt Nam tăng cả về số tuyệt đối và tương đối so với GDP. Nguồn: Internet.Trong thời gian qua, dòng kiều hối vào Việt Nam tăng cả về số tuyệt đối và tương đối so với GDP. Nguồn: Internet.

Thực hiện đổi mới, mở cửa nền kinh tế, Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách nới lỏng đối với dòng kiều hối từ năm 1989. Những thay đổi này đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các dòng vốn nói chung và kiều hối nói riêng, song các chính sách liên quan đến kiều hối vẫn còn nhiều bất cập, chưa thu hút tối đa các nguồn kiều hối để phát huy những tác động tích cực và có những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế tác động tiêu cực của kiều hối. Để tối ưu hóa nguồn vốn kiều hối cho phát triển đòi hỏi phải có một hệ thống chính sách kiều hối đồng bộ và khoa học, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam.   

Tác động của kiều hối đến nền kinh tế Việt Nam

Hiện nay, có hơn 4,5 triệu người Việt Nam đang sinh sống, lao động, học tập tại 103 quốc gia và vùng lãnh thổ, có tiềm lực đáng kể về kinh tế, tri thức. Mỗi năm, có khoảng 500.000 lượt kiều bào về nước, trong đó rất nhiều người về để tìm hiểu cơ hội kinh doanh. Đến nay, cả nước đã có khoảng 3.500 công ty được thành lập hoặc góp vốn từ kiều bào, với tổng số vốn đăng ký hơn 8,4 tỷ USD.


Trong thời gian qua, dòng kiều hối vào Việt Nam tăng cả về số tuyệt đối và tương đối so với GDP. Thống kê cho thấy, từ năm 1993 đến 2012, lượng kiều hối đã tăng lên khoảng 100 lần, từ 141 triệu USD năm 1993 lên 10 tỷ USD năm 2012 và năm 2015 là Việt Nam đã đạt hơn 13 tỷ USD kiều hối chuyển về từ nước ngoài. Tuy nhiên, năm 2016 có sự sụt giảm khoảng gần 25%, với con số chuyển đạt hơn 9 tỷ đồng (Hình 1).

Hiện lượng kiều hối ở Việt Nam được sử dụng theo ba kênh khác nhau: (i) Gửi USD vào hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) vừa an toàn vừa được hưởng lãi; (ii) Cất trữ trong nhà; (iii) Sử dụng trong thanh toán đối với khoản thanh toán có giá trị lớn như mua nhà, mua xe, đầu tư bất động sản.

Nguồn kiều hối được chuyển vào Việt Nam thông qua các kênh sau:

(i) Các kênh chuyển kiều hối chính thức bao gồm: Các công ty kiều hối, các NHTM được phép làm dịch vụ chuyển tiền quốc tế, các công ty chuyển tiền, công ty bưu chính. Các tổ chức này chịu sự quản lý, giám sát của các cơ quan nhà nước.

(ii) Các kênh chuyển tiền không chính thức: Rất đa dạng, tuy nhiên, nhiều nhất vẫn là qua các đường dây chuyển tiền, trong đó, người gửi tiền chỉ cần chuyển tiền mặt kèm địa chỉ hoặc số điện thoại người nhận cho một cơ sở nào đó nhận tiền ở nước ngoài, cơ sở đó sẽ làm việc với cơ sở trong đường dây của họ ở Việt Nam, sau đó, người nhận ở Việt Nam có thể được nhận tiền ngay tại nhà hoặc qua bưu điện.

Nếu so sánh về quy mô dòng kiều hối chảy vào Việt Nam qua con đường chính thức và dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI), dòng kiều hối giai đoạn 2012 - 2015 cao hơn vốn FDI. Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, quy mô của thị truờng kiều hối được chuyển qua kênh phi chính thức xấp xỉ bằng kiều hối chuyển qua kênh chính thức.


Để tạo điều kiện thúc đẩy thị trường kiều hối qua kênh chính thức phát triển mạnh hơn, thu hẹp kiều hối chuyển qua kênh phi chính thức, Chính phủ Việt Nam đã có chủ trương thu hút kiều hối bằng cách bãi bỏ nhiều quy định về thuế và không giới hạn số lượng ngoại tệ được chuyển về Việt Nam đối với người nhận và người gửi.

Tóm lại, mặc dù được chuyển về nước bằng hình thức nào và sử dụng vào đâu thì kiều hối vẫn đóng vai trò quan trọng, góp phần làm giảm sự thiếu hụt cán cân vãng lai và là nguồn cung ngoại tệ cho nền kinh tế. Không chỉ vậy, kiều hối còn giúp Việt Nam hạn chế rủi ro trong huy động vốn và giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài.

Thực tế ở Việt Nam, giai đoạn từ năm 2000 đến nay, dù chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu nhưng lượng ngoại hối chuyển về vẫn tương đối ổn định và tăng đều qua các năm. Chính dòng tiền này đã giúp Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, chi trả các khoản nợ từ các hoạt động nhập khẩu hoặc vay mượn, từ đó giúp tăng uy tín tín dụng quốc gia.

Bên cạnh những tác động tích cực, một nghịch lý đặt ra là, mặc dù lượng kiều hối chảy vào Việt Nam thời gian qua rất lớn song tỷ lệ tiết kiệm bằng ngoại tệ trong nước lại không tăng lên. Điều này chứng tỏ một lượng kiều hối lớn đang nằm bên ngoài các tổ chức tín dụng, gây khó khăn cho Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong quản lý, điều hành, cung ứng tiền tệ và có thể gây ra bất ổn trong hệ thống ngân hàng.

Hiện nay, Việt Nam đã và đang trở thành mục tiêu của hoạt động rửa tiền, vì hệ thống thanh tra, giám sát, hệ thống kế toán và tìm hiểu khách hàng của hệ thống ngân hàng nước ta còn kém phát triển, mức độ sử dụng tiền mặt và các luồng chuyển tiền không chính thức khá lớn, gây khó khăn cho việc kiểm soát các giao dịch, thanh toán.

Theo nhận định của Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm Liên Hợp Quốc (UNODC), Việt Nam dễ bị tội phạm rửa tiền tìm đến do nền kinh tế sử dụng nhiều tiền mặt, cùng với hoạt động thương mại và đầu tư ngày càng gia tăng. Chuyển tiền qua con đường kiều hối về Việt Nam là con đường nhanh và dễ dàng.

Theo Cục Phòng chống rửa tiền (thuộc NHNN) ở Việt Nam, khó có thể thống kê chính xác thời điểm hành vi rửa tiền xuất hiện nhưng có những dấu hiệu cho thấy, các nhóm tội phạm quốc tế đã nhắm đến Việt Nam để thực hiện hành vi rửa tiền, điều này rõ ràng đã ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế Việt Nam.

Một số khuyến nghị về quản lý nguồn kiều hối

Từ những phân tích trên cho thấy, kiều hối cũng có tác động tiêu cực đến sự ổn định của kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, trong điều kiện tự do hóa tài chính, chúng ta không thể áp dụng các biện pháp hành chính để kiểm soát kiều hối. Nếu vậy, Việt Nam không còn là quốc gia hấp dẫn thu hút kiều hối.

Trong khi, Việt Nam vẫn cần lượng kiều hối để bù đắp thâm hụt cán cân vãng lai và sử dụng kiều hối khi nền kinh tế bị thiếu vốn. Vấn đề đặt ra là làm thế nào nhằm kiểm soát và sử dụng có hiệu quả luồng kiều hối để phát triển kinh tế và giữ ổn định thị trường tài chính trong hội nhập quốc tế. Từ thực tiễn, bài viết đề xuất một số giải pháp định hướng cho dòng kiều hối như sau:

Thứ nhất, cần xây dựng chính sách bảo hộ và tạo điều kiện cho doanh nhân, trí thức kiều bào về nước làm việc, đầu tư kinh doanh; khuyến khích việc hình thành các hiệp hội chuyên ngành, mở rộng hợp tác trong cộng đồng với trong nước theo tinh thần “ích nước lợi nhà”. Có thể tạo điều kiện cho dòng kiều hối tham gia vào thị trường chứng khoán theo chủ trương cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước. Kêu gọi kiều bào đầu tư vào những dự án phát triển kinh tế bền vững.

Thứ hai, Nhà nước cần có nhiều hơn nữa những quy định thông thoáng hơn trong việc mua nhà ở tại Việt Nam của Việt Kiều định cư ở nước ngoài, giảm thiểu thủ tục giấy tờ hành chính, bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ khi mua nhà. Điều này sẽ thúc đẩy thị trường bất động sản trong nước phát triển.

Thứ ba, cho phép người nhận kiều hối trực tiếp bằng ngoại tệ, không bắt buộc phải chuyển đổi ngay ra nội tệ, không bắt buộc phải gửi tiết kiệm vào NHTM, không bắt buộc phải bán ngay cho ngân hàng. Việc chênh lệch lãi suất ngoại tệ ở Việt Nam so với nước ngoài cũng như việc chênh lệch lãi suất giữa ngoại tệ và VND ở Việt Nam cũng là nhân tố thu hút nguồn ngoại tệ đổ về Việt Nam.

Lãi suất cần được điều hành phù hợp với các cân đối vĩ mô, đảm bảo an toàn hệ thống NHTM, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng, hoạt động ngân hàng của NHNN. Cần có biện pháp đảm bảo cho lãi suất tiền gửi nội tệ đủ sức hấp dẫn, khuyến khích người nhận kiều hối chuyển sang nội tệ gửi vào NHTM.

Thứ tư, chú trọng mở rộng các kênh chuyển tiền, cải tiến công nghệ. Hiện nay, kiều hối chuyển về Việt Nam qua kênh dịch vụ chuyển tiền nhanh Western Union đã lên đến trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Để đón dòng tiền của Việt kiều và người lao động xuất khẩu, hầu hết các ngân hàng đều triển khai các chương trình, dịch vụ ưu đãi nhằm thu hút tối đa nguồn kiều hối.

Thứ năm, vấn đề về kiều hối và phòng chống rửa tiền ở Việt Nam, cần phải có những biện pháp thiết thực để vừa khuyến khích kiều bào gửi tiền về xây dựng đất nước vừa ngăn chặn được tội phạm rửa tiền thông qua con đường này.

NHNN cần ưu tiên đầu tư hệ thống công nghệ thông tin về phòng, chống rửa tiền cho Cục phòng, chống rửa tiền. Cục Phòng, chống rửa tiền thu thập, phân tích thông tin về các giao dịch phải báo cáo, các giao dịch đáng ngờ từ các tổ chức tín dụng một cách nhanh chóng và kịp thời. Ban hành quy chế giám sát việc tuân thủ các quy định về phòng chống rửa tiền.

Việc ban hành quy chế giám sát sẽ giúp cho cơ quan thanh tra của NHNN nói chung và Cục Phòng, chống rửa tiền nói riêng chủ động trong việc thanh tra giám sát các NHTM. Thường xuyên tổ chức các buổi tọa đàm về phòng, chống rửa tiền với các NHTM và tăng cường hợp tác vơi các tổ chức quốc tế hoạt động trong lĩnh vực này. Đối với các NHTM cần thành lập các bộ phận chuyên trách về phòng, chống rửa tiền. Xây dựng chính sách nhận biết khách hàng để theo dõi, tìm hiểu khách hàng góp phần quan trọng trong việc kiểm soát các rủi ro của ngân hàng.

Thứ sáu, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn kiều hội cần được coi trọng như các nguồn vốn FDI, ODA hay viện trợ không hoàn lai để phục vụ mục đích phát triển kinh tế - xã hội.    

Tài liệu tham khảo:

1. Đỗ Thị Đức Minh và cộng sự (2007), Ảnh hưởng của kiều hối đến nền kinh tế Việt Nam, Đề tài khoa học cấp ngành, KNH 2006-07, NHNN Việt Nam;

2. Nguyễn Anh Dũng và cộng sự (2005), Một số giải pháp thu hút vốn đầu tư về nước của cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương;

3. Võ Trí Thành và các cộng sự (2004), Chính sách tiền tệ Việt Nam trong quá trình đổi mới và cải cách kinh tế, Dự án CIEM - UNDP VIE 01/025;

4. Lê Minh Tâm và Nguyễn Đức Vinh (1999), Tiền gửi về cho gia đình và phân phối thu nhập, trong “Hộ gia đình Việt Nam - Nhìn qua phân tích định lượng”, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội 1999;

5. David C. Grace (2005), Rimittances – Devolopment impact and future prospects, The international Bank for Reconstruction and Development/The World bank Chapter 8, p159.

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính kỳ 2, số tháng 2/2017

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục