Công ty Chứng khoán Việt Nam:

Những bất cập trong lập và trình bày báo cáo tài chính

ThS. TRầN QUỳNH HƯƠNG - Học viện Ngân hàng

(Taichinh) -

Sự hình thành và phát triển của các công ty chứng khoán ở Việt Nam gắn liền với sự ra đời và tiến trình hoạt động của thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, việc vận dụng những chính sách kế toán của các công ty chứng khoán còn bất cập dẫn đến hệ thống báo cáo tài chính chưa minh bạch, chưa phát huy được vai trò của mình. Bài viết phân tích những bất cập trong lập và trình bày báo cáo tài chính tại các công ty chứng khoán Việt Nam.

Ảnh minh họa. Nguồn: internetẢnh minh họa. Nguồn: internet

Những bất cập trong lập và trình bày báo cáo tài chính tại các công ty chứng khoán

Trong giai đoạn 2009 - 2015, phần lớn các công ty chứng khoán (CTCK) đã thực hiện việc trình bày các yếu tố trên báo cáo tài chính (BCTC) theo đúng quy định của chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán. Tuy nhiên, một số CTCK vẫn vi phạm các quy định của chuẩn mực, kế toán trong việc ghi nhận các khoản mục tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí… làm suy giảm tính tin cậy của thông tin BCTC. Cụ thể, những bất cập trong lập và trình bày báo cáo tài chính tại các CTCK được thể hiện như sau:

Thứ nhất, chỉ tiêu “tiền và tương đương tiền” trên bảng cân đối kế toán các CTCK phản ánh cả tiền gửi giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư (NĐT) lẫn của CTCK; báo cáo lưu chuyển tiền tệ phản ánh cả dòng tiền tham gia giao dịch chứng khoán của NĐT. Việc để gộp các tài khoản này với nhau như hiện nay đang làm xuất hiện con số hàng ngàn tỷ trên bảng chế độ kế toán và báo cáo lưu chuyển tiền tệ của CTCK, khiến trong nhiều trường hợp, CTCK có vị thế được nâng lên quá cao và bị “thổi phồng” giá trị thật. Hệ quả là không phản ánh kịp thời, trung thực tình hình tài chính của các CTCK. Đã có các trường hợp CTCK không tách bạch được tiền gửi của NĐT, lợi dụng tài khoản, thậm chí chiếm đoạt tiền gửi của khách hàng cho các mục đích khác, sau đó mất khả năng thanh toán. Trong thời gian qua, một số CTCK đã bị phát hiện và xử lý như CTCK VSM, CTCK Công nghiệp Việt Nam, CTCK An Phát…

Thứ hai, giá trị trích lập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán của các CTCK nhiều khi không chính xác, đặc biệt đối với chứng khoán phi tập trung - (OTC). Điều này đã dẫn đến một số tình trạng: (i) Mức dự phòng trích lập chứng khoán OTC không chính xác, do tính trung thực của bảng giá CTCK cung cấp; (ii) chứng khoán không có giá tham khảo; (iii) tạo ra giao dịch ảo để có cơ sở trích lập dự phòng.

Thứ ba, các khoản hỗ trợ tài chính cho khách hàng. Hiện các CTCK thực hiện việc hỗ trợ tài chính cho khách hàng thông qua một số hình thức như hợp đồng hợp tác đầu tư, margin, repo, cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán. Bản chất của những hoạt động này là việc CTCK cho khách hàng vay. Đây là lĩnh vực mang lại nguồn lợi nhuận khá lớn cho các CTCK nhưng cũng chứa đựng đầy rủi ro, đặc biệt là khi hoạt động tài trợ cho khách hàng là đáng kể và trường hợp thị trường gặp khó khăn, suy giảm mạnh. Tuy nhiên, giá chứng khoán thì giảm sút, khả năng thanh khoản thấp.

Thứ tư, việc ghi nhận chứng khoán phái sinh. Hiện nay, các CTCK hạch toán nghiệp vụ chưa thống nhất và chưa có quy trình xử lý kế toán, nếu khi mua tài sản là công cụ tài chính phái sinh, công ty sẽ ghi nhận theo giá gốc; quá trình nắm giữ, nếu giảm giá thì có thể lập dự phòng rủi ro; khi bán, tất toán công cụ tài chính phái sinh, xác định chênh lệch và ghi nhận vào thu nhập khác hoặc chi phí khác. Do đó, chưa có quy định về các chỉ tiêu kinh tế tài chính được trình bày trên BCTC đối với các đối tượng nhằm cung cấp thông tin cho người sử dụng BCTC.

Thứ năm, một số sai sót khác: Các CTCK vẫn còn tồn tại một số sai sót khác trong việc ghi nhận lãi dồn tích trước khi mua của các khoản đầu tư tài chính; nhận cổ tức bằng cổ phiếu; việc hạch toán các giao dịch ngoại tệ và trình bày thông tin về ngoại tệ trên BCTC chưa thực sự đầy đủ…

Giải pháp hoàn thiện việc lập và trình bày báo cáo tài chính tại các công ty chứng khoán

Thứ nhất, hiện nay trên bảng cân đối kế toán của CTCK chỉ tiêu “Tiền và tương đương tiền” phản ánh cả tiền gửi giao dịch chứng khoán của NĐT lẫn của CTCK, báo cáo lưu chuyển tiền tệ phản ánh cả dòng tiền tham gia giao dịch chứng khoán của NĐT. Vì vậy, ở góc độ quản lý, bảng cân đối kế toán không thể hiện rõ quy mô và năng lực của CTCK. Để khắc phục tình trạng này, chế độ kế toán CTCK cần sửa đổi theo hướng tách biệt hẳn tài sản của khách hàng và tài sản của công ty, tài sản của khách hàng CTCK nên coi như các khoản giữ hộ hoặc ký gửi và được phản ánh ngoài bảng cân đối kế toán.

Thứ hai, để theo dõi và quản lý tốt các khoản cho vay ký quỹ margin, cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán… Bộ Tài chính nên đưa ra quy định phân loại các khoản cho vay của CTCK theo chất lượng các khoản cho vay và hướng dẫn trích lập dự phòng rủi ro cho vay tương tự như quy định đối với các tổ chức tín dụng.

- Về việc phân loại các khoản cho vay: Hiện cách phân loại của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam về cơ bản phù hợp với thông lệ về phân loại nợ trong ngành Tài chính ngân hàng trên thế giới và trong khu vực. Cụ thể, theo đó, các khoản cho vay của các CTCK cũng được phân thành 5 nhóm lớn: Nhóm 1 - Nợ đủ tiêu chuẩn: là các khoản nợ được CTCK đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn; Nhóm 2 - Nợ cần chú ý là các khoản nợ có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ; Nhóm 3 - Nợ dưới tiêu chuẩn là các khoản nợ có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi; Nhóm 4 - Nợ nghi ngờ: là các khoản nợ có khả năng tổn thất cao; Nhóm 5 - Nợ có khả năng mất vốn là các khoản nợ được đánh giá là không còn khả năng thu hồi.

- Việc xác định và hạch toán dự phòng rủi ro cho vay: Dự phòng rủi ro cho vay thực chất là sự điều chỉnh giảm vào giá trị ghi sổ của các khoản cho vay để phản ánh giá trị có thể thu hồi được của khoản mục tài sản này. Theo nguyên tắc thận trọng của kế toán, khi có chứng cứ về sự giảm giá trị, CTCK tiến hành đánh giá mức giảm giá trị để tiến hành trích lập dự phòng cụ thể và dự phòng chung…

Thứ ba, để phục vụ cho việc ra đời và hoạt động của TTCK phái sinh, Việt Nam cần xem xét sửa đổi Luật Kế toán và cho phép sử dụng cơ sở đo lường theo giá trị hợp lý; ban hành chuẩn mực kế toán công cụ tài chính, chuẩn mực về giá trị hợp lý cũng như các thông tư hướng dẫn kế toán các công cụ tài chính phái sinh.

Đặc biệt, đối với các CTCK thỏa mãn các điều kiện về vốn cũng như một số các điều kiện khác khi tham gia vào thị trường chứng khoán phái sinh CTCK có thể tham gia vào hoạt động môi giới chứng khoán phái sinh; tự doanh chứng khoán phái sinh (với mục đích kinh doanh hoặc phòng ngừa rủi ro). Vì vậy, kế toán CTCK cũng phải đưa ra những hướng dẫn để CTCK ghi nhận những khoản chi phí, doanh thu liên quan đến việc môi giới chứng khoán phái sinh, cũng như ghi nhận giá trị chứng khoán phái sinh tự doanh cũng như lãi lỗ từ hoạt động tự doanh chứng khoán phái sinh.

Để phản ánh giá trị các công cụ tài chính phái sinh trên các BCTC, một số chỉ tiêu cần được bổ sung như sau:

- Trên bảng cân đối kế toán bổ sung các chỉ tiêu “Tài sản phái sinh ngắn hạn”; “Tài sản phái sinh dài hạn”; “Nợ phải trả phái sinh ngắn hạn”; “Nợ phải trả phái sinh dài hạn”; “Chênh lệch đánh giá lại công cụ tài chính”.

- Trên thuyết minh BCTC bổ sung các mục mô tả chi tiết về các điều khoản và đặc điểm của từng công cụ tài chính phái sinh sử dụng cho mục đích kinh doanh và cho mục đích phòng ngừa rủi ro…

Thứ tư, để tạo được sự nhất quán giữa các CTCK, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân tích và so sánh thông tin cũng như phản ánh đúng bản chất và tầm quan trọng của các khoản mục, Việt Nam cần có quy định rõ ràng, cụ thể xem khoản phải thu phát sinh từ giao dịch ký quỹ, hợp đồng hợp tác kinh doanh và ứng trước tiền bán chứng khoán được trình bày trên bảng cân đối kế toán ở chỉ tiêu nào (ở chỉ tiêu “Phải thu khách hàng” hay “phải thu hoạt động giao dịch chứng khoán” hay “đầu tư tài chính ngắn hạn khác”); Hay tương tự đối với khoản tiền gửi ký quỹ của nhà đầu tư (ở chỉ tiêu “các khoản phải trả phải nộp khác” hay “phải trả hoạt động giao dịch chứng khoán”).

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Tài chính, Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam;

2. Bộ Tài chính, Thông tư số 95/2008/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán CTCK;

3. Bộ Tài chính, Thông tư 162/2010/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 95/2008/TT-BTC;

4. www.cophieu68.vn;

5. www.tinnhanhchungkhoan.vn.

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính kỳ 2 tháng 2/2016

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục