Chính sách tài chính và vấn đề tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp

TS. NGUYỄN VIẾT LỢI - Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách tài chính (Bộ Tài chính)

(Taichinh) -

Trong thời gian qua, do nền kinh tế còn nhiều khó khăn, Quốc hội, Chính phủ đã thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ sản xuất - kinh doanh. Trong đó, nhiều giải pháp tài chính nhằm khuyến khích phát triển sản xuất - kinh doanh, thu hút đầu tư đã được triển khai, thực hiện đồng bộ, phù hợp với tình hình thực tế, đã và đang phát huy tác dụng, góp phần hỗ trợ thị trường, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Để triển khai tốt các Nghị quyết của Chính phủ... về hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp trong thời gian tới, chính sách tài chính tiếp tục hướng tới việc hoàn thiện chính sách thu nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất - kinh doanh và thu hút đầu tư; quản lý chi chặt chẽ, đảm bảo hiệu quả góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, phục hồi tăng trưởng và kiềm chế lạm phát...

Ảnh minh họa. Nguồn: internetẢnh minh họa. Nguồn: internet

Chính sách tài chính hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp

Những năm qua, hoạt động của DN có sự cải thiện rõ rệt. Năm 2015, cả nước có 94.754 DN được thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 601,5 nghìn tỷ đồng, tăng 26,6% về số DN và 39,1% về số vốn đăng ký so với năm trước. Đây cũng là số DN đăng ký thành lập mới cao nhất trong giai đoạn 2012-2015 (Số DN thành lập mới các năm từ 2012-2014 lần lượt là 72.305; 76.955; 74.887).

5 tháng đầu năm 2016, cả nước có 44.740 DN đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 349,5 nghìn tỷ đồng, tăng 24,1% về số DN và tăng 59,3% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2015; số vốn đăng ký bình quân một DN đạt 7,8 tỷ đồng, tăng 28,4% (Số DN thành lập mới 5 tháng đầu năm 2015 tăng 15,5%; số vốn đăng ký tăng 26,3% so với cùng kỳ năm 2014). Những kết quả bước đầu của năm 2016 cho thấy, các chính sách tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ DN phát triển, trong đó có chính sách tài chính đã có hiệu quả.

Chính sách tài chính hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho DN đã được triển khai trong giai đoạn 2011-2015 và đầu năm 2016 trên cả đầu vào (vốn, mặt bằng sản xuất..) và đầu ra (tổng cầu sản phẩm). Cụ thể:

Một là, hỗ trợ DN về mặt bằng sản xuất thông qua các chính sách miễn, giảm tiền thuê đất. Theo đó cho phép: (i) Giảm 50% tiền thuê đất trong năm 2011 và năm 2012 cho tất cả các tổ chức kinh tế đang hoạt động trong các ngành sản xuất (không bao gồm các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ) (Quyết định 2093/QĐ-TTg ngày 23/11/2011); (ii) Giảm 50% tiền thuê đất phải nộp của năm 2012 đối với một số tổ chức kinh tế cho DN hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ (Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10/5/2012); (iii) Giảm 50% tiền thuê đất năm 2013, năm 2014 đối với tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho thuê đất (Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 7/01/2013); (iv) Gia hạn tối đa 12 tháng thời hạn nộp tiền sử dụng đất đối với các chủ đầu tư dự án có khó khăn về tài chính (Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10/5/2012); (v) Cho phép các chủ đầu tư dự án đã được Nhà nước giao đất nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất do có khó khăn về tài chính được nộp tiền sử dụng đất theo tiến độ thanh toán tiền bán hàng trong thời gian tối đa 24 tháng kể từ ngày có thông báo nộp tiền sử dụng đất của cơ quan thuế (Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 7/01/2013). Các chính sách này được thực hiện kịp thời đã từng bước hỗ trợ DN vượt qua khó khăn, giảm chi phí thuê mặt bằng, có thêm nguồn tài chính để ổn định và phát triển sản xuất.

Hai là, tạo điều kiện cho các DN tích tụ vốn thông qua giảm nghĩa vụ thuế thu nhập DN (TNDN) phải nộp bằng cách: Giảm thuế suất thuế TNDN phổ thông từ 22% năm 2014 xuống còn 20% năm 2016, thuế suất thuế TNDN ưu đãi (áp dụng đối với DNNVV, tổ chức kinh tế vi mô…) từ mức 20% năm 2014 xuống còn 17% năm 2016 (So với các nước trong khu vực thì mức thuế này là tương đối thấp: Trung Quốc, Indonesia, Malaysia có mức thuế suất TNDN là 25%); bổ sung nhiều ưu đãi thuế đối với đầu tư mở rộng thuộc lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn ưu đãi; mở rộng chi phí được giảm trừ cho DN bằng cách bỏ mức khống chế 15% trên tổng chi phí đối với chi phí khuyến mãi, quảng cáo, tiếp tân... Bên cạnh đó, còn thực hiện chính sách miễn, giảm và gia hạn thời gian nộp thuế như giảm 30% số thuế TNDN phải nộp trong năm đối với DN nhỏ và vừa (DNNVV) và DN sử dụng nhiều lao động (Nghị quyết số 08/2011/QH13); miễn thuế khoán (thuế GTGT, thuế TNCN, thuế TNDN) năm 2012 đối với một số đối tượng; gia hạn việc nộp thuế TNDN, thuế GTGT đối với một số đối tượng thuộc DNNVV và DN sử dụng nhiều lao động...

Ước tính tổng số thuế hỗ trợ cá nhân, DN năm 2015 khoảng 4.000 tỷ đồng. Dự kiến cả giai đoạn 2011-2015, tổng khoản giảm thu do các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế khoảng 85.000 tỷ đồng. Việc giảm thuế suất thuế TNDN; bổ sung ưu đãi thuế, giảm và gia hạn thời gian nộp thuế thực chất là việc bổ sung vốn (đối với trường hợp giảm thuế suất, miễn, giảm thuế phải nộp) và cho các DN sử dụng tiền thuế trong thời gian nhất định (đối với trường hợp gia hạn thời gian nộp thuế) không tính lãi, qua đó giảm bớt khó khăn về vốn, gia tăng lợi nhuận được để lại, thúc đẩy hoạt động đầu tư của DN, thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế.

Ba là, hỗ trợ trong việc tiếp cận nguồn vốn phục vụ hoạt động sản xuất - kinh doanh cho các DN thông qua đẩy mạnh thực hiện các giải pháp tăng cường huy động vốn của DN như hạ mặt bằng lãi suất tín dụng, tăng tín dụng đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn, DNNVV, DN sản xuất hàng xuất khẩu, DN công nghệ hỗ trợ; tăng cường nguồn lực cho các quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương, Ngân hàng Phát triển Việt Nam đây được xem là cầu nối giữa ngân hàng với các DNNVV không có tài sản thế chấp, chưa có khả năng đáp ứng các điều kiện về bảo đảm tiền vay nhưng có phương án sản xuất - kinh doanh hiệu quả, khả thi. Bên cạnh đó, triển khai tái cơ cấu thị trường tài chính (thị trường chứng khoán, bảo hiểm...) tạo kênh huy động vốn phục vụ quá trình sản xuất - kinh doanh của DN.

Bốn là, hỗ trợ làm tăng tổng cầu của các DN, hỗ trợ DN tiêu thụ sản phẩm, giải phóng hàng tồn kho của DN bằng cách điều chỉnh mức thu nhập chịu thuế TNCN từ 4 triệu đồng/tháng lên 9 triệu đồng/tháng, mức giảm trừ gia cảnh từ 1,6 triệu đồng/tháng lên 3,6 triệu đồng/tháng (Luật sửa đổi, bổ sung 1 số điều của Luật Thuế TNCN số 26/2014/QH13); miễn thuế TNCN cho một số đối tượng...; bổ sung nhiều nhóm hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT từ ngày 01/01/2014 và giảm mức thuế suất đối với nhóm hàng hóa, dịch vụ liên quan đến nhà ở xã hội và nhà ở thương mại giá rẻ từ ngày 1/7/2013... (Áp dụng mức thuế suất thuế GTGT 5% đối với bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở xã hội từ ngày 1/7/2013 và giảm 50% mức thuế suất 10% thuế GTGT đối với nhà ở thương mại có diện tích dưới 70m2 từ 1/7/2013 đến 30/6/2016). Các giải pháp này đã góp phần tăng chi tiêu của các cá nhân, thúc đẩy tiêu dùng, giúp DN tiêu thụ được sản phẩm. Kết quả năm 2015, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,4% so với năm 2014, đây là mức tăng vượt bậc so với những năm gần đây (Mức tăng này của năm 2011: năm 2012: 3,7%; năm 2013: 5,9%; năm 2014: 11,0%), đặc biệt là các ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 46,2%; sản xuất xe có động cơ tăng 25,7%; sản xuất kim loại tăng 21,1%.

Năm là, hỗ trợ DN giảm hàng tồn kho, tiếp cận thị trường thông qua các chính sách chi xúc tiến thương mại với 03 mục tiêu chính là xúc tiến thương mại định hướng xuất khẩu, xúc tiến thương mại thị trường trong nước và xúc tiến thương mại miền núi, biên giới, hải đảo. Mức kinh phí hỗ trợ cho chương trình này từ ngân sách trong giai đoạn 2011- 2015 đã tăng lên đáng kể, từ 55 tỷ đồng (2011) lên 90 tỷ đồng (2015) đã mang lại kết quả khả quan trong kết nối cung cầu, tạo cầu nối cho dòng chảy sản phẩm. Chương trình xúc tiến thương mại đã chú trọng đến các thị trường thuộc Hiệp định Việt Nam đã ký kết như Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP); các nước thuộc Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), hay các nước thuộc Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA)… nhằm tận dụng những cơ hội từ các hiệp định này. Từ đó, góp phần duy trì và mở rộng thị trường xuất khẩu; củng cố, khai thác và phát triển thị trường nội địa, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh và gián tiếp tác động giảm hàng tồn kho cho DN.

Sáu là, cải thiện môi trường kinh doanh, môi trường đầu tư, từ đó nâng cao nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo động lực phát triển cho DN thông qua cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan. Thực hiện Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18/3/2014; Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12/3/2015; Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 28/4/2016, Bộ Tài chính đã đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tăng cường quản lý thuế, hải quan và đảm bảo kỷ luật, kỷ cương nội ngành, đồng hành cùng DN. Với các giải pháp đã triển khai thực hiện nêu trên, số giờ nộp thuế năm 2015 giảm tiếp được khoảng trên 50 giờ (năm 2014 đã giảm được 370 giờ); đạt mục tiêu mà Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ đã đặt ra về việc giảm số giờ nộp thuế đối với người nộp thuế xuống dưới 121,5 giờ trong năm 2015. Bên cạnh đó, các giải pháp về điều hành giá cả nhằm hạn chế tình trạng buôn lậu, găm giữ hàng hóa, thao túng thị trường và chống chuyển giá cũng được thực hiện. Nỗ lực này đã giúp DN tiết kiệm chi phí tuân thủ thuế, hải quan, từ đó hỗ trợ DN nâng cao sức cạnh tranh.

Thách thức đặt ra với doanh nghiệp và các chính sách tài chính hỗ trợ thời gian tới

Chính sách tài chính nhằm tháo gỡ khó khăn cho DN trong thời gian qua đã và đang phát huy tác dụng, góp phần hỗ trợ thị trường, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất - kinh doanh, tiếp tục tạo tiền đề cho giai đoạn 2016-2020. Đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và toàn diện. Đến năm 2015, Việt Nam đã tham gia thiết lập 12 hiệp định thương mại tự do (FTA) với 56 quốc gia và nền kinh tế trên thế giới; ngày 22/11/2015, các nhà Lãnh đạo ASEAN đã ký Tuyên bố Kuala Lumpur chính thức thành lập Cộng đồng ASEAN, trong đó có Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào ngày 31/12/2015; Việt Nam đã tham gia ký kết Hiệp định TPP...

Điều này mặc dù mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức đối với DN do năng lực cạnh tranh của các DN Việt Nam nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung còn thấp; năng suất lao động của các DN tăng chậm, thu hút đầu tư vẫn dựa vào lợi thế nhân công, chi phí mặt bằng rẻ và chi phí năng lượng thấp đã ảnh hưởng nhiều đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế cũng như của DN. Khả năng tích lũy vốn nhân lực và tiến bộ công nghệ của DN Việt Nam còn khiêm tốn và khá lạc hậu, chất lượng nguồn lao động thấp... nên chịu sức cạnh tranh lớn từ DN nước ngoài, dẫn đến một số ngành trong nước bị ảnh hưởng do tác động của việc mở cửa thị trường.

Trước tình hình đó, đầu năm 2016, Quốc hội đã tiếp tục ban hành các chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn cho DN cụ thể: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế quy định giảm tiền chậm nộp thuế xuống từ 0,05%/ngày còn 0,03%/ngày từ 01/7/2016; (người nộp thuế chậm nộp tiền thuế so với hạn quy định, thời hạn gia hạn nộp thuế, thời hạn ghi trong thông báo của cơ quan quản lý thuế, thời hạn trong quyết định xử lý của cơ quan thì phải nộp đủ tiền thuế và tiền chậm nộp theo mức bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp). Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2016 tập trung vào khuyến khích và bảo hộ sản xuất trong nước hợp lý; bổ sung một số nội dung quy định về thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp, thuế tự vệ trên cơ sở kế thừa; bổ sung những quy định về ưu đãi thuế để khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh, xuất khẩu, đẩy mạnh xã hội hóa, góp phần thực hiện cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Ngày 16/5/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 35/NQ-CP về hỗ trợ và phát triển DN đến năm 2020 nhấn mạnh đến vai trò của DN là “động lực nâng cao sức cạnh tranh và tính tự chủ của nền kinh tế”. Nghị quyết đã khẳng định tầm quan trọng của Nghị quyết đầu tiên về hỗ trợ và phát triển DN trong một giai đoạn phát triển mới - giai đoạn tăng tốc, bứt phá nhằm chuyển đổi mô hình tăng trưởng và sức cạnh tranh nền kinh tế. Trong đó các giải pháp tài chính được đề cập bao gồm: (1) Cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho DN; (2) Tạo dựng môi trường thuận lợi hỗ trợ DN khởi nghiệp, DN đổi mới sáng tạo (3) Bảo đảm quyền kinh doanh, quyền bình đẳng tiếp cận và cơ hội kinh doanh của DN (Xây dựng báo cáo trình Chính phủ để trình Quốc hội nghị quyết tháo gỡ khó khăn về thuế, sửa đổi quy định các loại thuế, quản lý thuế, hải quan theo hướng liên thông giữa các bộ...); (4) Giảm chi phí kinh doanh cho DN (điều chỉnh giảm tiền thuê đất, chi phí chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chi phí khác của DN; đề xuất điều chỉnh hợp lý mức phí đường bộ, phí BOT...); (5) Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của DN.

Các giải pháp được đề cập trong Nghị quyết 35/NQ-CP nói chung và đối với các giải pháp tài chính nói riêng có những điểm đột phá với những yêu cầu, mục tiêu mới và nhiệm vụ giải pháp chi tiết, cụ thể, bao quát và mở rộng trách nhiệm và tổ chức thực hiện của nhiều Bộ, ngành, đơn vị liên quan. Nghị quyết không chỉ đưa các giải pháp giải quyết những khó khăn trước mắt, ngắn hạn mà còn đưa ra các giải pháp mang tính dài hạn (5 năm) cho sự nghiệp phát triển của DN.

Để triển khai tốt các Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 7/01/2016; Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 28/4/2016; Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 về hỗ trợ, phát triển DN, chính sách tài chính tiếp tục hướng tới việc hoàn thiện chính sách thu nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất - kinh doanh và thu hút đầu tư; quản lý chi chặt chẽ, tiết kiệm, đảm bảo hiệu quả góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, phục hồi tăng trưởng và kiềm chế lạm phát trên tinh thần khẩn trương triển khai thực hiện các Nghị quyết của Chính phủ trên các mặt sau:

Thứ nhất, giảm số thuế phải nộp của DN, cá nhân trong lĩnh vực gặp khó khăn và DNNVV: Tiến hành rà soát lại các chính sách thuế hiện hành, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, đánh giá tác động từ đó đề xuất việc miễn, giảm, gia hạn nộp thuế các loại đối với các DN trong một số lĩnh vực, ngành nghề gặp khó khăn; nghiên cứu, đề xuất giảm thuế suất thuế TNDN cho DNNVV; giảm thuế TNCN đối với lao động trong một số lĩnh vực;

Thứ hai, giảm chi phí kinh doanh cho DN: Tiến hành rà soát và điều chỉnh các quy định pháp luật về đất đai theo hướng giảm tiền thuê đất, chi phí chuyển đổi mục đích sử dụng đất và các chi phí khác của DN; rà soát, điều chỉnh mức phí đường bộ, phí BOT; đánh giá và đề xuất mức điều chỉnh hợp lý để giúp DN giảm chi phí, đặc biệt là DN kinh doanh dịch vụ vận tải; mở rộng chi phí được giảm trừ cho DN về các hoạt động nâng cao năng lực, tư vấn hỗ trợ thủ tục cho DN, chi phí quảng cáo, tiếp thị;

Thứ ba, cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho DN: Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính thuế, hải quan, nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế; cải thiện mạnh mẽ chỉ số nộp thuế và giao dịch thương mại qua biên giới. Đảm bảo ứng dụng công nghệ thông tin tối thiểu 95% trong nộp tờ khai, nộp thuế, hoàn thuế. Thực hiện quản lý rủi ro đối với công tác thanh tra, kiểm tra thuế, giải quyết khiếu nại và hoàn thuế GTGT. Tăng cường công tác tuyên truyền, hỗ trợ đối với người nộp thuế; tiếp tục đổi mới hình thức tuyên truyền, hỗ trợ, tư vấn pháp luật về thuế cho cộng đồng xã hội; phối hợp với các Bộ, ngành đề xuất mô hình tách bạch giữa chức năng quản lý, giám sát và chức năng sở hữu đối với DNNN.

Thứ tư, xây dựng môi trường thuận lợi hỗ trợ DN khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và đảm bảo quyền kinh doanh, quyền bình đẳng tiếp cận các và cơ hội kinh doanh của DN: Tăng cường nguồn lực tài chính cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam; Nhanh chóng ban hành Nghị định sửa đổi Nghị định 75/2011/NĐ-CP nhằm hỗ trợ các DN đầu tư hiện đại hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh trong các ngành nghề và lĩnh vực trọng điểm; Nâng cao hiệu quả hoạt động của các hệ thống các quỹ bảo lãnh tín dụng ở các địa phương.

Bên cạnh đó, ngành Tài chính sẽ thực hiện đồng bộ và có hiệu quả các giải pháp tái cấu trúc thị trường chứng khoán, nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các sản phẩm chứng khoán; nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cơ chế đẩy mạnh thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài, phát triển các nhà đầu tư tổ chức như: các quỹ đầu tư, quỹ hưu trí…; Triển khai thị trường chứng khoán phái sinh; Phát triển thị trường trái phiếu DN, hoàn thiện và mở rộng thị trường trái phiếu chính phủ, thúc đẩy cổ phần hóa, gắn kết với việc niêm yết, giao dịch trên thị trường chứng khoán; Đẩy mạnh triển khai các mô hình quỹ tương hỗ. Đồng thời, nghiên cứu xây dựng cơ chế phối hợp công tư (PPP) trong đầu tư phát triển khoa học công nghệ (kết quả nghiên cứu; chuyển giao (mua công nghệ); Thuê các chuyên gia, tổ chức tư vấn trong và ngoài nước với mức lương thưởng thoả đáng; hỗ trợ vốn đối ứng; Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra nhằm chống buôn lậu, gian lận thương mại, sản xuất và buôn bán hàng giả, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia chống thất thu thuế và quan trọng hơn là đảm bảo an toàn cộng đồng, tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Tài chính, Báo cáo hội nghị tổng kết ngành các năm (2014,2015,2016);

2. TS. Trần Du Lịch (2015), Môi trường đầu tư kinh doanh nhìn từ góc độ cải cách nền hành chính và tài chính công, Tham luận tại Diễn đàn Kinh tế Mùa Xuân, Nghệ An, 2015;

3. Nhóm nghiên cứu của Viện Chiến lược và Chính sách tài chính (2014), Đánh giá tác động của chính sách tài khóa thúc đẩy thị trường, tháo gỡ khó khăn cho DN giai đoạn 2011-2013, Sách Tài chính Việt Nam, NXB Tài chính;

4. Sách “Tài chính Việt Nam 2015- Chủ động tài khóa, thúc đẩy tăng trưởng, Viện Chiến lược và Chính sách tài chính (2016), NXB Tài chính;

5. http://baochinhphu.vn/Dua-Nghi-quyet-Dai-hoi-XII-cua-Dang-vao-cuoc-song/Hoi-nhap-kinh-te-quoc-te-va-nhung-van-de-dat-ra-cho-giai-doan-toi/246682.vgp;

6. Các trang thông tin điện tử: http://www.mof.gov.vn, http:// www.gso.gov.vn, http://www.vietrade.gov.vn.

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính kỳ I tháng 6/2016

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục