Đảm bảo an toàn, lành mạnh và minh bạch nền tài chính quốc gia

ThS. ĐINH THị HảI PHONG (Học viện Tài chính)

(Taichinh) - Trong phiên chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII vào ngày 17/11/2015, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng đã trả lời các câu hỏi của các Đại biểu Quốc hội một cách đầy đủ với các số liệu rõ ràng, nhìn thẳng vào các vấn đề còn tồn tại, chỉ rõ các nguyên nhân, cam kết giải quyết những vấn đề mà đại biểu Quốc hội nêu ra.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng trả lời chất vấn tại kỳ họp Quốc hội khóa XIII.Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng trả lời chất vấn tại kỳ họp Quốc hội khóa XIII.

Đặc biệt Bộ trưởng đã phân tích sâu về các vấn đề: Nợ công, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, cân đối thu chi ngân sách nhà nước, quản lý thuế, cải cách thủ tục hành chính… Phần trả lời của Bộ trưởng đã được nhiều đại biểu Quốc hội và cử tri bày tỏ sự đồng tình và đánh giá cao.

Nợ công vẫn trong tầm kiểm soát

Nợ công là một trong những vấn đề được các đại biểu Quốc hội quan tâm nhất tại kỳ họp lần này. Trước các câu hỏi về việc nợ công tăng cao, có ý kiến cho rằng đã bằng và vượt trần, Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng cho biết, theo yêu cầu tới năm 2020 và tầm nhìn tới 2030 thì nợ công của Việt Nam không quá 65% GDP, trong đó, nợ Chính phủ không quá 55% GDP và nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50%. Nhìn lại 5 năm qua, năm 2011 nợ công của Việt Nam là 50%, 2012 là 50,8%, 2013 là 54,5%, 2014 là 59,6% và dự kiến năm 2015 là 61,3%.

Đối chiếu 6 chỉ tiêu đánh giá an toàn nợ công (nợ công/GDP; nợ Chính phủ/GDP; nợ nước ngoài/GDP; bù đắp bội chi; trái phiếu chính phủ và nghĩa vụ nợ Chính phủ trực tiếp so với thu ngân sách), thì đã có 5 chỉ tiêu đạt yêu cầu và chỉ có 1 chỉ tiêu không đạt đó là bù đắp bội chi của NSNN. Có 5 nguyên nhân làm cho nợ công tăng cao:

Thứ nhất, thời gian qua do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu, kinh tế nước ta tăng trưởng chậm lại, chúng ta đã điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế trong khoảng 7%/năm nhưng thực tế cả giai đoạn thực hiện được đến năm 2015 khoảng 5,8% trong khi đó, các chỉ tiêu khác không được điều chỉnh.

Thứ hai, do tăng trưởng kinh tế trong nước và giá dầu thô trên thế giới biến động mạnh theo hướng giảm, Quốc hội, Chính phủ đã quyết định thực hiện các biện pháp miễn giảm, giãn thu cho sản xuất kinh doanh để nuôi dưỡng nguồn thu.

Bên cạnh đó, việc tiến hành tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và hệ thống ngân hàng thương mại, đồng thời thực hiện cắt giảm thuế quan theo lộ trình quốc tế ngày càng sâu rộng cũng làm giảm thu NSNN. Tỷ lệ tăng thu bình quân của nước ta giai đoạn 2006-2010 là 20,8%, nhưng ở giai đoạn 2011-2015 chỉ có 9,5%/năm.

Trong khi đó, nhu cầu chi NSNN tăng mạnh, vẫn đảm bảo giữ mục tiêu, đặc biệt là an sinh xã hội và tiền lương theo lộ trình. Riêng về chi an sinh xã hội trong giai đoạn 2011 - 2015 chi tăng 18%/năm. Tốc độ tăng chi 18%/năm trong điều kiện tăng thu chỉ có 9,5%. Điều đó dẫn đến bội chi cao, cũng là một trong nguyên nhân tăng nợ công cao.

Thứ ba, bổ sung kế hoạch phát hành trái phiếu chính phủ. Ban đầu kế hoạch phát hành là 225 nghìn tỷ, sau đó quyết định bổ sung thêm 170 nghìn tỷ. Như vậy, giai đoạn 2011 – 2016 có tổng cộng 395 nghìn tỷ trái phiếu chính phủ, gấp 3 lần của giai đoạn 2006 - 2010, gây áp lực lớn lên nợ công.

Thứ tư, biến động về tỷ giá cũng phần nào tác động đến tăng nợ công.

Thứ năm, trong quá trình nợ công tăng nhưng đã cơ cấu lại được một bước nợ công. Vay trong nước từ 39% trong tổng số nợ công của năm 2001 đã lên 57,1% năm 2015. Vay nước ngoài đã giảm đi, chỉ còn hơn 42%.

Tuy vậy, trong tình hình xử lý vừa qua có những thời điểm rất khó khăn trong vấn đề huy động vốn để đù bắp bội chi và trái phiếu chính phủ. Giai đoạn 2011 - 2013 vay khoảng 64 nghìn tỷ, lãi suất bình quân 10,5%/năm. Điều này đặt ra yêu cầu phải nhanh chóng tái cơ cấu lại những khoản nợ này.

Do vậy, Bộ Tài chính đã báo cáo Chính phủ có các giải pháp mềm dẻo hơn để từng bước tái cơ cấu lại nợ và đảm bảo an toàn nợ công như đa dạng hóa kỳ hạn trái phiếu, xin Quốc hội phát hành thêm trái phiếu quốc tế để tái cơ cấu lại nợ nước ngoài của Chính phủ, phần nợ trong nước của Chính phủ và Quốc hội đã thông qua nghị quyết dự toán ngân sách năm 2016. Bộ Tài chính đang theo dõi diễn biến thị trường vốn, lãi suất hàng ngày nhưng thời điểm này việc phát hành là chưa thuận lợi.

Như vậy, nợ công vẫn trong tầm kiểm soát dù tốc độ tăng như vừa qua là khá cao (20%/năm). Bên cạnh việc tập trung cho đầu tư phát triển, việc phân bổ sử dụng vốn ở một số nơi được cho là chưa thực sự hiệu quả.

Để khắc phục được tình trạng này và tăng cường quản lý nợ công, Bộ Tài chính cũng đã kiến nghị với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 02/CP-TTg về việc tăng cường công tác quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng nợ công với một số nội dung chủ yếu: Tổng kết, đánh giá lại chiến lược nợ công đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030; Quản lý chặt chẽ nợ công; Tăng cường kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng vốn vay, bảo đảm hiệu quả đầu tư chất lượng công trình theo đúng quy định; Khẩn trương cơ cấu lại nợ công, theo hướng tăng tỷ trọng vay dài hạn, tăng tỷ trọng vay trong nước và đẩy mạnh triển khai các nhiệm vụ quản lý và xử lý rủi ro đối với danh mục nợ công, tăng tính thanh khoản và thúc đẩy phát triển thị trường trái phiếu chính phủ.

Bên cạnh đó, các giải pháp quản lý chặt chẽ các khoản vay có bảo lãnh của Chính phủ theo hướng siết chặt có bảo lãnh cũng được tăng cường; Tăng dần tỷ lệ cho vay lại và giảm dần tỷ lệ cấp phát, tăng cường trách nhiệm của địa phương về quản lý sử dụng vốn vay cũng như quản lý sử dụng các công trình trong tương lai...

Để đảm bảo an toàn nợ công thì việc tiếp tục thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý chi tiêu NSNN được Lãnh đạo ngành Tài chính đánh giá là khâu rất quan trọng. Song song với đó, Bộ Tài chính cũng đã triển khai xây dựng kế hoạch tài chính ngân sách trung hạn cho giai đoạn 2016-2020, từ đó phân nguồn ra kế hoạch đầu tư công trung hạn. Về nợ công, Bộ Tài chính đã xây dựng kế hoạch vay trả nợ đến năm 2020 cũng như kế hoạch về nợ công trên tinh thần dự báo các chỉ tiêu kinh tế xã hội, tăng trưởng của giai đoạn này từ 6,5-7%, lạm phát không quá 5%, bội chi NSNN khoảng dưới 4,9%... thì nợ công đến năm 2020 chỉ còn có 58,5% và đỉnh nợ công sẽ rơi vào năm 2017 là 63% (vẫn thấp hơn mức trần 65%).

Đảm bảo cân đối thu chi ngân sách nhà nước

Nỗ lực tiết kiệm chi tiêu công của Bộ Tài chính trong thời gian qua đã được dư luận đánh giá cao. Theo ý kiến nhiều đại biểu Quốc hội, những nỗ lực đó đã có tác dụng lớn đến NSNN. Bên cạnh đó, cũng có ý kiến cho rằng tỷ lệ huy động các nguồn thu vào ngân sách có xu hướng sụt giảm, do đó, bố trí ngân sách cho chi đầu tư phát triển cũng bị ảnh hưởng.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cho biết, có tình trạng đến năm 2014, 2015 cơ cấu chi NSNN cho thường xuyên cao, 67%, 68% trong dự toán chi NSNN, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến vấn đề cơ cấu chi cho đầu tư phát triển và chi trả nợ. Tuy nhiên, thời gian qua, cơ cấu thu đã thay đổi tích cực. Trong bối cảnh hội nhập, giảm thuế nhưng thu nội địa tăng, đạt 74% trong cơ cấu thu NSNN. Tỷ lệ huy động từ phí, thuế bình quân của giai đoạn này khoảng 21%, Quốc hội đã quyết không quá 22%, 23%, xấp xỉ giai đoạn năm 2005. Nguyên nhân là do giá dầu thô giảm, điều chỉnh chính sách thu nội địa, chính sách giảm thu nội địa nhanh hơn lộ trình, nhanh hơn chiến lược…

Về chi, chi thường xuyên lên đến 68% của năm 2015, nhưng năm 2016 theo tính toán của Bộ Tài chính và thực tế trong dự toán năm 2016 chi thường xuyên đã giảm được hơn 2% so với năm 2015. Quy mô tăng lên, tỷ lệ giảm xuống, theo tính toán, với kế hoạch trung hạn về tài chính ngân sách đến năm 2020, chi thường xuyên xuống khoảng 58%-59%.

Để cơ cấu lại thu, đảm bảo thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước, đảm bảo yêu cầu hội nhập cũng như nguồn thu cho NSNN và phù hợp với quốc tế, giải pháp được Bộ Tài chính ưu tiên trong thời gian tới tập trung lại rà soát các chính sách thu. Bên cạnh đó là tập trung cơ cấu lại các chính sách về chi, đẩy mạnh tiết kiệm và hướng tới giảm chi ngân sách thường xuyên xuống khoảng 58%-59%.

Vấn đề quản lý thuế, trong giai đoạn năm 2011-2015, cơ quan thuế đã tiến hành thanh tra, kiểm tra 300.606 lượt DN, với tổng số thuế tăng thu thêm 56.273 tỷ đồng (đến hết tháng 10/2015), trong đó đã tiến hành thanh tra, kiểm tra 14.104 doanh nghiệp lỗ có dấu hiệu chuyển giá, có hoạt động giao dịch liên kết và đã giảm lỗ 25.479 tỷ đồng. Truy thu, truy hoàn và phạt 5.970 tỷ đồng. Về số nợ thuế, Bộ trưởng Bộ Tài chính cho biết hoàn toàn có thể thu được số nợ 34.000 tỷ đồng để đảm bảo sự thiếu hụt từ thu NSNN trong năm 2015.

Cổ phần hóa, thoái vốn tại doanh nghiệp nhà nước đúng nguyên tắc

Một vấn đề khác thuộc trách nhiệm của ngành Tài chính cũng được các đại biểu Quốc hội quan tâm là vấn đề cổ phần hóa, thoái vốn tại các DNNN. Trước các ý kiến nhận định quá trình cổ phần hóa, thoái vốn tuy đã đạt kết quả khích lệ nhưng còn chậm so yêu cầu, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng đã làm rõ nguyên nhân chính và giải pháp khắc phục.

Theo đó, với quy định phân công của Chính phủ tại Nghị định số 99/2012/NĐ-CP và Quyết định số 929/QĐ-TTg thì Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trên 3 nội dung để triển khai tái cơ cấu DNNN: (i) Xây dựng trình Quốc hội, trình Chính phủ các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý DNNN, liên quan đến cổ phần hóa và tái cơ cấu DNNN; (ii) Kịp thời tháo gỡ khó khăn vướng mắc, cùng với các bộ, ngành, địa phương để đẩy lộ trình tái cơ cấu DNNN; (iii) Tổng hợp báo cáo với Chính phủ, báo cáo với Quốc hội theo định kỳ.

Đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ này, có thể thấy đến nay ngành Tài chính cơ bản đã đồng bộ cơ chế chính sách quản lý DNNN và tái cơ cấu DNNN. Luật Quản lý và sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại DN đã được ban hành; Về quản lý tài chính và giám sát DN, Bộ Tài chính đã tham mưu cho Chính phủ ban hành 4 nghị định; Về cổ phần hóa DNNN, Bộ Tài chính đã tham mưu cho Chính phủ ban hành 4 nghị định, 1 quyết định của Thủ tướng; Về thoái vốn, Bộ Tài chính đã tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành 2 quyết định... Đến nay, các vấn đề vướng mắc trong thời gian vừa qua để thúc đẩy quá trình cổ phần hóa cơ bản đã được tháo gỡ về chính sách.

Về thực hiện cổ phần hóa, kế hoạch năm 2011-2015 dự kiến cổ phần hóa là 538 DN, riêng giai đoạn năm 2014-2016 là 432 DN. Từ năm 2011 đến 10/11/2015, đã thực hiện cổ phần hóa được 408 - 538 DN, đạt 76% kế hoạch của cả giai đoạn. Dự kiến hết năm 2015, số DN cổ phần hóa đạt khoảng 90% kế hoạch của cả giai đoạn 2011 - 2015.

Giá trị phần vốn cổ phần hóa, đã bán phần vốn nhà nước của giai đoạn 2011 - 2015 là 27 ngàn tỷ. Tính từ năm 2011 tới nay mới bán được 5% vốn nhà nước tại DN và số vốn còn lại khoảng 1,3 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, vấn đề thoái vốn phải làm từng bước và làm chắc chắn.

Đặc biệt là trong tình hình hiện nay khi thị trường tài chính chưa phát triển, thì việc thoái vốn phải có trật tự đảm bảo nguyên tắc đạt hiệu quả cao nhất, bởi nếu bán không cẩn thận sẽ làm thất thoát tiền của Nhà nước.

Do đó, Bộ Tài chính đã phối hợp với các bộ, ngành tháo gỡ khó khăn, đưa ra nhiều giải pháp để thúc đẩy thị trường chứng khoán như việc kiến nghị với Chính phủ ban hành Nghị định 60/2015/NĐ-CP, sửa Nghị định 58/2012/NĐ-CP, mở room cho nhà đầu tư nước ngoài...

Để đẩy nhanh tái cơ cấu và cổ phần hóa DNNN, trong thời gian tới Bộ Tài chính sẽ tiếp tục theo dõi, nghiên cứu, hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách liên quan tới cổ phần hóa; Tiếp tục phải rà soát lại, phân loại lại DN, đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát cổ phần hóa, thoái vốn DNNN, đảm bảo tiến độ và hiệu quả...

Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính lĩnh vực thuế, hải quan

Liên quan đến các câu hỏi về vấn đề cải cách thủ tục hành chính lĩnh vực thuế, hải quan, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng đã khẳng định, năm 2015, Việt Nam sẽ đạt cải cách thủ tục hành chính trong một số lĩnh vực bằng với mức ASEAN 6. Theo Nghị quyết 19/NQ-CP của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, năm 2016 Việt Nam sẽ đạt mức tương đương với các nước ASEAN 4.

Bộ Tài chính đã tập trung tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết số 36a/NQ-CP của Chính phủ về Chính phủ điện tử; Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về thủ tục hành chính lĩnh vực thuế, hải quan... Tính đến 26/10/2015, 98% số doanh nghiệp thuộc diện quản lý thuế đã thực hiện khai thuế qua mạng internet và 90,05% doanh nghiệp đăng ký nộp thuế điện tử. Trong lĩnh vực Hải quan, Bộ Tài chính đã đề nghị các bộ, ngành rà soát và bước đầu thực hiện đơn giản hóa một số hồ sơ khai điện tử trên Cổng thông tin một cửa quốc gia…

Trong thời gian tới, công tác cải cách thủ tục hành chính thuế, hải quan tiếp tục được triển khai tích cực. Bộ Tài chính sẽ thực hiện rà soát giảm tối thiểu 10% số thủ tục hành chính thuế, đơn giản hóa tối thiểu 20% số thủ tục hành chính thuế; sửa đổi, bổ sung 100% quy trình liên quan đến kê khai, nộp thuế của người nộp thuế…

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 11 kỳ 2-2015

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục