VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng
Giới thiệu tòa soạn Hotline: 0987 828 585
Giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính sách cho người nghèo

Trong quá trình thực hiện chính sách tín dụng cho công tác giảm nghèo bền vững ở Việt Nam vẫn phát sinh một số tồn tại, hạn chế.

Giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính sách cho người nghèo

Việt Nam đã đạt được nhiều thành công trong công tác xóa đói giảm nghèo. Để có được thành công, bên cạnh các cơ chế, chính sách của Chính phủ, sự hỗ trợ hợp tác của các tổ chức trong nước và quốc tế, vai trò của nguồn vốn tín dụng có ý nghĩa rất lớn. Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực của nguồn vốn tín dụng, trong quá trình thực hiện chính sách tín dụng cho công tác giảm nghèo bền vững ở Việt Nam vẫn phát sinh một số tồn tại, hạn chế. Bài viết đề cập đến các giải pháp tăng cường cơ hội tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính sách cho người nghèo ở Việt Nam.

Kinh nghiệm quốc tế về phát triển, nâng cao hiệu quả tín dụng chính sách xã hội

Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tín dụng ưu đãi cho các hộ nông dân nghèo

Nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng vi mô tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Trà Vinh

Nâng cao chất lượng tín dụng cho vay hộ nghèo của các tổ chức tín dụng tỉnh Thái Nguyên

Xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam và yêu cầu đặt ra

Việt Nam được quốc tế công nhận là một trong số ít quốc gia sớm thực hiện thành công mục tiêu phát triển thiên niên kỷ vềphát triển bền vững, về xóa đói giảm nghèo và phát triển con người. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, trong vòng 25 năm (1993 đến 2017), Việt Nam đã đưa hơn 50% dân số thoát khỏi nghèo đói, tỷ lệ hộ nghèo ở mức rất cao trên 58% (năm 1993) đã giảm xuống còn 6,7% (năm 2017) (dựa trên chuẩn nghèo quốc tế 1 USD/người/ngày). Con số này có thể khác đi nếu như sử dụng các thước đo về nghèo đói khác nhau nhưng nhìn chung, đây là một kết quả mà rất ít nước có thể đạt được.

Để đạt được thành quả này, nhiều chính sách xóa đói giảm nghèo đã được thực hiện tại Việt Nam, trong đó, chính sách tín dụng là một trong những “trụ cột” của hệ thống chính sách giảm nghèo ở Việt Nam. Dòng vốn tín dụng ngân hàng đã góp phần quan trọng cùng các dòng vốn đầu tư của Nhà nước, của doanh nghiệp và người dân, giúp Việt Nam hoàn thành Mục tiêu thiên niên kỷ về xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói vào năm 2002, sớm hơn 13 năm so với mục tiêu đặt ra. Điều này đã đưa Việt Nam từ một nền kinh tế có thu nhập trung bình thấp chuyển mình thành một quốc gia có thu nhập trung bình từ năm 2010 với quy mô kinh tế đạt trên 220 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt 2.385 USD năm 2017.

Dù vậy, quá trình thực hiện chính sách tín dụng cho công tác giảm nghèo bền vững ở Việt Nam vẫn phát sinh một số tồn tại, hạn chế như: Nguồn vốn thực hiện các chương trình tín dụng chính sách chưa đáp ứng được hết nhu cầu thực tế của người vay; công tác điều tra, xác nhận hộ nghèo và các đối tượng chính sách có nơi, có lúc chưa chính xác, kịp thời; tín dụng chưa thật sự gắn với việc hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, hiệu quả sử dụng vốn vay ở một số nhóm đối tượng khách hàng còn thấp…

Nâng cao khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho người nghèo

Những giải pháp nhằm tăng cường khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính sách cho người nghèo, nâng cao hiệu quả của công tác giảm nghèo bền vững, có ý nghĩa rất quan trọng. Theo đó, các nội dung cần tập trung thực hiện gồm:

Đa dạng hóa nguồn vốn tín dụng chính sách

Chính sách tín dụng cho công tác xóa đói, giảm nghèo nếu chỉ trông chờ vào nguồn hỗ trợ từ NSNN thìviệc triển khai sẽ bị động, dẫn đến chính sách thiếu bền vững. Bởi vậy, ngoài nguồn vốn từ NSNN, để đảm bảo huy động đủ nguồn lực thực hiện chính sách, về lâu dài Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCSXH) cần tìm một nguồn ổn định và bền vững hơn, bằng cách huy động từ chính những người đi vay thông qua hình thức huy động tiền gửi tiết kiệm. Trong những năm qua, NHCSXH đã triển khai thực hiện tốt nhận tiết kiệm từ người nghèo, tuy nhiên, nguồn vốn huy động được vẫn chưa bền vững. Vìvậy, trong thời gian tới, NHCSXH cần tiếp tục đẩy mạnh việc huy động tiền gửi tiết kiệm từ những người đi vay dưới 2 hình thức là tiết kiệm tự nguyện và tiết kiệm bắt buộc.

Đối với huy động tiết kiệm theo hình thức tự nguyện, người vay đóng tiết kiệm hàng tháng hoặc quý với số tiền nhất định. Điều chắc chắn là số tiền huy động từ một người nghèo theo thời gian nhất định sẽ không nhiều nhưng nó có tác dụng khuyến khích người vay với dư nợ tiền vay lớn có thể tiết kiệm nhiều hơn. Bên cạnh đó, người vay được khuyến khích gửi tiết kiệm với nhiều hình thức hợp đồng tiền gửi phù hợp với họ để khuyến khích người vay tiết kiệm cho các mục đích cụ thể như học tập, mua sắm tài sản…

Đối với huy động tiết kiệm theo hình thức bắt buộc, người vay phải đóng tiết kiệm vào một tài khoản có lãi suất đầu tư và họ có thể được rút ra để sử dụng sau một thời gian nhất định. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, ít nhất là sau 3 năm thìsố tiền tiết kiệm này mới có ý nghĩa, vìgiúp cho người vay có một khoản tiền đáng kể và có thể sử dụng được vào việc khác. Ở Việt Nam, hình thức này bắt đầu thực hiện từ năm 2008. Tuy nhiên, sau 1 năm thực hiện, kết quả đạt được còn thấp, vìviệc triển khai chưa đồng bộ ở các địa phương và quan trọng hơn với cách huy động như hiện nay thìchưa tạo ra một sự gắn kết chặt giữa người nghèo và cơ quan thực hiện chính sách.

Với chương trình bảo hiểm, người đi vay tiền đóng vào một tài khoản tiết kiệm - nhân thọ (số tiền này ngân hàng sẽ dùng để xóa nợ nếu người vay chết, hoặc người thân chết). Thực hiện chương trình bảo hiểm này không những giúp người nghèo hạn chế được rủi ro, đem lại lợi ích cho chính người nghèo mà còn giúp cho ngân hàng huy động được một khoản tiền tiết kiệm dài hạn.

Bên cạnh đó, NHCSXH cần huy động tiền tiết kiệm từ người không phải là đối tượng hưởng lợi của chính sách (chưa được vay). Hoạt động này sẽ giúp cho ngân hàng tự thu hút đủ vốn để cho vay. Tuy nhiên, để thực hiện điều này trên thực tế hoàn toàn không dễ, ở đây cần có một chính sách lãi suất cạnh tranh thìmới tính đến huy động được từ nguồn này.

Kết hợp chặt chẽ giữa tín dụng chính sách với tín dụng thương mại

Sự kết hợp giữa tín dụng chính sách với tín dụng thương mại nếu được thực hiện một cách chặt chẽ sẽ là giải pháp hữu hiệu giúp hộnghèo, hộmới thoát nghèo, hộcận nghèo vàcác đối tượng chính sách khác vượt qua khókhăn vàthoát nghèo bền vững.

Tăng nguồn vốn vay ưu đãi cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách

Mặc dù, nguồn tín dụng cho vay của NHCSXH đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách liên tục gia tăng theo từng năm, song nguồn vốn vẫn chưa đáp ứng được hết nhu cầu cần vốn của người nghèo và các đối tượng chính sách. Hiện nay có số hộ nghèo được tiếp cận với nguồn vốn ưu đãi này, độ bao phủ của chính sách còn yếu. Do vậy, trong thời gian tới, ngoài nguồn vốn vay ưu đãi của NHCSXH, cần huy động thêm nguồn lực từ bên ngoài như của các tổ chức quốc tế thông qua các dự án tài trợ của các tổ chức phi chính phủ và tài trợ của các doanh nghiệp trong nước bằng cách cho vay không tính lãi suất hoặc lãi suất thấp.

Điều chỉnh lãi suất cho vay phù hợp đối với từng đối tượng

Để tăng cường khả năng tiếp cận nguồn vốn, cần phải điều chỉnh lãi suất cho vay phù hợp với từng đối tượng của chính sách để các hộ nghèo, hộ cận nghèo và các gia đình khó khăn có thể tiếp cận được nhiều hơn nữa đến nguồn vốn tín dụng chính sách.

Hiện nay, các chương trình cho người nghèo vay vốn của Chính phủ thường được thực hiện thông qua NHCSXH dưới hình thức lãi suất ưu đãi. Tuy nhiên, mức lãi suất ưu đãi đã dẫn đến nhiều hệ quả đi ngược lại với mục đích hỗ trợ người nghèo của các chương trình này. Vìvậy, để giải quyết mẫu thuẫn này, cần có quy định khác nhau cho các đối tượng khác nhau. Cụ thể ở đây sẽ chia thành 2 nhóm trong đối tượng của chính sách: (i) Nhóm người nghèo nhất và có nguy cơ tổn thương cao sẽ được tiếp cận nguồn tín dụng ưu đãi (có thể với lãi suất hỗ trợ bằng 0); (ii) Nhóm người nghèo còn lại theo chuẩn nghèo của quốc gia và các hộ cận nghèo tiếp cận với nguồn vốn vay không cần tài sản thế chấp nhưng lãi suất thấp hơn một ít và thậm chí bằng lãi suất của thị trường. Kinh phí thực hiện huy động từ các nguồn khác.

Cả 2 nhóm đối tượng này sẽ cùng được hưởng hỗ trợ chung từ Nhà nước đó là các hoạt động hướng dẫn kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất kinh doanh. Hiện nay, ở các địa phương có kinh phí cho hoạt động hỗ trợ kỹ thuật qua các hộ hay phòng khuyến nông. Tuy nhiên, các hoạt động này còn mang tính hình thức, đại trà, ít tác dụng. Vìthế, nên kết hợp hoạt động khuyến nông với các dự án xin vay vốn. Để đảm bảo sự phù hợp và bền vững của chính sách, vấn đề là cần có tiêu chí rõ ràng đối với 2 nhóm nghèo trên và các hoạt động hỗ trợ để sử dụng hiệu quả vốn vay cần được cung cấp với chất lượng cao.

Về lãi suất: Lãi suất cho vay sẽ được áp dụng cho 2 nhóm, tuy nhiên với nhóm áp dụng lãi suất theo lãi suất thị trường có thể sẽ có nhiều mức lãi suất khác nhau tương ứng với các khoản vay khác nhau. Để đảm bảo huy động được từ các nguồn lực khác nhau, lãi suất tiền gửi cần được tính đến như là một yếu tố quyết định sự bền vững của chính sách. Lãi suất tiền gửi được xác định theo nguyên tắc thị trường. Nếu khống chế mức lãi suất tiền gửi và cho vay sẽ hạn chế mở rộng đối tượng cho vay cũng như huy động tiền gửi từ các nguồn khác nhau. Do đó, mức lãi suất cần phải linh động để phản ứng với mức lãi suất bên ngoài.

Về thời hạn và mức cho vay: Tăng cường tín dụng ưu đãi trung hạn và dài hạn. Điều này chỉ có thể giải quyết được khi nguồn vốn cho vay ưu đãi lớn. Bởi vậy, nếu làm tốt công tác đa dạng hóa nguồn vốn tín dụng sẽ không chỉ giải quyết được việc cung cấp tín dụng trung và dài hạn mà còn tăng được mức cho vay hiện nay.

Đối với nhóm đối tượng thứ nhất, trước mắt cần áp dụng hạn mức cho vay vìvới những đối tượng nghèo thực sự, chủ yếu đầu tư vào sản xuất nhỏ như chăn nuôi thìmức cho vay hiện nay là phù hợp vìbản thân người nghèo cũng không muốn vay khoản vay lớn vìsợ không có khả năng thanh toán và không đủ năng lực quản lý vốn.

Đối với nhóm đối tượng thứ hai, thìkhông áp dụng hạn mức mà cho vay theo nhu cầu. Nếu áp dụng lãi suất linh hoạt cùng với không khống chế mức vay sẽ cho phép huy động được nhiều tiền gửi hơn và khi đó sẽ có nhiều nguồn lực để cho vay đến nhiều người nghèo hơn. Hơn thế nữa, khi huy động được nhiều tiền gửi thìnhững khách hàng gửi tiền luôn chịu sức ép phải duy trìgiá trị tài sản để đảm bảo các khoản tiền gửi của mình. Chính điều này cũng hỗ trợ bảo vệ những người vay. Đồng thời, cơ quan thực hiện chính sách luôn phải tổ chức hoạt động có hiệu quả vìhọ luôn chịu sự giám sát của các cá nhân, tổ chức gửi tiền. Đây chính là yếu tố đảm bảo tính bền vững của chính sách.

Mở rộng phạm vi tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi

Việc cải thiện cuộc sống của những người tàn tật, người yếu thế trong xã hội là mục tiêu của chính sách an sinh xã hội của Nhà nước. Tuy nhiên, hiện nay các chương trình tín dụng chính sách của Nhà nước chỉ tập trung vào 2 đối tượng là hộ nghèo và hộ cận nghèo. Các gia đình có hoàn cảnh rất khó khăn do có thành viên trong gia đình bị tàn tật, sức khỏe yếu, mất khả năng lao động, sống phụ thuộc vào các thành viên khác thìkhông được hưởng chính sách tín dụng ưu đãi. Vìvậy, cần phải bổ sung thêm đối tượng này vào diện được hỗ trợ tín dụng của Nhà nước nhằm tạo thêm cơ hội cho các gia đình này có thể cải thiện được cuộc sống, thực hiên mục tiêu an sinh xã hội của Chính phủ.

Nguồn tín dụng đến đúng đối tượng cần hỗ trợ

Theo Báo cáo đánh giá nghèo Việt Nam 2012, có đến 8,6% số hộ khá và 3,2% hộ giàu được vay vốn ưu đãi của NHCSXH. Thực tế này cho thấy, những sơ hở trong quản lý nguồn vốn và đối tượng của chính sách. Trong khi NSNN còn hạn hẹp thìviệc chi sai mục đích sử dụng đã gây lãng phí nghiêm trọng và tạo ra bất bình đẳng lớn giữa người giàu và người nghèo.

Để hạn chế tình trạng cho vay sai đối tượng làm giảm hiệu quả tín dụng, cần thiết phải thiết lập một hệ thống thực thi và giám sát có quy mô rộng từ Trung ương xuống đến các địa phương mà quan trọng nhất là quy trình cho vay tại các địa phương cần được cải tiến theo hướng tăng cường vai trò của cán bộ tín dụng ngay từ khâu bình xét, lập danh sách cho vay đến khâu tiến hành kiểm tra thực tế các gia đình nằm trong diện được vay để đánh giá chính xác nhất đối tượng của chính sách, hạn chế tối đa việc sử dụng vốn sai mục đích.

Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Lao động Thương binh và xã hội (2016, 2018), Kết quả điều tra mức sống và thu nhập dân cư năm 2014, 2016, NXB Lao động-Xã hội, Hà Nội;
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội;
5. Liên Hợp Quốc (1995), Xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam, Hà Nội;
7. Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam, Báo cáo tổng kết 15 năm (2002 –2017) thực hiện tín dụng chính sách xã hội;
9. Các website: sbv.gov.vn, mof.gov.vn, nhcsxh.chinhphu.vn, tapchitaichinh.vn, http://econ.worldbank.org…

THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM