VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng
Giới thiệu tòa soạn Hotline: 0987 828 585

Thị trường trái phiếu Việt Nam và định hướng phát triển

(Tài chính) Gần 15 năm hình thành và phát triển, thị trường trái phiếu của Việt Nam ngày càng lớn mạnh cả về quy mô lẫn chiều sâu, phát huy được vai trò là kênh huy động vốn và giải quyết vấn đề thiếu hụt của ngân sách nhà nước. Trên cơ sở phân tích tình hình thị trường trái phiếu giai đoạn 2006-2014, bài viết đề xuất một số giải pháp định hướng phát triển thị trường này trong tương lai.

Vai trò của thị trường trái phiếu

Thị trường trái phiếu (TTTP) Việt Nam bắt đầu hình thành từ giữa thập niên 1990, bằng việc Chính phủ phát hành một số đợt trái phiếu, công trái để huy động vốn phục vụ phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội. Đến nay, hoạt động của TTTP đã lớn mạnh cả về quy mô lẫn chiều sâu. TTTP Việt Nam đã phát huy được vai trò là kênh huy động vốn trung - dài hạn cho nền kinh tế, các tổ chức, cá nhân; Góp phần điều hòa, phân phối nguồn vốn trong nền kinh tế.

Thị trường trái phiếu chính phủ (TPCP) đã thu hút được nguồn vốn đầu tư nước ngoài, góp phần vào giải quyết vấn đề thiếu hụt ngân sách nhà nước (NSNN). Thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) đã giúp cho các doanh nghiệp (DN) tiếp cận một kênh huy động vốn hiệu quả và linh hoạt hơn, bên cạnh kênh tín dụng của ngân hàng thương mại.

Hiện nay, đã có 4 loại trái phiếu được phát hành và giao dịch trên thị trường, gồm: TPCP do Kho bạc Nhà nước (KBNN) phát hành; Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh (TPCPBL) do 02 ngân hàng chính sách (Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng chính sách xã hội) và các DN được Chính phủ bảo lãnh phát hành; Trái phiếu chính quyền địa phương (TPĐP) do một số địa phương lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Quảng Ninh phát hành; Và TPDN do các DN thuộc mọi thành phần kinh tế phát hành.

TTTP được điều chỉnh bởi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quản lý đối với từng loại trái phiếu. Cụ thể:

- Đối với trái phiếu chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương:

Thị trường TPCP, TPCPBL, TPĐP được điều chỉnh bởi Luật NSNN (2002); Luật Quản lý nợ công (2009); Nghị định số 01/2011/NĐ-CP về phát hành TPCP, TPCPBL, TPĐP; Các thông tư hướng dẫn chi tiết Nghị định 01/2011/NĐ-CP bao gồm quy trình, thủ tục phát hành, đăng ký, lưu ký và niêm yết các loại trái phiếu hướng tới các thông lệ của thị trường quốc tế.

- Đối với trái phiếu doanh nghiệp:

Thị trường TPDN được điều chỉnh bởi Luật Chứng khoán (2006); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán (2010); Luật DN (2005); Nghị định số 58/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán; Nghị định 90/2011/NĐ-CP về phát hành TPDN; Thông tư 211/2012/TT-BTC hướng dẫn một số điều của Nghị định 90/2011/NĐ-CP về phát hành TPDN.

- Đối với định hướng phát triển thị trường trái phiếu:

Ngày 1/2/2013, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ký Quyết định số 261/QĐ-BTC phê duyệt lộ trình phát triển TTTP đến năm 2020. Đây là cơ sở quan trọng để tiếp tục triển khai các giải pháp phát triển thị trường trong thời gian tới.

Một số cải cách về chính sách phát triển thị trường trái phiếu

Thứ nhất, đối với trái phiếu chính phủ, Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và Trái phiếu chính quyền địa phương:

- Về thị trường sơ cấp: Bộ Tài chính đã công bố lịch biểu đấu thầu TPCP và tín phiếu KBNN. Ngoài ra, kể từ tháng 8/2012, tín phiếu KBNN đã chính thức được niêm yết và giao dịch tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) theo quy định tại Thông tư 106/2012/ TTLT-BTC-NHNN. Trong năm 2013, KBNN đã thực hiện phát hành đều đặn trái phiếu kỳ hạn 10 năm vào tuần cuối cùng mỗi tháng và trái phiếu kỳ hạn dài 15 năm theo phương thức bảo lãnh phát hành. Trước đó, lần cuối cùng KBNN phát hành trái phiếu kỳ hạn 15 năm là vào năm 2006.

- Về thị trường thứ cấp: Kể từ năm 2012, KBNN đã thực hiện 3 đợt hoán đổi TPCP năm 2012 và 4 đợt hoán đổi TPCP trong năm 2013. Các đợt hoán đổi TPCP đã giảm số mã trái phiếu và tăng quy mô niêm yết của mỗi mã trái phiếu. Theo đó, tính thanh khoản trên thị trường TPCP cũng đã tăng lên.

- Về thành viên đấu thầu TPCP: Năm 2013, Bộ Tài chính đã thí điểm triển khai việc lựa chọn các nhà tạo lập thị trường (thành viên TPCP) gồm 36 thành viên, đến 1/1/2014 giảm xuống chỉ còn 25 thành viên. Qua đánh giá cho thấy, danh sách các thành viên TPCP đã phát huy tích cực vai trò hỗ trợ thị trường TPCP sơ cấp và thứ cấp, góp phần vào hỗ trợ hoạt động huy động vốn trong năm 2013.

Thứ hai, đối với Trái phiếu doanh nghiệp:

Việc ban hành Nghị định số 90/2011/NĐ-CP thay thế Nghị định số 52/2006/NĐ-CP về phát hành TPDN theo hình thức riêng lẻ đã nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của DN trong việc phát hành trái phiếu; Bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho DN chủ động trong công tác phát hành trái phiếu, giảm thiểu thủ tục hành chính.

Diễn biến thị trường trái phiếu giai đoạn 2006 - 2014

Tổ chức thị trường

Thị trường sơ cấp:

- TPCP phát hành theo 3 phương thức: (1) Đấu thầu phát hành trái phiếu tại HNX; (2) Bán lẻtrái phiếu; (3) Bảo lãnh phát hành.

- Tín phiếu Kho bạc được phát hành thông qua Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước (NHNN) dưới 2 phương thức: (1) Phương thức đấu thầu; (2) Phát hành tín phiếu kho bạc trực tiếp cho NHNN theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

- TPĐP được phát hành theo 3 phương thức: (1) Đấu thầu; (2) Bảo lãnh; (3) Đại lý phát hành trái phiếu.

- TPCPBL của 2 ngân hàng chính sách được phát hành dưới 2 phương thức: (1) Đấu thầu tại HNX; (2) Đại lý phát hành trái phiếu. Trái phiếu của các DN khác được Chính phủ bảo lãnh, được phát hành dưới các phương thức phát hành TPDN.

- TPDN được phát hành theo 2 hình thức là phát hành riêng lẻvà phát hành ra công chúng.

Thị trường thứ cấp:

- Trái phiếu phát hành theo phương thức đấu thầu, bảo lãnh phát hành được đăng ký, lưu ký tập trung tại Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam (VSD), được niêm yết và giao dịch trên HNX.

Quy mô của thị trường

Trong giai đoạn 2006 - 2014, dư nợ TTTP chiếm từ 14,23% đến 21,90% GDP. Tại thời điểm cuối tháng 6/2014, dư nợ TTTP đạt mức 830.528 tỷ đồng, chiếm 21,90% GDP ước của cả năm 2014. Trong đó, dư nợ thị trường TPCP là 528.697 tỷ đồng, thị trường TPCPBL là 181.367 tỷ đồng, thị trường TPDN là 103.445 tỷ đồng, thị trường TPĐP là 17.019 tỷ đồng.

Thị trường TPCP và TPCPBL

- Về khối lượng phát hành: Khối lượng phát hành tăng mạnh trong năm 2006 - 2007 và đạt mức 107.733 tỷ đồng trong năm 2007. Cuộc khủng hoảng tài chính (giai đoạn 2008 - 2009) phần nào đã tác động đến TTTP, khiến khối lượng phát hành giảm xuống một nửa, ở mức 59.811 tỷ đồng trong năm 2009. Sau đó, khối lượng đã tăng trở lại trong giai đoạn 2010 - 2014.

- Về lãi suất phát hành: Bộ Tài chính thực hiện điều hành lãi suất phát hành phù hợp với lãi suất của thị trường. Đặc biệt, từ năm 2012 đến nay, lãi suất phát hành TPCP và TPCPBL đã giảm hoàn toàn tương ứng với điều hành giảm lãi suất của NHNN. Cụ thể, lãi suất phát hành TPCP đã giảm từ 3,10% đến 6,0% đối với các kỳ hạn dưới 10 năm, giảm 2,20% đối với kỳ hạn 10 năm.

- Về phương thức phát hành: Phương thức phát hành TPCP đã chuyển dịch dần từ bảo lãnh sang đấu thầu. Trước năm 2010, TPCP được phát hành chủ yếu qua phương thức bảo lãnh (chiếm trên 80% khối lượng phát hành). Từ năm 2011 đến nay, TPCP được phát hành chủ yếu bằng phương thức đấu thầu (chiếm đến 95% khối lượng phát hành).

- Về cơ cấu nhà đầu tư: Cơ cấu nhà đầu tư TPCP và TPCPBL chưa có chuyển biến, tập trung chủ yếu vào các NHTM (chiếm đến 86,7% khối lượng trái phiếu đang niêm yết). TTTP trong nước vẫn chưa thực sự thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài (chỉ chiếm 13,33% khối lượng trái phiếu đang niêm yết).

- Về thị trường thứ cấp: Thanh khoản TTTP thứ cấp đã chuyển biến tích cực trong năm 2013 và tiếp tục duy trì trong 6 tháng đầu năm 2014. Trong năm 2013, khối lượng giao dịch bình quân khoảng 1.600 tỷ đồng/ngày và duy trì ở mức 2.200 - 2.400 tỷ đồng/ngày trong 6 tháng đầu năm 2014. Trước đó, trong năm 2013, KBNN đã tổ chức 4 đợt hoán đổi trái phiếu và đã hợp nhất được 15 mã trái phiếu.

Thị trường Trái phiếu chính quyền địa phương

- Trong giai đoạn từ năm 2003-2012, có tất cả 04 tỉnh/ thành phố là: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Đồng Nai phát hành TPĐP với tổng khối lượng phát hành là 18.107 tỷ đồng. Trong năm 2013, có 04 tỉnh/ thành phố phát hành trái phiếu là Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Bắc Ninh, với tổng khối lượng phát hành là 8.450 tỷ đồng.

- Tính đến 30/6/2014, dư nợ TPĐP đạt 17.019 tỷ đồng, tương đương khoảng 0,45% GDP ước tính cả năm 2014.

Thị trường Trái phiếu doanh nghiệp

- Hoạt động phát hành sơ cấp trên thị trường TPDN ở mức khá thấp với số lượng và khối lượng phát hành còn hạn chế. Trong năm 2013, khối lượng đăng ký phát hành trái phiếu theo hình thức riêng lẻlà 52.196 tỷ đồng, khối lượng phát hành thực tế là 34.412 tỷ đồng. Trong 6 tháng đầu năm 2014, khối lượng đăng ký phát hành trái phiếu theo hình thức riêng lẻlà 18.214 tỷ đồng và khối lượng phát hành thực tế là 5.726 tỷ đồng.

- Dư nợ tại 30/6/2014 là 103.445 tỷ đồng. Giao dịch thứ cấp trên thị trường gần như không có do trái phiếu chủ yếu được phát hành theo hình thức riêng lẻ.

Yếu tố thuận lợi:

Trong giai đoạn 2010 - 2014, TTTP đã phát triển mạnh mẽ cả về khối lượng phát hành trên thị trường sơ cấp và tính thanh khoản trên thị trường thứ cấp.

Về khung khổ pháp lý: Trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay, khung pháp lý về phát hành trái phiếu đã được ban hành đầy đủ, đồng bộ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thị trường.

Về các biện pháp hỗ trợ phát triển TTTP: Bên cạnh việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, Bộ Tài chính đã thực hiện nhiều biện pháp để hỗ trợ sự phát triển của TTTP, cụ thể:

- Thực hiện đa dạng hoá các sản phẩm trái phiếu theo hướng tăng cường các công cụ nợ có kỳ hạn dài để đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư.

- Hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ giao dịch tại Sở Giao dịch Chứng khoán để thúc đẩy việc đăng ký, lưu ký, niêm yết giao dịch trái phiếu trên thị trường thứ cấp.

- Giảm thời gian đưa trái phiếu phát hành vào giao dịch từ T+6 thành T+5.

- Thực hiện đề án tái cơ cấu hàng hoá trên thị trường TPCP để giảm bớt mã trái phiếu giao dịch, tăng quy mô niêm yết và tăng tính thanh khoản cho TPCP.

- Rà soát, cải tiến cơ chế thuế, phí lệ phí để khuyến khích nhà đầu tư tham gia vào TTTP.

Tồn tại và hạn chế:

Mặc dù TTTP đã đạt nhiều kết quả tích cực, tuy nhiên nhìn chung quy mô của thị trường vẫn còn nhỏ, tính thanh khoản còn thấp. Nguyên nhân chủ yếu là do còn tồn tại những hạn chế sau:

Thứ nhất, vướng mắc về các quy định pháp lý: Hiện tại vẫn chưa có khung khổ pháp lý về hoạt động định mức tín nhiệm nên các nhà đầu tư không có thông tin về mức độ rủi ro của trái phiếu; Luật Chứng khoán không cho phép bán chứng khoán khống. Do đó, các thành viên đấu thầu trái phiếu không thể thực hiện chào giá 2 chiều khi không có mã trái phiếu được chào giá; Theo Điều 15 Luật NHNN, chỉ có các tổ chức tín dụng mới được tham gia nghiệp vụ thị trường mở. Đây là một hạn chế lớn đối với các thành viên đấu thầu là công ty chứng khoán so với các NHTM, không được hỗ trợ thanh toán từ NHNN; Nguồn tiền cho việc thực hiện mua lại TPCP chưa được quy định tại Luật NSNN; Công tác phát hành TPCP còn phụ thuộc vào việc quản lý thu - chi ngân sách mà chưa theo sát diễn biến trên thị trường.

Thứ hai, về cơ sở nhà đầu tư trên TTTP: Hệ thống các nhà đầu tư trên TTTP vẫn chưa thay đổi, tập trung vào các NHTM (nắm giữ khoảng 87% tổng khối lượng trái phiếu), chưa có các tổ chức tài chính khác tham gia đầu tư dài hạn trên thị trường và nhu cầu chủ yếu là trái phiếu có kỳ hạn ngắn (tín phiếu và trái phiếu kỳ hạn 2, 3 năm); Nhà đầu tư nước ngoài mới chỉ dè dặt quay lại TTTP trong nước từ cuối năm 2012, nắm giữ khoảng 13% tổng khối lượng trái phiếu.

Thứ ba, về thông tin giao dịch: Giao dịch có kỳ hạn (repo) chưa được báo cáo đúng bản chất, đang được báo cáo thành 2 giao dịch thông thường (outright). Do vậy, ảnh hưởng đến tính chính xác về bản chất và thời điểm của lãi suất giao dịch; TPDN hầu như không có giao dịch, nếu có thì thông tin cũng không được công bố để làm cơ sở định giá cho thị trường.

Thứ tư, rủi ro về thanh toán: Thanh toán trái phiếu đang được thực hiện qua Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), dẫn đến rủi ro về thanh khoản của BIDV khi khối lượng giao dịch trái phiếu ngày càng tăng.

Định hướng cho phát triển thị trường

Để hỗ trợ cho sự phát triển TTTP cả trong giai đoạn hiện nay và về dài hạn, Bộ Tài chính đã đưa ra 9 nhóm giải pháp cơ bản, cụ thể như sau:

Một là, hoàn thiện dự thảo Nghị định về thành lập và hoạt động của DN định mức tín nhiệm.

Thị trường trái phiếu Việt Nam hiện nay có 4 loại trái phiếu được phát hành và giao dịch, gồm: trái phiếu Chính phủ do Kho bạc Nhà nước phát hành; Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh do 2 ngân hàng chính sách và DN được Chính phủ bảo lãnh phát hành; Trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu DN do DN thuộc mọi thành phần kinh tế phát hành.

Hai là, nghiên cứu và xây dựng khuôn khổ pháp lý cho hệ thống đại lý cấp I để hỗ trợ công tác phát hành trái phiếu trên thị trường sơ cấp và thanh khoản của thị trường thứ cấp.

Ba là, nghiên cứu và xây dựng Nghị định về Quỹ hưu trí tự nguyện để trình Chính phủ xem xét, ban hành nhằm củng cố hệ thống cơ sở nhà đầu tư dài hạn trên TTTP.

Bốn là, khuyến khích sự phát triển của thị trường TPDN. Bộ Tài chính đang phối hợp với Hiệp hội TTTP Việt Nam để xây dựng cơ sở dữ liệu TPDN để củng cố việc công bố thông tin trên thị trường sơ cấp để thúc đẩy sự phát triển của thị trường TPDN.

Năm là, phát triển các sản phẩm mới như trái phiếu không trả lãi định kỳ (zero-coupon); Trái phiếu giao dịch trước đấu thầu (when-issued); Hợp đồng tương lai (trái phiếu Bond future).

Sáu là, tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý về phát hành TPCP, TPCPBL, TPĐP và TPDN.

Bảy là, tiếp tục hỗ trợ thị trường thứ cấp phát triển thông qua việc nghiên cứu: (i) Các mô hình giao dịch thứ cấp khác trên thế giới, bao gồm hệ thống công nghệ thông tin, cơ chế thanh toán, lưu ký, cơ chế báo cáo; (ii) Các giải pháp để xác định thời điểm phát sinh giao dịch thực tế, phân biệt giữa giao dịch Repo và giao dịch Outright để đảm bảo thống kê giao dịch phản ánh chính xác cả về thời điểm và bản chất giao dịch trên thị trường thứ cấp; (iii) Tiếp tục giảm thời gian thực hiện đăng ký, lưu ký, niêm yết trái phiếu từ T+4 xuống T+3; (iv) Xây dựng hệ thống thanh toán bù trừ theo mô hình đối tác trung tâm.

Tám là, thu hút nhà đầu tư nước ngoài: Nghiên cứu chính sách thu hút nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường thông qua cơ chế về thuế và công cụ phòng ngừa rủi ro.

Chín là, chính sách thuế và phí: Nghiên cứu, hoàn thiện các chính sách thuế và phí đối với TTTP.

THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM