Điệp khúc buồn trong nông nghiệp

TS. Nguyễn Minh Phong

(Taichinh) - (Tài chính) Việt Nam có hàng chục viện nghiên cứu và trường đại học liên quan đến khoa học nông nghiệp. Chủ trương kết hợp nghiên cứu, giảng dạy với thực tế đã có. Vậy nhưng những giải pháp công nghệ thiết thực cho chế biến, bảo quản và vận chuyển nông sản vẫn thiếu vắng, mới chỉ ứng dụng được với một vài sản phẩm như nhãn, vải...
Ảnh minh họa. Nguồn: internetẢnh minh họa. Nguồn: internet

Hiện nay, thị trường rau an toàn ngày càng phát triển do nhu cầu ăn sạch và e ngại chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trôi nổi trên thị trường. Nhưng người tiêu dùng vẫn đỏ mắt tìm mua rau và thực phẩm sạch, cho dù Sàn Giao dịch Rau quả và Thực phẩm An toàn Hà Nội đã có gần 100 đơn vị sản xuất và cung ứng rau quả thực phẩm an toàn tại 15 tỉnh, thành phố tham gia, kết nối giao dịch với khoảng 150 siêu thị, cửa hàng, đầu mối bán buôn, bán lẻ và 78 điểm phân phối ở khu dân cư, cơ quan. 

Trong khi đó, nông dân nhiều nơi nô nức rủ nhau khi trồng dứa, dong riềng, thậm chí cả cao su, tiêu, điều… cũng không thoát cảnh được mùa - rớt giá, trồng - chặt lặp lại và kéo dài như một điệp khúc buồn chưa rõ hồi kết trong ngành nông nghiệp nước ta. Thậm chí, ở tỉnh Lâm Đồng, mới đây, người dân nuôi bò sữa theo hợp đồng bao tiêu với công ty thu mua cũng có lúc phải đành lòng đổ sữa, vì trục trặc hợp đồng, không nơi tiêu thụ…

Tình trạng trồng rồi chặt bỏ và được mùa rớt giá kéo theo nhiều hệ lụy xấu, không chỉ gây thiệt hại trực tiếp cho người dân, mà còn làm giảm khả năng hình thành vùng sản xuất tập trung và phát triển công nghiệp chế biến, xây dựng thương hiệu quốc gia và giảm sút hiệu quả đầu tư xã hội, trong khi làm tăng áp lực an sinh xã hội và kéo dài tình trạng nghèo đói và tái nghèo vì nợ nần, thua lỗ trong sản xuất, kinh doanh  nông sản của nông dân.

Lý do thì đa dạng, nhưng nổi bật vẫn là do cảnh làm ăn bột phát theo phong trào và thiếu đầu tư đồng bộ, nhất là cho khâu chế biến, bảo quản sau thu hoạch, đặc biệt là thiếu các hợp đồng bao tiêu sản phẩm bảo đảm thị trường tiêu thụ ổn định, có tính pháp lý cao.

Ngay quy hoạch cấp tỉnh cũng chỉ dừng ở việc phát động trồng bao nhiêu hécta và bao thầu mua giống ở đâu, còn khâu thu hoạch và chế biến, xây dựng thương hiệu, tổ chức tiêu thụ ra sao thì không rõ, phó mặc thị trường hoặc căn cứ theo hợp đồng miệng, ít bảo đảm. Sự liên kết vùng, hình thành chuỗi cung ứng và hợp tác giữa 3 - 4 nhà… hầu hết cũng chỉ dừng ở quyết tâm, định hướng và nguyên tắc, chưa được tổ chức triển khai, cụ thể  hóa thành các phương án, hợp đồng đi kèm chính sách và quy hoạch, kế hoạch cụ thể.

Đấy là chưa kể, có những phong trào chuyển đổi cơ cấu trồng cây gì, nuôi con gì là do chính quyền địa phương quyết đoán nhanh, trên cơ sở thấy người ta làm gì mình làm nấy, mà chưa có phân tích thị trường, điều tra địa thổ nhưỡng, khí hậu địa phương và luận chứng kỹ thuật thận trọng, nên cây sớm chết yểu, chất lượng thấp, giá chóng hạ, tắc nghẽn đầu ra.

Tình trạng nuôi trồng đại trà, thu gom và xuất thô nông, thủy, hải sản vẫn là đặc trưng trong cơ cấu sản phẩm nông nghiệp, khiến nông dân không chỉ khó tiêu thụ, mà còn phải bán vội và thua thiệt trong bán hàng vì giá trị gia tăng thấp, bị ép giá.

Ngay việc tiếp thu công nghệ bảo quản cá ngừ đại dương theo công nghệ Nhật Bản phía bạn tận tình chuyển giao cũng chưa thể đến nơi đến chốn, khiến cá ngừ bắt được chủ yếu phải bán rẻ bằng 1/5 giá xuất sang Nhật Bản nếu cá được sơ chế tuân thủ đúng cách, bảo đảm chất lượng.

Ở Nga, người tiêu dùng bình thường ít khi dám mua cả nải chuối nhập khẩu vì đắt đỏ. Mùa đông, họ phải mua bắp cải và cà chua, cà rốt, ớt với giá 5USD/kg, đắt gấp hàng chục lần ở Việt Nam. Ở nhiều nước trên thế giới, một số mặt hàng trái cây Việt Nam như thanh long, nhãn, vải, xoài được ưa chuộng, nhưng không có để bán.

Hàng Việt dù tốt, rẻ, ngon, nhưng dễ bị thua thiệt so với các hàng tương tự của nước khác bởi yếu thế về hợp đồng tiêu thụ, bất cập về công nghệ bảo quản và vận chuyển, lạc hậu về phương thức phân phối, tiêu thụ, với kiểu bán hàng đổ đống, không bao bì, nhãn mác, thương hiệu, không áp phích, poster thông tin, giới thiệu nguồn gốc, chất lượng…

Việt Nam có hàng chục viện nghiên cứu và trường đại học liên quan đến khoa học nông nghiệp. Chủ trương kết hợp nghiên cứu, giảng dạy với thực tế đã có. Vậy nhưng những giải pháp công nghệ thiết thực cho chế biến, bảo quản và vận chuyển nông sản vẫn thiếu vắng, mới chỉ ứng dụng được với một vài sản phẩm như nhãn, vải...

Nông dân đang khao khát công nghệ chế biến, bảo quản của Nhật Bản, những công nghệ đông lạnh tế bào có thể bảo quản rau quả vài năm, khi rã đông vẫn tươi nguyên, giữ được giá trị dinh dưỡng; hoặc chỉ với túi nylon nano, với ít hơi nước mà có thể giữ cho trái cây có thể tươi như mới cả tháng, lại rất an toàn cho người sử dụng. Giá công nghệ đắt đỏ, nhưng Việt Nam thực sự cần phải đầu tư nếu không muốn để nông dân mãi nghèo, nông nghiệp không hấp dẫn doanh nghiệp vì lợi nhuận quá thấp.

 Đầu tư, tiếp thu, tuân thủ và đẩy mạnh nghiên cứu sáng tạo quy trình khoa học công nghệ, nhất là công nghệ sau thu hoạch; nâng cao năng lực vượt các hàng rào kỹ thuật, chinh phục thị trường bằng chất lượng và giá cả, cũng như sự ổn định nguồn cung và các dịch vụ hậu mãi; củng cố mối quan hệ liên kết tạo chuỗi cung ứng khép kín từ cánh đồng đến bàn ăn… đã, đang và sẽ vẫn là mấu chốt hàng đầu, là nút thắt để nâng cao chất lượng, hạ giá thành nông sản.

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục