Bàn về cơ chế quản lý giám sát thị trường bảo hiểm

(Taichinh) - Đến hết năm 2015, tổng doanh thu toàn thị trường bảo hiểm Việt Nam ước đạt 84.375 tỷ đồng, đạt khoảng 2% GDP, hoàn thành chỉ tiêu Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm giai đoạn 2011-2015 nêu tại Quyết định 193/QĐ-TTg. Các kết quả trên đạt được là nhờ có sự nỗ lực của các doanh nghiệp bảo hiểm, sự phối hợp của các đơn vị liên quan và công tác quản lý, giám sát, điều hành thị trường của cơ quan quản lý.
Ảnh minh họa. Nguồn: internetẢnh minh họa. Nguồn: internet

Qua 5 năm thực hiện các giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam, Bộ Tài chính đã hoàn thành nhiệm vụ quản lý, giám sát thị trường theo Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2011-2015.

Công tác thanh tra, kiểm tra

Trong những năm qua cùng với sự phát triển nhanh của thị trường bảo hiểm, công tác thanh tra, kiểm tra cũng ngày càng tăng cường và chú trọng hơn. Thanh tra, kiểm tra không chỉ giúp phát hiện, ngăn chặn các vi phạm mà còn phát hiện ra những bất cập trong cơ chế, chính sách để sửa đổi, bổ sung từ đó môi trường pháp lý ngày càng hoàn thiện hơn, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh bình đẳng giữa các doanh nghiệp, giúp bảo vệ và tăng thêm quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm duy trì thị trường ổn định, an toàn, hiệu quả.

Theo đó, giai đoạn 2011-2015, Bộ Tài chính đã tiến hành 15 cuộc thanh tra toàn diện, 03 cuộc thanh tra chuyên đề, 48 cuộc kiểm tra toàn diện và 33 cuộc kiểm tra chuyên đề. Các cuộc thanh tra trong lĩnh vực bảo hiểm được thực hiện theo đúng kế hoạch, bám sát nội dung và theo đúng trình tự, thủ tục. Riêng trong năm 2015, qua công tác thanh tra phát hiện những vi phạm chủ yếu:

- Lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ: Một số sai phạm chủ yếu bao gồm: Chưa thực hiện đúng quy tắc, điều khoản, biểu phí; mức trách nhiệm giữ lại vượt quá 5% vốn chủ sở hữu, đại lý bảo hiểm hoạt động khi chưa có chứng chỉ đào tạo đại lý, trích lập dự phòng nghiệp vụ chưa đúng quy định, bồi thường không đúng quy tắc, điều khoản, hạch toán doanh thu - chi phí chưa đúng quy định, đầu tư vượt quá tỷ lệ theo quy định của pháp luật, thực hiện đối chiếu, theo dõi công nợ phải thu, phải trả chưa đầy đủ, kịp thời…

- Lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ: Một số sai phạm chủ yếu bao gồm: Giải quyết quyền lợi bảo hiểm không thống nhất, vẫn tồn tại trường hợp từ chối chi trả quyền lợi bảo hiểm không theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm, chấp hành không đúng quy định về việc tách quỹ chia lãi, không chấp hành đúng quy định về chia lãi cho chủ hợp đồng trong hợp đồng có tham gia chia lãi, hạch toán doanh thu - chi phí chưa đúng quy định…

- Lĩnh vực môi giới bảo hiểm: Một số sai phạm chủ yếu bao gồm: Cung cấp dịch vụ không đúng chức năng; sử dụng các tổ chức khác để thực hiện các công đoạn trong quá trình hoạt động môi giới không phù hợp quy định của pháp luật; trích lập không đầy quỹ dự trữ bắt buộc; ghi nhận doanh thu, chi phí không đầy đủ chính xác…

Bộ phận tham mưu công tác thanh tra chuyên ngành bảo hiểm thuộc cơ quan quản lý, giám sát về bảo hiểm được thành lập theo đúng quy định tại Luật Thanh tra và các văn bản hướng dẫn thi hành. Các cán bộ thuộc cơ quan quản lý, giám sát về bảo hiểm được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành bảo hiểm, được hướng dẫn, cập nhật văn bản, chính sách chế độ cũng như tình hình thị trường; trao đổi, học hỏi kinh nghiệm với các công ty kiểm toán hàng đầu như: Deloitte, Ersnt and Young… từ đó đã nâng cao trình độ chuyên môn, giúp cho cơ quan quản lý chủ động trong công tác thanh tra chuyên ngành bảo hiểm.

Cơ chế quản lý, giám sát lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ

Các kết quả đạt được

Giai đoạn 2011-2015, mặc dù nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn nhưng thị trường bảo hiểm nhân thọ vẫn duy trì đà tăng trưởng ổn định, tốc độ tăng doanh thu phí bình quân là 21,8%/năm, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng GDP; tổng số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế đạt trên 126.833 tỷ đồng; năng lực tài chính của các DN bảo hiểm (DNBH) nhân thọ ngày càng củng cố và nâng cao. Cùng với đó là cơ chế chính sách quản lý, giám sát thị trường ngày càng được tăng cường, hoàn thiện.

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ.

Hệ thống pháp luật kinh doanh bảo hiểm trong đó có lĩnh vực nhân thọ đã dần được kiện toàn, phù hợp hơn với thực tế, giảm thiểu thủ tục hành chính, tạo điều kiện chủ động tối đa cho DN như rút ngắn thời gian phê chuẩn sản phẩm bảo hiểm và các thay đổi khác của DN; bãi bỏ quy định phê chuẩn chương trình đào tạo và thời gian đào tạo đại lý; điều chỉnh quy định về trích lập dự phòng nghiệp vụ phù hợp hơn với biến động của thị trường. Cụ thể như: Một số quy định đặc thù liên quan lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ được Bộ Tài chính hướng dẫn như: Thông tư số 135/2012/TT-BTC ngày 15/8/2012 hướng dẫn triển khai sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị; Thông tư số 115/2013/TT-BTC ngày 20/8/2013 hướng dẫn triển khai bảo hiểm hưu trí và Quỹ bảo hiểm hưu trí tự nguyện; Thông tư số 86/2014/TTLT-BTC-NHNN ngày 2/7/2014 hướng dẫn hoạt động đại lý bảo hiểm của tổ chức tín dụng, chi nhánh nước ngoài cho DNBH nhân thọ; Thông tư số 195/2014/TT-BTC ngày 17/12/2014 hướng dẫn đánh giá, xếp loại DNBH; Thông tư số 130/2015/TT-BTC ngày 25/8/2015 sửa đổi bổ sung Thông tư số 115/2013/TT-BTC hướng dẫn bảo hiểm hưu trí và quỹ hưu trí tự nguyện.

Ngoài ra, Bộ Tài chính đã ban hành các công văn hướng dẫn Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Trung tâm hỗ trợ phát triển nguồn lực tài chính cộng đồng thuộc Trung ương Hội khuyến học Việt Nam (CFRC) triển khai sản phẩm bảo hiểm vi mô.

Một số quy định chuyên ngành khác có liên quan trực tiếp tới lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ cũng được hoàn thiện như: Thông tư số 199/2014/TT-BTC ngày 19/12/2014 hướng dẫn chế độ kế toán đối với lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ; Nghị định 12/2015/NĐ-BTC ngày 12/2/2015 quy định chi tiết thi hành Luật Thuế và sửa đổi các Nghị định về Thuế; các công văn hướng dẫn DNBH nhân thọ hoàn tất các thủ tục để thực hiện theo Đạo Luật về thuế đối với tài khoản nước ngoài (gọi tắt là FATCA) được Chính phủ Mỹ ban hành tháng 3/2010... Những điều chỉnh về chính sách nêu trên đã tạo điều kiện duy trì đà tăng trưởng của lĩnh vực nhân thọ.

Thứ hai, công tác quản lý giám sát được thực hiện
chặt chẽ, sát sao và không ngừng đổi mới.

Ngày 17/12/2014, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 195/2014/TT-BTC hướng dẫn việc xếp loại DN. Theo đó, các DNBH nhân thọ bước đầu tự đánh giá, xếp loại DN dựa trên kết quả hoạt động của năm tài chính. Chỉ tính riêng trong năm 2015, có 17/17 DNBH xếp vào nhóm 1, trong đó 9 DN xếp loại 1A, 8 DN xếp loại 1B. Việc xếp loại các DNBH góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN và đặt ra yêu cầu tự hoàn thiện đối với chất lượng dịch vụ, rà soát hiệu quả quy trình chăm sóc khách hàng trước vào sau bán hàng và kiểm soát rủi ro đối với DN.

Bên cạnh việc giải quyết các thủ tục hành chính thường xuyên và giám sát thông qua tổng hợp, phân tích tình hình thị trường bảo hiểm (từ báo cáo của DNBH và thông tin dư luận xã hội, phản ánh của các cơ quan báo chí...) Bộ Tài chính đã chủ động làm việc trực tiếp với DN để nắm bắt tình hình thực tế thị trường nói chung và từng DN nói riêng theo định kỳ hàng năm và theo các công việc phát sinh cụ thể. Qua đó, Bộ Tài chính (Cục Quản lý Giám sát Bảo hiểm) cũng đã giải quyết kịp thời các khó khăn vướng mắc của DN gặp phải trong quá trình hoạt động kinh doanh.

Trước các biến động của thị trường tài chính, cơ chế chính sách được thay đổi đã tác động hoạt động kinh doanh của DNBH. Lãi suất trái phiếu chính phủ giảm liên tục trong các tháng cuối năm 2014 và đầu năm 2015 (từ trên 8% xuống 6,19%), đã ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất kỹ thuật sử dụng để trích lập dự phòng nghiệp vụ của DNBH nhân thọ. Trong các năm 2014-2015, Bộ Tài chính đã hướng dẫn và có công văn chấp thuận DN điều chỉnh lãi suất trích lập dự phòng phù hợp với lãi suất trái phiếu Chính phủ và quy định pháp luật hiện hành. Tính đến hết năm 2015, các DNBH nhân thọ đều đã điều chỉnh lãi suất trích lập dự phòng, đáp ứng yêu cầu về vốn chủ sở hữu và khả năng thanh toán. Năm 2015, trên cơ sở đề xuất của một số DNBH, Bộ Tài chính đã phát hành thành công 6.230 tỷ đồng trái phiếu chính phủ kỳ hạn 20 năm và 3.900 tỷ đồng trái phiếu chính phủ kỳ hạn 30 năm cho các DNBH nhân thọ.

Bên cạnh việc ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn triển khai các sản phẩm bảo hiểm phi truyền thống, Bộ Tài chính còn làm việc chặt chẽ với DN trong việc xây dựng quy tắc, điều khoản mẫu, nâng cao tính thống nhất về các điều khoản chung, minh bạch hóa thông tin của thị trường và giảm bớt thủ tục hành chính khi phê chuẩn sản phẩm. Từ chỗ chỉ có hơn 10 sản phẩm bảo hiểm năm 1996 thì đến hết năm 2015, cả thị trường bảo hiểm nhân thọ có trên 350 sản phẩm. Các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ đã và đang đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tham gia bảo hiểm.

Song song với việc tháo gỡ các quy định về điều kiện kinh nghiệm hoạt động đại lý tại các Thông tư 194/2015/TT-BTC, Thông tư 130/2015/TT-BTC, Bộ Tài chính đã tăng thêm chủ động cho DN trong việc tuyển chọn và đào tạo đại lý bảo hiểm. Chất lượng và tính chuyên nghiệp của đại lý đã được các DN chú trọng thông qua việc nâng cao chất lượng đào tạo, điều kiện tuyển dụng, điều kiện nâng hạng đại lý. Đến hết năm 2015, số lượng đại lý cả thị trường bảo hiểm nhân thọ là 484.915 người. Ngoài ra, các DN đã bắt đầu tập trung phát triển thêm các kênh phân phối mới như ngân hàng, hệ thống bán hàng trực tiếp, thành lập hệ thống bán hàng tại điểm (tại ngân hàng, trung tâm thương mại).

Thứ ba, nâng cao công tác thông tin thị trường, cập nhật chính sách và quảng bá hình ảnh bảo hiểm.

Bộ Tài chính đã tạo điều kiện tối đa hỗ trợ các DN trong việc giải quyết các vướng mắc, rút ngắn thời gian giải quyết các công việc liên quan đến thủ tục hành chính, góp phần thúc đẩy thị trường bảo hiểm phát triển lành mạnh, các DN hoạt động bình đẳng, phù hợp với đặc thù, thế mạnh của mình. Trong giai đoạn 2011- 2015, nhiều Hội thảo đối với lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ đã được cơ quan quản lý nhằm tuyên truyền, phổ biến pháp luật, ghi nhận các ý kiến phản ánh, đóng góp quy định pháp lý và nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường bảo hiểm nhân thọ.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra.

Bên cạnh công tác quản lý, giám sát DN thường xuyên, công tác thanh tra, kiểm tra tại các DNBH nhân thọ cũng đã được tiến hành định kỳ với mục đích nhằm hỗ trợ DN trong việc tuân thủ quy định pháp luật, tìm hiểu những khó khăn vướng mắc của DN từ đó hoàn thiện những quy định pháp lý có liên quan. Giai đoạn 2011- 2015, lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ đã tiến hành 6 cuộc thanh tra toàn diện và 23 đoàn kiểm tra chuyên đề.

Các DNBH nhân thọ đã rà soát và thực hiện các kiến nghị có liên quan của đoàn kiểm tra như: Chi trả bổ sung bảo tức chia thêm cho khách hàng với tổng số tiền hơn 1.500 tỷ đồng; Chi trả quyền lợi bảo hiểm hỗ trợ nằm viện, chăm sóc sức khỏe, tử kỳ, đáo hạn cho hơn 300 trường hợp với tổng số tiền hơn 10 tỷ đồng; Các quy trình quản lý, tuyển dụng và sử dụng đại lý, quy trình thẩm định bảo hiểm, quy trình chi trả quyền lợi bảo hiểm đã được sửa đổi và hoàn thiện.

Những vấn đề đặt ra và định hướng quản lý, giám sát bảo hiểm nhân thọ trong thời gian tới

Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, cơ chế quản lý, giám sát trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ hiện tại còn một vấn đề cần được cải thiện, cụ thể là: Chưa có hệ thống công nghệ thông tin kết nối giữa cơ quan quản lý, DNBH; Việc quản lý, giám sát chủ yếu dựa trên các nguyên tắc, rà soát tính tuân thủ quy định pháp luật, chưa tập trung nhiều vào việc phát hiện sớm các rủi ro của thị trường và DN bảo hiểm do thiếu các công cụ hỗ trợ và thông tin thị trường còn chưa đầy đủ; Chính sách về thuế chưa đồng bộ đối với thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp trong việc mua hợp đồng bảo hiểm nhân thọ; Chưa có chính sách ưu đãi đối với DN mở rộng kinh doanh tại các vùng sâu, vùng xa

Thực hiện các mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể của Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2011- 2020, định hướng cơ chế quản lý, giám sát đối với DN bảo hiểm nhân thọ như sau: Tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý giám sát theo các nguyên tắc và chuẩn mực của Hiệp hội các nhà quản lý bảo hiểm quốc tế trong đó hướng tới việc quản lý, giám sát trên cơ sở rủi ro; Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý theo hướng nâng cao tính minh bạch, bình đẳng và đồng bộ; Đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá về ý nghĩa, vai trò của bảo hiểm, nâng cao ý thức tham gia bảo hiểm, bảo vệ tài chính cho cá nhân, gia đình.

Cơ chế quản lý, giám sát bảo hiểm phi nhân thọ

Liên quan đến lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, trong giai đoạn 2011-2015, mặc dù nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn nhưng thị trường vẫn duy trì đà tăng trưởng ổn định, tốc độ tăng doanh thu phí bình quân là 11,7%/năm, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng GDP; đóng góp hơn 2.403 tỷ đồng cho ngân sách nhà nước; năng lực tài chính của các DNBH phi nhân thọ ngày càng củng cố và nâng cao.

Các kết quả đạt được

Một là, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ.

Trong giai đoạn 2011-2015, trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ có 18 văn bản quy phạm pháp luật (bao gồm 3 Nghị định, 3 Quyết định của Thủ tướng, 12 Thông tư của Bộ Tài chính) được rà soát, sửa đổi bổ sung và ban hành mới tập trung vào các mục tiêu: Tháo gỡ vướng mắc, giúp đỡ, hỗ trợ DNBH tăng trưởng hiệu quả; đơn giản hóa thủ tục hành chính; Tăng cường quản trị DN; Tăng cường cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo an toàn tài chính và đảm bảo quyền lợi của người tham gia các sản phẩm bảo hiểm đang triển khai trên thị trường; thúc đẩy, tạo điều kiện phát triển các sản phẩm bảo hiểm mới. Ngoài ra, hàng loạt văn bản điều hành cũng đã được Bộ Tài chính ban hành, hướng dẫn hoạt động của thị trường bảo hiểm, bao gồm các quyết định hướng dẫn, phê chuẩn quy tắc, điều khoản, biểu phí để DNBH triển khai các chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, bảo hiểm thủy sản...

Hai là, tăng cường hiệu quả công tác quản lý, giám sát.

Về tổng thể, công tác thanh tra, kiểm tra và quản lý, giám sát thị trường bảo hiểm phi nhân thọ đã được triển khai thực hiện chủ động, tích cực và đồng bộ: Tình trạng nợ phí bảo hiểm, nợ xấu trong các DNBH ngày càng giảm, góp phần tăng cường hiệu quả kinh doanh; Cạnh tranh về phí giữa các DNBH cũng dần được cải thiện, góp phần tăng cường khả năng thanh toán và hiệu quả kinh doanh của DNBH; Thủ tục hành chính đơn giản hóa tạo nhiều thuận lợi cho các DNBH. Số lượng và chất lượng các cuộc thanh tra, kiểm tra ngày càng được tăng cường; trong giai đoạn 2011-2015, đã tiến hành 9 cuộc thanh tra, 22 cuộc kiểm tra toàn diện, 10 cuộc kiểm tra về chuyên đề tại các DNBH phi nhân thọ. Qua công tác này đã phát hiện và chấn chỉnh kịp thời hoạt động kinh doanh của các DNBH.

Nhiệm vụ quản lý, giám sát được triển khai chủ động, tích cực, sát sao, với nhiều phương pháp, cách thức đổi mới và hiệu quả. Cơ quan quản lý bảo hiểm đã xây dựng được hệ thống đánh giá, xếp loại DNBH nhằm giúp DNBH tự đánh giá, xếp loại, nhận biết sớm những dấu hiệu cần tăng cường kiểm soát, xử lý kịp thời, hỗ trợ cơ quan quản lý phát hiện sớm các dấu hiệu cần tăng cường kiểm soát để có biện pháp chấn chỉnh kịp thời, phù hợp với từng DNBH (Thông tư 195/2014/TT-BTC).

Việc chuẩn hóa quy tắc, điều khoản các sản phẩm bảo hiểm đã góp phần hạn chế tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, tình trạng trục lợi bảo hiểm và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNBH đối với các sản phẩm, nghiệp vụ bảo hiểm có thị phần, vị trí lớn trên thị trường, đảm bảo quyền lợi của người tham gia bảo hiểm.

Bên cạnh đó, cơ quan quản lý đã đẩy mạnh công tác tổ chức tập huấn, tuyên truyền, thường xuyên thành lập các đoàn công tác làm việc với các tỉnh, thành phố và kịp thời giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện chủ động theo dõi, giám sát chặt chẽ việc thực hiện triển khai bảo hiểm thủy sản theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014 của Chính phủ, bảo hiểm nông nghiệp theo Quyết định số 315/QĐ-TTg và bảo hiểm tín dụng xuất khẩu theo Quyết định 2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết của Chính phủ, Trung ương, chính sách phát triển “tam nông”.

Ba là, những vấn đề đặt ra và định hướng quản lý, giám sát trong thời gian tới.

Pháp luật hiện hành còn chưa có quy định cụ thể điều chỉnh việc triển khai sản phẩm bảo hiểm qua các kênh phân phối phi truyền thống (thương mại điện tử, khai thác bảo hiểm phi nhân thọ qua ngân hàng...); quy định hướng dẫn chi tiết về công tác quản trị doanh nghiệp (đặc biệt là các quy định về quản lý rủi ro và kiểm tra, kiểm soát nội bộ, hệ thống công nghệ thông tin...); các quy định về mức giữ lại trong tái bảo hiểm chưa phù hợp với đặc thù rủi ro của từng nghiệp vụ bảo hiểm, quy mô vốn của từng DNBH và chưa đảm bảo được mức giữ lại hợp lý cho toàn thị trường...

Trong thời gian tới, tiếp tục thực hiện 6 nhóm giải pháp phát triển thị trường, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể của của Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, tập trung vào các nội dung chính: Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý theo hướng nâng cao tính minh bạch, bình đẳng và đồng bộ; cắt giảm thủ tục hành chính, tạo điều kiện, hỗ trợ doanh nghiệp hoạt động hiệu quả; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát để có những khuyến nghị, cảnh báo kịp thời cho các DNBH và sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách cho phù hợp với với thực tế; Tăng cường quản lý, giám sát việc triển khai các sản phẩm bảo hiểm bắt buộc; sản phẩm có thị phần lớn và kinh doanh kém hiệu quả trong thời gian qua; Phối hợp với Hiệp hội bảo hiểm, DNBH và các cơ quan hữu quan để tăng cường phổ biến về chính sách, chế độ mới cũng như tuyên truyền, quảng bá về vai trò, ý nghĩa của bảo hiểm đối với phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ tài chính đối với hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống dân sinh.

Cơ chế quản lý giám sát đối với lĩnh vực môi giới bảo hiểm

Hoàn thiện thể chế

Một số quy định được sửa đổi, bổ sung nhằm góp phần nâng cao đã chất lượng dịch vụ, chuyên nghiệp hóa hoạt động môi giới bảo hiểm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực như: Bổ sung quy định tiêu chuẩn người trực tiếp hoạt động môi giới bảo hiểm, yêu cầu DN môi giới bảo hiểm phải thỏa thuận bằng văn bản với khách hàng khi thực hiện cung cấp dịch vụ và chỉ được hợp tác với DN môi giới bảo hiểm thành lập và hoạt động tại Việt Nam để thực hiện nội dung hoạt động môi giới bảo hiểm (Thông tư 124/2012/TT-BTC); Sửa đổi quy định về vốn chủ sở hữu khi thực hiện hoạt động môi giới bảo hiểm (Thông tư 125/2012/TT-BTC); Cụ thể hóa quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi như không mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, vi phạm các hành vi bị cấm, vi phạm nội dung hoạt động (Nghị định 98/2013/NĐ-CP); Bãi bỏ quy định về cơ cấu vốn điều lệ, tỷ lệ sở hữu cổ phần của các cổ đông trong DN cổ phần môi giới bảo hiểm (Thông tư 194/2014/TT-BTC).

Công tác hoàn thiện thể chế thời gian qua một mặt đã tạo nền tảng pháp lý cho các DN môi giới bảo hiểm hoạt động ổn định, nâng cao năng lực kinh doanh và tăng trưởng hiệu quả, mặt khác còn góp phần cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công tác quản lý, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước, tăng cường kỷ luật, kỷ cương của thị trường.

Công tác quản lý, giám sát

Công tác quản lý, giám sát hoạt động DN môi giới bảo hiểm được tăng cường một cách chủ động, tích cực, thường xuyên với nhiều phương pháp, cách thức linh hoạt, trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa giám sát từ xa và kiểm tra, thanh tra tại chỗ. Công tác giám sát từ xa được thực hiện thường xuyên và sát sao thông qua việc phân tích báo cáo, thông tin của DN định kỳ hàng tháng, quý, năm, qua đó luôn có được bức tranh toàn cảnh và chi tiết về tình hình lĩnh vực môi giới bảo hiểm, nhanh chóng có biện pháp chấn chỉnh hoạt động của các DN môi giới bảo hiểm (như khuyến cáo, yêu cầu DN đảm bảo tuân thủ quy định về vốn chủ sở hữu trong quá trình hoạt động...). Bên cạnh đó, cơ quan quản lý luôn sẵn sàng lắng nghe, đối thoại với DN thông qua các hội nghị, hội thảo để nắm bắt khó khăn, vướng mắc của DN, giải quyết nhanh chóng, kịp thời các đề nghị, đề xuất của các DN, giúp các DN nắm bắt cơ hội và phát triển hoạt động kinh doanh, hỗ trợ DN và thị trường phát triển bền vững.

Công tác thanh tra, kiểm tra tại chỗ được tăng cường cả về số lượng và chất lượng: Trong giai đoạn 2011-2015, cơ quan quản lý đã thực hiện 03 cuộc thanh tra và 19 cuộc kiểm tra các DN môi giới bảo hiểm, phát hiện và chấn chỉnh, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm của DN trong hoạt động môi giới bảo hiểm và công tác quản lý tài chính. Việc tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đã góp phần nâng cao tính tuân thủ của các DN môi giới bảo hiểm, đồng thời qua đó cũng kịp thời phát hiện những bất cập trong cơ chế, chính sách và công tác quản lý để hoàn thiện. Song song với việc quản lý, giám sát DN, thời gian qua cơ quan quản lý nhà nước cũng đã chú trọng, đẩy mạnh hoạt động thông tin, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của khách hàng, người dân và xã hội về bảo hiểm và môi giới bảo hiểm.

Phương hướng và giải pháp trong thời gian tới

Công tác quản lý, giám sát hiện nay vẫn còn một số hạn chế, như: Hoạt động giám sát vẫn chủ yếu được thực hiện một cách thủ công, việc ứng dụng công nghệ thông tin để kết nối liên tục giữa cơ quan quản lý và DN chưa được tăng cường. Thông tin tuyên truyền về môi giới bảo hiểm đã được quan tâm, tuy nhiên vẫn cần tiếp tục đẩy mạnh trong thời gian tới.

Tiếp tục bám sát Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm đến 2020 và tình hình thực tiễn của thị trường, các giải pháp đối với công tác quản lý, giám sát lĩnh vực môi giới bảo hiểm trong giai đoạn tiếp theo là: Tiếp tục rà soát, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật liên quan tới hoạt động môi giới bảo hiểm nhằm hỗ trợ, thúc đẩy DN phát triển; Kết hợp giám sát từ xa và đối thoại, trao đổi với DN dưới nhiều hình thức; Tiếp tục đẩy mạnh công tác kiểm tra tại DN, chú trọng kiểm tra chất lượng cung cấp dịch vụ môi giới bảo hiểm, chấn chỉnh hoặc xử lý kịp thời các hành vi vi phạm...

Bên cạnh đó, sẽ có các giải pháp nhằm hỗ trợ các DN môi giới bảo hiểm nâng cao năng lực kinh doanh; Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý, giám sát; Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức và hiểu biết của người dân và xã hội về bảo hiểm và môi giới bảo hiểm...

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính kỳ 1 tháng 4/2016

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục