VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng

Phát triển thị trường vốn trong quá trình tái cơ cấu hệ thống tài chính Việt Nam

(Tài chính) Theo Đề án phát triển thị trường vốn Việt Nam, phấn đấu đến năm 2020, thị trường vốn Việt Nam có sự phát triển đa dạng, đáp ứng nhu cầu huy động vốn và đầu tư của mọi đối tượng trong nền kinh tế, tương đương thị trường của các nước trong khu vực. Trong bối cảnh tái cơ cấu hệ thống tài chính Việt Nam đã và đang được thực hiện mạnh mẽ, việc phát huy những điểm mạnh, lợi thế và hạn chế những bất cập, rủi ro trên thị trường vốn có ý nghĩa hết sức quan trọng…

Phát triển xứng tầm…

Với mục tiêu từng bước đưa thị trường vốn trở thành một cấu thành quan trọng của thị trường tài chính, góp phần đắc lực trong việc huy động vốn cho đầu tư phát triển và cải cách nền kinh tế; đảm bảo tính công khai, minh bạch, duy trì trật tự, an toàn, hiệu quả, tăng cường quản lý, giám sát thị trường; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đầu tư, Việt Nam đang từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh và chủ động hội nhập thị trường tài chính quốc tế.

Trong thời gian qua, thị trường chứng khoán (TTCK) đã ghi nhận sự tăng trưởng ấn tượng. Các chỉ số chứng khoán cùng tăng trưởng, trụ vững trên ngưỡng hỗ trợ và hoạt động của hệ thống các công ty chứng khoán (CTCK) đã và đang được cải thiện đáng kể.

Thị trường trái phiếu đã tăng trưởng mạnh bất chấp những khó khăn chung của nền kinh tế đặt ra trong 9 tháng đầu năm 2013 do lạm phát được kiểm soát, mặt bằng lãi suất giảm, tăng trưởng tín dụng thấp và thanh khoản dồi dào của hệ thống ngân hàng. Giá trị trái phiếu chính phủ (TPCP) phát hành thành công trong 9 tháng đầu năm tăng 22% so với cùng kỳ năm 2012. Giá trị giao dịch TPCP tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ năm 2012. Huy động vốn qua trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) trong 9 tháng đầu năm cũng cải thiện và xấp xỉ cả năm 2012.

Hai chỉ số chứng khoán VN-Index và HNX-Index đều tăng trưởng trong 9 tháng đầu năm. Sau các đợt điều chỉnh, VN-Index và HNX-Index vẫn trụ vững trên các ngưỡng hỗ trợ.

Quá trình tái cơ cấu các CTCK theo Đề án tái cơ cấu TTCK cũng đạt được những thành công nhất định. Đến nay, một số CTCK yếu kém đã được tái cơ cấu, thu hồi giấy phép hoạt động hoặc tự nguyện giải thể. Hệ thống CTCK bền vững hơn nhờ chuyển biến tích cực cả về chất lượng tài sản và tỷ lệ vốn khả dụng. Các tài sản có rủi ro cao, kém thanh khoản như cổ phiếu chưa niêm yết, TPDN và phải thu ngắn hạn đều giảm.

Đòn bẩy tài chính của hệ thống CTCK được cải thiện tích cực, giảm xuống dưới 1 vào cuối tháng 6/2013. Tỷ lệ vốn khả dụng trung bình toàn hệ thống được cải thiện và cao hơn mức chuẩn an toàn (180%). Lợi nhuận sau thuế của các CTCK trong 6 tháng đầu năm 2013 đạt trên 1.100 tỷ đồng, xấp xỉ cùng kỳ năm 2012 nhưng cải thiện mạnh so với 6 tháng đầu năm 2011.

Tuy nhiên, sự phát triển của thị trường vốn còn chưa bền vững với việc các tổ chức kinh doanh chứng khoán "lấn sân" vào lĩnh vực cấp tín dụng của ngân hàng, khả năng huy động vốn cho doanh nghiệp (DN) còn hạn chế, TPDN rủi ro cao, kém thanh khoản, hàng hóa nghèo nàn, chất lượng giảm sút, minh bạch thông tin hạn chế, thị phần của các CTCK mất cân đối.

Trong bối cảnh TTCK trầm lắng, nguồn thu từ phí môi giới giảm sút và hoạt động tự doanh khó có lãi nên một số CTCK và công ty quản lý quỹ (CTQLQ) chấp nhận rủi ro cao làm trung gian giúp tổ chức tín dụng (TCTD) cấp vốn cho các đối tượng bị hạn chế cho vay và các khoản vay cần đảo nợ. Đây là một hoạt động rất rủi ro vì các TCTD không cam kết chịu mọi trách nhiệm nếu các khoản tín dụng này không thể thu hồi.

Khảo sát của Uỷ ban Giám sát Tài chính Quốc gia (UBGSTCQG) cho thấy, các TCTD chuyển vốn cho các CTCK và CTQLQ nhằm tránh sự giám sát của cơ quan quản lý thông qua các hình thức trá hình như đầu tư TPDN, cổ phiếu, hợp tác đầu tư, đặt cọc.

Huy động vốn qua TPDN, phát hành cổ phiếu và cổ phần hóa còn hạn chế. Giá trị phát hành TPDN trong 9 tháng đầu năm chỉ bằng 1/5 giá trị phát hành TPCP cho thấy việc huy động vốn cho DN thông qua phát hành trái phiếu vẫn gặp khó khăn khi nhà đầu tư (chủ yếu là các TCTD) vẫn e ngại rủi ro đối với TPDN. Huy động vốn thông qua thị trường cổ phiếu và cổ phần hóa giảm sút do nhà đầu tư không còn mặn mà với việc tăng vốn của DN trước bối cảnh DN đang đối mặt với nhiều thách thức.

Vốn huy động qua phát hành cổ phiếu và cổ phần hóa trong 6 tháng đầu năm 2013 chỉ đạt khoảng 5.000 tỷ đồng, giảm 20% so với cùng kỳ năm 2012. Việc huy động vốn cho DN qua TTCK khó khăn làm cho DN càng phụ thuộc vào kênh tín dụng ngân hàng.

Thị trường cổ phiếu chưa hồi phục mạnh nên tác động bất lợi đến tiến trình cổ phần hóa và thoái vốn của doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Từ năm 2012 đến nay, số DN niêm yết mới trên thị trường chính thức không đáng kể, một số DN đã phải huy động vốn qua phát hành cổ phiếu dưới mệnh giá.

Do vậy, việc thu hút nhà đầu tư mua cổ phần của DNNN cổ phần hóa hay mua lại hàng chục nghìn tỷ đồng cổ phiếu do DNNN cần thoái vốn đầu tư ngoài ngành gặp không ít khó khăn khi giá khởi điểm đấu giá thường trên mệnh giá. Chương trình cổ phần hóa các DNNN gặp không ít khó khăn với hàng loạt cuộc đấu giá không thành công hoặc các DN không muốn tiến hành đấu giá.

TPDN có rủi ro cao hơn khoản cho vay của ngân hàng do khó kiểm soát các DN sử dụng vốn có đúng mục đích hay không. TPDN đối với lĩnh vực bất động sản, một trong những lĩnh vực rủi ro cao, chiếm khoảng 40%-50% giá trị TPDN phát hành từ năm 2012 đến nay. Vốn huy động từ trái phiếu phần lớn được chuyển thẳng cho tổ chức phát hành để đơn vị chủ động sử dụng mà không bị giám sát bởi bên thứ ba. Toàn bộ nợ gốc chỉ phải thanh toán một lần khi trái phiếu đáo hạn nên thay vì trả nợ định kỳ như các khoản vay ngân hàng, DN có thể quay vòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực có nguy cơ rủi ro cao.

Trong khi TPCP đã được niêm yết và giao dịch tại HNX thì TPDN kém thanh khoản do bản thân các TPDN không được chuẩn hóa, khó đánh giá định hạng, thông tin phát hành không minh bạch. Hơn thế nữa, phần lớn TPDN thực chất là các khoản tín dụng của TCTD cho khách hàng nên người mua thường phải nắm giữ đến thời điểm đáo hạn mà khó bán lại trên thị trường.

Thị trường TPDN của Việt Nam hiện trong giai đoạn sơ khai, thiếu các yếu tố quan trọng về cơ sở hạ tầng như tổ chức định mức tín nhiệm, hệ thống thông tin giao dịch thứ cấp, hệ thống nhà đầu tư… Việc chưa có cơ quan đánh giá tín nhiệm tổ chức phát hành trái phiếu cũng như xếp hạng trái phiếu, hệ thống thông tin giao dịch thứ cấp làm tăng nguy cơ rủi ro cho người mua TPDN trên cả thị trường thứ cấp cũng như thị trường sơ cấp.

Đa số các công ty niêm yết là những công ty vừa và nhỏ, chất lượng chưa cao, đặc biệt là quản trị công ty và tính công khai, minh bạch. Chất lượng cổ phiếu niêm yết đi xuống khi có tới trên 50% các công ty niêm yết có lợi nhuận sau thuế giảm so với kỳ trước và 20% công ty bị lỗ trong 6 tháng đầu năm 2013. Khoảng một nửa số cổ phiếu niêm yết tại HSX và HNX giao dịch dưới mệnh giá. Điều này ảnh hưởng đến uy tín của DN, không có tác động thúc đẩy các DN niêm yết.

Nhóm 10 CTCK hàng đầu luôn chiếm trên 50% thị phần môi giới của cả HSX và HNX và chưa đến 50% thị phần thuộc về hơn 80 CTCK khác. Do đó, hầu hết các CTCK phải cạnh tranh gay gắt để tồn tại với doanh thu phí môi giới bị chia nhỏ trong khi nghiệp vụ tự doanh tiềm ẩn nguy cơ thua lỗ và nguồn thu từ các nghiệp vụ khác là không đáng kể.

Minh bạch thông tin là một trong những lĩnh vực yếu kém nhất của DN Việt Nam, điều đó được thể hiện qua những điểm sau:

Thứ nhất, sai lệch lớn về kết quả kinh doanh công bố trước và sau khi có báo cáo kiểm toán/soát xét làm mất dần niềm tin từ phía nhà đầu tư;

Thứ hai, chất lượng kiểm toán, chuẩn mực báo cáo tài chính còn thấp khi báo cáo tài chính đã kiểm toán/soát xét không phản ánh đầy đủ, chi tiết các khoản mục có giá trị rất lớn. Các tài sản rủi ro cao như TPDN, cổ phiếu chưa niêm yết, phải thu quá hạn không được trích lập dự phòng đầy đủ, phản ánh giá trị hợp lý do các quy định không chặt chẽ, thiếu phù hợp thực tiễn;

Thứ ba, mức độ tuân thủ quy định pháp lý của các DN chưa cao. Tính minh bạch trong các báo cáo tài chính chưa được coi trọng đúng mức;

Thứ tư, nhà đầu tư vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với thông tin của DN, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài do rào cản ngôn ngữ;

Thứ năm, báo cáo thường niên cung cấp thông tin chưa cụ thể, chỉ mang tính hình thức và chưa giúp nhà đầu tư thấy được các rủi ro trọng yếu.

Thứ sáu, DN không chủ động công bố thông tin hoặc công bố thông tin chậm làm cho nhà đầu tư không nắm được thực trạng tình hình hoạt động của DN để có quyết định đầu tư đúng đắn.

Việc thiếu thông tin hoặc thông tin không chính xác sẽ khiến các nhà đầu tư phải trả giá đắt và có thể dẫn đến sự suy giảm, thậm chí đổ vỡ lòng tin, khiến cho thị trường bị xáo trộn, mất ổn định.

Một số giải pháp hoàn thiện

Để phát triển thị trường vốn Việt Nam trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện một số công việc sau:

Một là, củng cố và nâng cao địa vị pháp lý cho cơ quan giám sát hợp nhất thị trường tài chính Việt Nam: Những rủi ro chéo lớn, tiềm ẩn và đan xen giữa các khu vực của thị trường tài chính, giữa các định chế trong cùng một tập đoàn tài chính (chủ yếu qua các giao dịch nội bộ...) mà các cơ quan thanh tra giám sát chuyên ngành không thể nắm bắt hết được cũng như không có đủ vị thế và chức năng để giám sát, quản lý và xử lý hữu hiệu được các rủi ro này (nếu có phát hiện được).

Trong khi đó UBGSTCQG là đơn vị được giao thực hiện giám sát chung thị trường tài chính thì vị thế pháp lý còn hạn chế nên chưa thể thực hiện giám sát được toàn diện và hiệu quả.

Do đó, cần củng cố và nâng cao địa vị pháp lý cho UBGSTCQG theo hướng có vị thế pháp lý và năng lực đầy đủ để thực hiện thanh tra giám sát toàn diện thị trường tài chính Việt Nam. Đồng thời, cần tăng cường phối hợp, trao đổi thông tin giữa các cơ quan quản lý, giám sát thị trường tài chính.

Hai là, nâng cao chất lượng hàng hóa trên TTCK: Tiếp tục thanh lọc những cổ phiếu chất lượng kém, bắt buộc hủy niêm yết hoặc chuyển sàn đối với các cổ phiếu của các công ty thua lỗ, tình hình tài chính yếu kém; Nâng chế tài xử phạt đối với các công ty bị phát hiện có hiện tượng làm giá, có thể buộc ngừng giao dịch nếu cần thiết.

Ba là, phát triển thị trường TPDN: Sớm ban hành các quy định hạn chế, ngăn ngừa việc lạm dụng phát hành trái phiếu của các tổ chức có liên quan đến TCTD; Thành lập Trung tâm thông tin TPDN để thu thập và cung cấp thông tin liên quan đến các hoạt động, giao dịch trên thị trường sơ cấp, thứ cấp cũng như thông tin từ các thành viên thị trường; Thành lập cơ quan đánh giá tín nhiệm tổ chức phát hành trái phiếu cũng như xếp hạng trái phiếu.

Bốn là, đẩy mạnh quá trình tái cơ cấu các CTCK theo hướng loại khỏi thị trường các công ty yếu kém về năng lực tài chính, nâng cao các chuẩn mực về an toàn tài chính cũng như xếp hạng các CTCK; Tăng cường giám sát, ngăn chặn tình trạng các CTCK cấp "tín dụng" một cách quá dễ dàng cho DN và TCTD khác, đặc biệt là sử dụng nguồn vốn của ngân hàng để cấp “tín dụng" cho các bên liên quan.

Năm là, giám sát chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập, đồng thời tăng cường tính minh bạch của các định chế tài chính. Tình trạng báo cáo tài chính không chính xác, không đầy đủ thông tin, nhất là trong việc đánh giá lại giá trị tài sản đang diễn ra khá phổ biến, kể cả các báo cáo tài chính đã được kiểm toán độc lập.

Hệ quả là gây thiệt hại cho các nhà đầu tư và trở ngại cho các cơ quan giám sát và quản lý nhà nước. Do đó cần: (i) Tăng cường giám sát hoạt động của các công ty kiểm toán độc lập; (ii) Áp dụng chế độ công bố thông tin một cách nghiêm ngặt với các chế tài đủ mạnh đối với các công ty niêm yết, các DN có lợi ích công chúng, đặc biệt là TCTD, CTCK và CTQLQ.

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 11 - 2013

Có thể bạn quan tâm