Hoàn thiện hệ thống báo cáo tại các đơn vị hành chính, sự nghiệp

ThS. Nguyễn Thị Hoài

Báo cáo tài chính (BCTC) tại các đơn vị hành chính, sự nghiệp là thông tin đầu vào quan trọng để xây dựng BCTC nhà nước. Chính vì vậy, việc hoàn thiện hệ thống báo cáo này đóng góp vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng tổng kế toán nhà nước (KTNN) của hệ thống KBNN.

Ảnh minh họa. Nguồn: internet.
Ảnh minh họa. Nguồn: internet.

Theo Quyết định số 138/2007/ QĐ-TTg ngày 21/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước (KBNN) đến năm 2020 và Quyết định số 26/2015/QĐ-TTg ngày 08/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của KBNN trực thuộc Bộ Tài chính, một trong những chức năng quan trọng của KBNN là thực hiện tổng KTNN.

Để chuẩn bị thực hiện chức năng nhiệm vụ này, ngày 30/5/2014, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã phê duyệt Đề án Tổng KTNN tại Quyết định số 1188/QĐ-BTC.

Theo đó, có thể khái quát: Tổng KTNN là mô hình tổ chức, vận hành các yếu tố cấu thành nên KTNN, nhằm đạt mục tiêu tổ chức công tác hạch toán kế toán, tổng hợp và trình bày thông tin BCTC nhà nước của Chính phủ trên phạm vi toàn quốc và báo cáo của chính quyền địa phương trên từng địa bàn. Có rất nhiều công việc phải chuẩn bị và triển khai để thực hiện chức năng này của KBNN.

Trong đó, các nội dung quan trọng về BCTC nhà nước đã được luật hóa trong Luật Kế toán số 88/2015/ QH13 được Quốc hội thông qua ngày 20/11/2015, theo đó, đã quy định các BCTC nhà nước - đầu ra của tổng KTNN bao gồm: Báo cáo tình hình tài chính nhà nước; Báo cáo kết quả hoạt động tài chính nhà nước; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Thuyết minh BCTC nhà nước.

Tổng KTNN hướng đến mục tiêu tổng hợp thông tin tài chính của toàn bộ khu vực nhà nước, do đó, đối tượng của tổng KTNN ở đây mang nghĩa rộng hơn so với đối tượng của các báo cáo quyết toán NSNN trước kia.

Cụ thể, các đối tượng của KTNN áp dụng cho tổng KTNN bao gồm: Tài sản của Nhà nước, nợ phải trả của Nhà nước, nguồn vốn của Nhà nước (tình hình tài chính nhà nước); thu nhập và chi phí của Nhà nước (kết quả hoạt động tài chính nhà nước) và các luồng tiền (lưu chuyển tiền tệ) của Nhà nước.

Từ khái niệm và đối tượng của tổng KTNN nêu trên, có thể nhận thấy, các công việc của tổng KTNN đã được thực hiện từ các đơn vị KTNN thông qua khâu ghi chép ban đầu, tổng hợp và lập báo cáo. Để có được thông tin đầu vào phục vụ mục tiêu tổng KTNN, cần phải tổ chức tốt dữ liệu từ các đơn vị KTNN, đảm bảo phản ánh đầy đủ các đối tượng kế toán của tổng KTNN.

Điều đó đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện các thông tin, dữ liệu KTNN ở tất cả các đơn vị, trong đó các đơn vị hành chính, sự nghiệp là đối tượng chủ yếu cung cấp thông tin đầu vào cho tổng KTNN. Nói cách khác, việc hoàn thiện hệ thống báo cáo tại các đơn vị hành chính, sự nghiệp là một yêu cầu quan trọng đáp ứng mục tiêu tổng KTNN ở Việt Nam.

Kế toán hành chính sự nghiệp là một bộ phận cấu thành của hệ thống KTNN, với chức năng tổ chức hệ thống thông tin kế toán toàn diện, liên tục, có hệ thống để phản ánh tình hình tiếp nhận và sử dụng NSNN, quỹ, tài sản công ở các đơn vị, tổ chức có sử dụng và không sử dụng NSNN.

Kế toán hành chính sự nghiệp không những có vai trò quan trọng trong quản lý ngân sách hoạt động của từng đơn vị mà còn rất cần thiết và quan trọng trong quản lý ngân sách quốc gia. Cùng với kế toán NSNN tại KBNN, kế toán hành chính sự nghiệp đã đóng một vai trò quan trọng trong việc kịp thời cung cấp các thông tin về NSNN cho các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý từ trung ương đến địa phương phục vụ cho việc quản lý, điều hành hiệu quả NSNN các cấp.

Tuy nhiên, yêu cầu quản lý tài chính công trong giai đoạn mới đặt ra những yêu cầu và đỏi hỏi KTNN phải cung cấp thông tin đầy đủ không những về NSNN mà còn về tài chính nhà nước, làm căn cứ phân tích dự báo tình hình tài chính nhà nước một cách đầy đủ, kịp thời, công khai, minh bạch nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng mọi nguồn lực tài chính nhà nước.

Hiện nay, việc lập và trình bày BCTC của các đơn vị hành chính, sự nghiệp được thực hiện theo quy định của Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp theo Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/03/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành chế độ kế toán hành chính sự nghiệp và Thông tư số 185/2010/TT-BTC ngày 15/11/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán hành chính sự nghiệp. Theo quy định, các BCTC của các đơn vị hành chính, sự nghiệp hiện đang chia thành hai nhóm bao gồm:

BCTC các đơn vị kế toán cấp cơ sở: Bảng cân đối tài khoản; Báo cáo tổng hợp tình hình kinh phí và quyết toán kinh phí đã sử dụng (và các phụ biểu); Báo cáo thu, chi hoạt động sự nghiệp và hoạt động sản xuất, kinh doanh; Báo cáo tình hình tăng, giảm tài sản cố định; Báo cáo số kinh phí chưa sử dụng đã quyết toán năm trước chuyển sang và Thuyết minh BCTC.

BCTC các đơn vị cấp trên: Báo cáo tổng hợp tình hình kinh phí và quyết toán kinh phí đã sử dụng; Báo cáo tổng hợp thu, chi hoạt động sự nghiệp và hoạt động sản xuất, kinh doanh; Báo cáo tổng hợp quyết toán ngân sách và nguồn khác của đơn vị.

Về cơ bản, hệ thống BCTC của các đơn vị hành chính, sự nghiệp hiện nay đã trình bày một cách tổng quát, toàn diện về tình hình tiếp nhận, sử dụng kinh phí NSNN tại các đơn vị KTNN; đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước, phù hợp với Luật NSNN và các chính sách quản lý tài chính đối với các đơn vị hành chính, sự nghiệp và là một bộ phận cấu thành để tổng hợp báo cáo quyết toán NSNN phục vụ điều hành ngân sách của Quốc hội.

Bên cạnh đó, hệ thống BCTC các đơn vị hành chính, sự nghiệp đã cung cấp được những thông tin cơ bản về tình hình tài sản, tình hình thu, chi và kết quả của các hoạt động tại đơn vị; cung cấp một số thông tin bổ sung để người đọc có thể nắm bắt được tình hình hoạt động, các chính sách quản lý, những vấn đề phát sinh trong đơn vị, từ đó có cái nhìn tổng thể về hoạt động của đơn vị mình. Tuy nhiên, để đáp ứng mục tiêu của tổng KTNN, hệ thống BCTC tại các đơn vị hành chính, sự nghiệp vẫn còn những hạn chế và cần phải bổ sung và hoàn thiện. Cụ thể:

Bảng cân đối tài khoản (Mẫu số B01-H): Phản ánh tổng quát số hiện có đầu kỳ, tăng, giảm trong kỳ và số cuối kỳ về tình hình kinh phí và sử dụng kinh phí, tình hình tài sản và nguồn hình thành tài sản, kết quả hoạt động sự nghiệp của đơn vị hành chính, sự nghiệp trong kỳ báo cáo. Báo cáo này mới chỉ liệt kê số liệu trên các tài khoản phát sinh tại đơn vị; dùng để kiểm tra tính cân đối của các tài khoản trong quá trình ghi sổ kép.

Cách thức phân loại hệ thống tài khoản hành chính sự nghiệp “dựa trên bản chất và nội dung nghiệp vụ”, trong đó các tài khoản hỗn hợp như 342 “Thanh toán nội bộ” với số dư bên nợ hoặc bên có, các tài khoản trung gian loại 5 và loại 6 với số dư cuối kỳ sẽ khiến người đọc khó xác định được khoản mục nào là tài sản và khoản mục nào là nguồn hình thành tài sản.

Hơn nữa qua Bảng cân đối tài khoản, người đọc cũng không thể phân loại được các khoản mục ngắn hạn và dài hạn để đưa ra những nhận định thích hợp về tình hình tài chính của đơn vị. Vì vậy, chưa phân tích được tình hình tài chính của đơn vị theo đúng yêu cầu thông tin đầu vào của tổng KTNN.

Tổng hợp tình hình kinh phí và quyết toán kinh phí đã sử dụng (Mẫu số B02-H): Phản ánh tổng quát tình hình tiếp nhận và sử dụng các nguồn kinh phí hiện có và số kinh phí sử dụng đề nghị quyết toán theo từng nguồn kinh phí. Báo cáo này chủ yếu phản ánh tình hình tiếp nhận và sử dụng các nguồn kinh phí từ NSNN nhằm cung cấp thông tin cho các cơ quan cấp trên, cơ quan quản lý nhà nước phục vụ công tác quyết toán NSNN.

Về góc độ tài chính, mới chỉ phản ánh  một phần kết quả hoạt động của đơn vị (phần thu và chi từ nguồn kinh phí do NSNN đảm bảo); chưa phản ảnh đầy đủ toàn bộ các hoạt động thu, chi và kết quả hoạt động của đơn vị. Cơ sở ghi nhận, hạch toán kế toán để lập báo cáo này chưa thực hiện theo cơ sở dồn tích. Do đó, chưa đáp ứng thông tin đầu vào của tổng KTNN.

Báo cáo thu, chi hoạt động sự nghiệp và hoạt động SXKD (Mẫu B03-H): Phản ánh tổng quát tình hình thu, chi hoạt động sự nghiệp và hoạt động SXKD của đơn vị. Tuy cơ sở kế toán, lập báo cáo này đã tuân thủ theo cơ sở dồn tích, báo cáo này phản ánh chưa đầy đủ toàn bộ thu, chi của đơn vị, và kết quả hoạt động của đơn vị. Vì vậy, cũng chưa đáp ứng được thông tin đầu vào cho tổng KTNN.

Thuyết minh BCTC (Mẫu B06-H): Giải thích và bổ sung thông tin về tình hình thực hiện các nhiệm vụ cơ bản của đơn vị, tình hình chấp hành kỷ luật tài chính về thu, chi NSNN. Báo cáo này mới chỉ chi tiết số liệu của một số chỉ tiêu trên Bảng cân đối tài khoản, chưa có sự phân tích đánh giá tình hình tăng, giảm tài sản, kết quả hoạt động, hiệu quả sử dụng nguồn lực tại đơn vị…

Ngoài ra, theo quy định hiện hành, đơn vị hành chính, sự nghiệp chưa lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ để phản ánh thông tin về các luồng tiền thu vào và chi ra phát sinh tại đơn vị.

Đây cũng là nguồn thông tin đầu vào rất quan trọng để cung cấp cho tổng KTNN phục vụ lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ nhà nước, cung cấp cái nhìn tổng thể về tình hình tài chính của nhà nước bằng việc chỉ ra dòng tiền tệ vào và ra của các hoạt động: Hoạt động chủ yếu, hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính; kết quả hoạt động được chuyển thành dòng tiền ra sao.

Từ việc phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ cũng đánh giá được hiệu quả tài chính của nhà nước, khả năng tạo tiền trong tương lai, khả năng thanh toán các khoản nợ khi đến hạn...

Xuất phát từ yêu cầu thông tin đầu vào của tổng KTNN, kết hợp với việc đánh giá thực trạng của hệ thống BCTC của các đơn vị hành chính, sự nghiệp theo quy định hiện hành (như đã nêu), cần tập trung vào 3 nhóm giải pháp chính để hoàn thiện hệ thống BCTC của các đơn vị hành chính, sự nghiệp để đáp ứng mục tiêu của tổng KTNN. Cụ thể:

Xác định cơ sở ghi nhận kế toán và danh mục BCTC

Để BCTC đơn vị hành chính, sự nghiệp được minh bạch, hữu ích và cung cấp đầy đủ hơn các thông tin tài chính nhà nước, điều quan trọng nhất là thay đổi cơ sở ghi nhận kế toán từ mức độ hiện thời của kế toán dồn tích (điều chỉnh) sang cơ sở dồn tích toàn bộ theo một lộ trình phù hợp. Trong đó, các khoản chi mua sắm, xây dựng tài sản, nhà xưởng, thiết bị; mua hàng hóa, nguyên liệu… sẽ được ghi nhận là tài sản trong BCTC.

Chi phí được xác định trên cơ sở hao mòn hoặc khấu hao tài sản và giá vốn của các khoản mục hàng tồn kho. Thêm vào đó, tất cả các khoản công nợ (các khoản phải trả về thu trước cho kỳ sau, các khoản doanh thu chưa được thực hiện...) sẽ được ghi nhận trên báo cáo tình hình tài chính.

Về danh mục BCTC: Với mục tiêu thiết lập BCTC cho mục đích cung cấp thông tin đầu vào để lập BCTC nhà nước theo quy định của Luật Kế toán cần xây dựng danh mục các BCTC tại đơn vị hành chính, sự nghiệp bao gồm: Báo cáo tình hình tài chính; Báo cáo kết quả hoạt động; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Bảng thuyết minh BCTC phù hợp với yêu cầu thông tin đầu vào của tổng KTNN.

Hoàn thiện các quy định về đặc tính chung của thông tin trình bày trên BCTC và các nguyên tắc chung khi lập BCTC phù hợp với các đặc tính và nguyên tắc cơ bản của chuẩn mực kế toán công và thông lệ quốc tế. Cụ thể:

Các đặc tính cơ bản bao gồm: Dễ hiểu, phù hợp và đáng tin cậy, trọng yếu, trung thực, khách quan, so sánh được.

Các nguyên tắc cơ bản bao gồm: Trình bày nhất quán (cơ sở và kỳ kế toán), liên tục, trọng yếu, hợp nhất và loại trừ các giao dịch nội bộ, điều chỉnh hồi tố các sai sót.

Hoàn thiện các quy định về hướng dẫn lập và công bố BCTC, cụ thể là  thiết lập các nội dung và kết cấu của của các BCTC tại đơn vị hành chính, sự nghiệp bao gồm:

Báo cáo tình hình tài chính: Phản ánh tình hình tài sản và nguồn hình thành tài sản của đơn vị hành chính, sự nghiệp tại một thời điểm nhất định, giúp người sử dụng thông tin đo lường, đánh giá về tình hình tài chính của đơn vị. Báo cáo tình hình tài chính được kết cấu gồm 3 phần: Tài sản, Nợ phải trả, Nguồn vốn (trong đó tài sản và nợ phải trả được phân loại thành ngắn hạn và dài hạn).

Báo cáo kết quả hoạt động: Phản ánh thông tin doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động của đơn vị trong một thời kỳ nhất định, giúp người sử dụng thông tin đánh giá, đo lường hiệu quả hoạt động của đơn vị.

Báo cáo kết quả hoạt động được kết cấu bao gồm: Các khoản thu (thu từ phí, lệ phí, thu sản xuất kinh doanh, dịch vụ, thu tài chính...), các khoản chi (chi phí tiền lương, thưởng, phụ cấp, chi phí phát sinh thường xuyên tại đơn vị, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí tài chính...) và kết quả hoạt động (chênh lệch thu - chi) tại đơn vị.

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Phản ánh thông tin về luồng tiền vào và luồng tiền đi ra khỏi đơn vị, giúp người sử dụng thông tin đánh giá nguồn tiền, khả năng tạo tiền của đơn vị. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được kết cấu riêng biệt các luồng tiền phát sinh theo 3 luồng tiền tương ứng với 3 hoạt động: Hoạt động chính, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính.

Thuyết minh BCTC: Giải thích, bổ sung, giải trình các thông tin về tình hình hoạt động, tình hình tài chính, tình hình lưu chuyển tiền và các thông tin khác liên quan đến đơn vị hành chính, sự nghiệp để thông tin trên BCTC đơn vị hành chính, sự nghiệp được rõ ràng, trung thực và hữu ích hơn.

Thuyết minh BCTC nhà nước được kết cấu bao gồm: Cơ sở lập BCTC, chính sách, phương pháp kế toán áp dụng tại đơn vị công, các thông tin bổ sung các số liệu trên BCTC, các thông tin cần thiết phản ánh sự trung thực tình hình tài chính, hoạt động, tiền tệ… của đơn vị nhưng chưa được trình bày trên BCTC.

Các nội dung giải pháp nêu trên cần phải được quy định để thực hiện một cách đồng bộ trong các văn bản pháp lý như xây dựng và ban hành chế độ kế toán hành chính sự nghiệp thay thế cho chế độ hiện hành; xây dựng và ban hành quy định và hướng dẫn lập BCTC hợp nhất của các đơn vị hành chính, sự nghiệp… Bên cạnh đó, cần nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ kế toán các đơn vị, xây dựng hệ thống thông tin kế toán hiện đại.

Từ đó, xây dựng được một hệ thống BCTC của các đơn vị hành chính, sự nghiệp đáp ứng yêu cầu quản lý ngân sách và tài chính công, phù hợp với thông lệ quốc tế, trên cơ sở áp dụng CNTT hiện đại, đồng thời đáp ứng thông tin đầu vào của tổng KTNN; làm căn cứ tổng hợp và trình bày hệ thống thông tin tài chính, kế toán nhà nước, phản ánh đầy đủ các đối tượng KTNN… đảm bảo tính kịp thời, đầy đủ, công khai và minh bạch, đồng thời góp phần tiếp tục nâng cao hiệu quả sử dụng mọi nguồn lực tài chính nhà nước - theo đúng mục tiêu của tổng KTNN đã đề ra.