Cơ chế tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập dạy nghề

(Taichinh) -

Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm là “chìa khóa” mở ra đổi mới giáo dục nghề nghiệp, giúp giải quyết hàng loạt vấn đề trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp. Vì vậy, triển khai đổi mới cơ chế hoạt động cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp (dạy nghề) được xem là bước đi đột phá hiện nay.

Ảnh minh họa. Nguồn: internetẢnh minh họa. Nguồn: internet

“Chìa khóa” đổi mới giáo dục nghề nghiệp

Theo thống kê, trên cả nước hiện có 973 cơ sở dạy nghề công lập, trong đó 148 trường cao đẳng nghề, 178 trường trung cấp nghề và 653 trung tâm dạy nghề. Từ năm 2006 đến nay, các cơ sở dạy nghề thực hiện cơ chế tự chủ theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập.

Sau gần 10 năm triển khai thực hiện cơ chế tự chủ theo quy định tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP cho thấy, các đơn vị đã chủ động hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, quản lý và sử dụng kinh phí; công tác quản lý trong nội bộ được tăng cường, các nguồn lực đã được sử dụng hiệu quả hơn, thúc đẩy phát triển hoạt động sự nghiệp, khai thác nguồn thu để tăng thu, tiết kiệm chi góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động dạy nghề…

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, các cơ sở đào tạo, giáo dục dạy nghề thực hiện tự chủ theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP vẫn gặp phải một số khó khăn, hạn chế như: Chưa có tiêu chí cụ thể về đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao, chưa có hệ thống đánh giá kết quả hoạt động theo kết quả đầu ra; Các trường đều thuộc và trực thuộc một cơ quan chủ quản nên việc quyết định biên chế, xếp bậc lương và trả lương cho cán bộ, giảng viên, viên chức toàn trường còn phụ thuộc vào cơ quan chủ quản.

Mặt khác, việc áp dụng khung học phí chung cho tất cả các cơ sở dạy nghề công lập đang tạo ra sự bất bình đẳng giữa các trường tự chủ hoàn toàn và tự chủ một phần. Vì vậy, hàng năm chênh lệch thu - chi cho một suất đào tạo của các trường thường là âm nếu tính theo quy định tại Nghị định 49/2010/NĐ-CP; với điều kiện là quy mô tuyển sinh không đổi, đội ngũ cán bộ, viên chức ổn định; chưa tính đến các yếu tố lạm phát và thay đổi chính sách.

Hệ quả là kinh phí cho đầu tư hạn chế, nhỏ lẻ, dàn trải, chưa thực sự nâng cao chất lượng đào tạo một cách thỏa đáng theo yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Ngoài ra, các trường chưa được hạch toán đầy đủ chi phí vào giá của sản phẩm đào tạo. Học phí đưa ra thấp hơn chi phí cần thiết cung cấp dịch vụ, dẫn đến Nhà nước hỗ trợ qua giá đối với tất cả các đối tượng sử dụng dịch vụ sự nghiệp công, không phân biệt đối tượng giàu, nghèo, có mức thu nhập khác nhau.

Mặt khác, do nguồn thu thấp hơn chi phí nên các đơn vị không có điều kiện hạch toán đầy đủ chi phí và có tích lũy để tái đầu tư phát triển, nâng cao khả năng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công; Các khoản thu phí và lệ phí được xem là có nguồn gốc ngân sách và phải nộp vào Kho bạc Nhà nước để quản lý sử dụng.

Điều này dẫn đến sự thiếu chủ động, khó khăn trong việc sử dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tài chính. Cùng với đó, việc phân cấp quản lý đầu tư, quản lý tài sản còn nhiều bất cập dẫn đến nhiều khó khăn trong việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư cơ sở vật chất và sử dụng hiệu quả tài sản của trường...

Nâng cao cơ chế tự chủ tại các đơn vị dạy nghề

Để khuyến khích các đơn vị triển khai hiệu quả cơ chế tự chủ của Chính phủ, bài viết đề xuất một số sửa đổi, bổ sung chính sách về tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp (dạy nghề) trong giai đoạn tới.

Thứ nhất, về cơ cấu tổ chức và bộ máy. Đơn vị được góp vốn, liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật để cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp; kết hợp với sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gắn với đào tạo nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu xã hội nhưng phải đúng với quy định của pháp luật, đảm bảo tiếp tục cung cấp dịch vụ công với chất lượng tốt hơn.

Trường hợp thành lập cơ sở hạch toán độc lập, đơn vị phải xây dựng Đề án báo cáo cơ quan quản lý cấp trên phê duyệt; cơ sở hạch toán độc lập phải hoạt động theo nguyên tắc tự bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên và kinh phí đầu tư.

Thứ hai, hỗ trợ tài chính. Đối với dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt nhưng chưa thực hiện, đơn vị được huy động vốn theo phương thức trả lãi với lãi suất thỏa thuận tối đa không quá 150% mức lãi suất cơ bản theo quy định của Bộ Luật Dân sự, tại thời điểm vay; Đối với dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và đang được ngân sách nhà nước bố trí vốn để thực hiện, đơn vị được nhà nước đầu tư theo kế hoạch. Đối với dự án đã sử dụng các nguồn vốn theo quy định nhưng không đáp ứng được tiến độ của các dự án, công trình: Đơn vị được vay vốn tín dụng đầu tư của ngân hàng để bổ sung nguồn vốn đầu tư nhằm sớm đưa dự án, công trình vào sử dụng...

Đối với các đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư: Được xem xét, hỗ trợ một lần kinh phí vào năm đầu thực hiện chuyển đổi với mức tối đa bằng mức kinh phí thường xuyên giao tự chủ cho đơn vị năm trước liền kề năm chuyển đổi. Ngoài ra, những nghề chưa hoàn thiện được định mức kinh tế kỹ thuật thì Nhà nước thực hiện hỗ trợ phần chưa kết cấu đủ vào giá theo lộ trình tính giá quy định tại Điều 10 Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 về quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập.

Thứ ba, hỗ trợ chính sách ưu đãi về thuế. Miễn thuế đối với phần thu nhập không chia để lại để đầu tư phát triển đơn vị sự nghiệp công; Miễn thuế đối với lợi nhuận thu được từ sản phẩm, dịch vụ được tạo ra từ hoạt động đào tạo. Áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10%.

Miễn lệ phí trước bạ đối với việc chuyển những tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của các đơn vị sự nghiệp công khi liên doanh liên kết; Được miễn thuế giá trị gia tăng; Được giảm thuế thu nhập cá nhân...


Bài đăng trên Tạp chí Tài chính kỳ 2 số tháng 12-2015

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục