Sửa đổi, bổ sung Luật Thuế Giá trị gia tăng: Bảo đảm Chiến lược cải cách thuế và tính khả thi, bền vững

(Taichinh) -
Cơ bản tán thành với việc sửa đổi, bổ sung Luật Thuế Giá trị gia tăng (GTGT) bởi điều này sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cạnh tranh của doanh nghiệp, tạo niềm tin đối với cộng đồng doanh nghiệp quốc tế và thu hút đầu tư. Nhưng các đại biểu Quốc hội nhấn mạnh, dự thảo Luật phải hướng tới bảo đảm thực hiện các mục tiêu đã đề ra trong Chiến lược cải cách thuế giai đoạn 2011 – 2020; đặc biệt, cần chú ý đến tính khả thi của những quy định, cũng như tính bền vững của toàn bộ dự thảo luật.
Ảnh minh họa. Nguồn: InternetẢnh minh họa. Nguồn: Internet
Đại biểu Quốc hội Trần Văn Huynh (Kiên Giang): Cần có hệ thống giải pháp tổng thể, đồng bộ nhằm bảo đảm tính lan tỏa rộng lớn và đạt được hiệu quả khi ban hành chính sách
 
Về ngưỡng đăng ký nộp thuế và phương pháp tính thuế, dự thảo luật bổ sung quy định về ngưỡng đăng ký thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, theo đó áp dụng phương pháp khấu trừ đối với cơ sở kinh doanh đang hoạt động có doanh thu hàng năm từ bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ từ 1 tỷ đồng trở lên, trừ hộ có cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp trực tiếp trên GTGT và bổ sung quy định về cách xác định GTGT theo phương pháp trực tiếp. Tôi đề nghị xem xét quy định mức ngưỡng doanh thu tính thuế thấp hơn phương pháp, phương án đề xuất của Chính phủ vì với mức doanh thu 1 tỷ đồng/1 năm thì tỷ lệ các doanh nghiệp thuộc diện áp dụng phương pháp trực tiếp là khá lớn, dẫn đến chưa thể hiện được bước tiến bộ hơn trong quản lý áp dụng thuế GTGT, chưa đáp ứng mục tiêu tiến tới cơ bản thực hiện phương pháp khấu trừ thuế đề ra trong chiến lược cải cách thuế.

Về hoàn thuế GTGT, dự thảo luật sửa đổi theo hướng nâng mức tiền thuế đầu vào tối thiểu để được hoàn thuế đối với đầu tư và xuất khẩu từ 200 triệu đồng lên 500 triệu đồng. Tôi đề nghị giữ như quy định hiện hành với mức hoàn thuế 200 triệu đồng, vì trong bối cảnh hiện nay việc nâng mức tiền thuế tối thiểu với mức nâng gấp 2,5 lần như quy định của dự thảo luật sẽ gia tăng khó khăn về vốn cho thuế doanh nghiệp do chậm được hoàn thuế.

Về giảm thuế GTGT đầu ra đối với hoạt động bán, cho thuê, cho thuê nhà, cho thuê mua nhà ở, dự thảo luật quy định giảm 50% thuế GTGT đầu ra từ ngày 1/7/2013 đến hết ngày 30/6/2014 đối với các hợp đồng bán, cho thuê, thuê mua nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở và nhà ở là căn hộ có diện tích sàn dưới 70m2 và có giá bán 15 triệu đồng/m2. Tôi tán thành chủ trương ban hành chính sách nhằm góp phần tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản; hỗ trợ các đối tượng thực sự có nhu cầu về nhà ở, kích cầu tiêu dùng, giảm lượng hàng tồn kho trong lĩnh vực bất động sản. Tuy nhiên, đề nghị cần có hệ thống giải pháp tổng thể, đồng bộ nhằm bảo đảm tính lan tỏa rộng lớn và đạt được hiệu quả đề ra khi ban hành chính sách. Ngoài ra, việc quy định chỉ giảm thuế GTGT đầu ra cho nhà ở xã hội, theo quy định của pháp luật về nhà ở và nhà ở là căn hộ có diện tích sàn dưới 70m2 rất có thể sẽ dẫn đến tình trạng chia nhỏ diện tích sàn căn hộ, chỉ tập trung đầu tư các căn hộ có diện tích sàn dưới 70m2, dẫn đến phá vỡ quy hoạch, thiết kế kiến trúc, gia tăng các trường hợp chuyển đổi mục đích xây dựng từ nhà ở thương mại sang nhà ở xã hội để được hưởng ưu đãi. Vì vậy, cần cân nhắc toàn diện trước khi ban hành chính sách này.
 
Đại biểu Quốc hội Đỗ Văn Vẻ (Thái Bình): Trong điều kiện hiện nay chưa nên áp dụng ngay một mức thuế chung

 
Thứ nhất, về đối tượng không chịu thuế tại Điều 1 Khoản 1, qua nghiên cứu thấy rằng bổ sung mới có thu hẹp diện không chịu thuế chuyển sang diện chịu thuế đối với dịch vụ phục vụ công như vệ sinh, thoát nước, công cộng vì dịch vụ này trong nền kinh tế thị trường và đặc biệt đẩy mạnh xã hội hóa doanh nghiệp tư nhân vẫn có thể thực hiện được. Mặt khác nhà nước khuyến khích doanh nghiệp thực hiện vì thế phải chuyển sang diện chịu thuế để doanh nghiệp chịu thuế đầu ra và khấu trừ đầu vào, bảo đảm tính minh bạch, liên hoàn trong thuế GTGT. Nếu nhà nước tiêu dùng dịch vụ thì nhà nước cũng phải trả tiền cho doanh nghiệp theo thuế GTGT. Do vậy, liên quan đến điều này đề nghị quy định rõ các dịch vụ không chịu thuế GTGT. Bởi vì xét về bản chất kinh tế những dịch vụ này thuộc về việc phân phối lại sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân. Nó là dịch vụ trung gian như dịch vụ thuộc lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán, một số loại hình bảo hiểm. Đặc biệt là quy định rõ việc cho vay vốn của doanh nghiệp với nhau cũng không nên đánh thuế GTGT vì hoạt động này chưa tạo ra GTGT. Vì vậy, dự thảo luật cần phải quy định rõ thêm doanh nghiệp cho nhau vay vốn dưới các hình thức cũng thuộc những đối tượng không chịu thuế GTGT.

Thứ hai, về thuế suất khoản 3, Điều 1, tôi thấy trong điều kiện hiện nay chưa áp dụng ngay một mức thuế chung như chiến lược cải cách thuế đến năm 2020. Vì nền kinh tế vẫn đang ở mức thấp, một số lĩnh vực vẫn cần ưu tiên đặc biệt là đầu vào, đầu ra của lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Vì vậy, đề nghị giữ nguyên cơ cấu thuế suất như hiện nay, 0% cho hàng hoá dịch vụ xuất khẩu, 5% cho hàng hoá dịch vụ thiết yếu bao gồm các sản phẩm đầu vào, đầu ra của nông nghiệp nông thôn, 10% cho hàng hoá dịch vụ còn lại. Trong dự thảo luật có đưa mặt hàng quặng dùng để sản xuất phân bón từ 5 - 10% , tuy không ảnh hưởng đến sản phẩm đầu ra là phân bón đang chịu thuế 10% nhưng doanh nghiệp sản xuất phân bón phải tốn thêm chi phí về vốn để tạm trả thuế đầu vào khi mua quặng để sản xuất phân bón. Nhưng xét về mặt tổng thể xã hội thì minh bạch trong quản lý vì thế tôi đề nghị cân nhắc thêm về nội dung này.

Thứ ba, về khấu trừ thuế khoản 6, Điều 1, thực tế vừa qua cho thấy tất cả các doanh nghiệp đều áp dụng phương pháp khấu trừ thuế. Tuy nhiên, trình độ doanh nghiệp, năng lực quản trị doanh nghiệp Việt Nam rất khác nhau nên những doanh nghiệp siêu nhỏ áp dụng theo phương pháp khấu trừ thường khó khăn và phức tạp, tốn kém nhiều chi phí trong việc thực hiện thủ tục kê khai thuế và không ít trường hợp bị oan do lỗi về thủ tục. Vì thế cần phải có biện pháp thu thuế đơn giản đối với đối tượng này. Việc đề xuất áp dụng thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ là có thể giải quyết được tình trạng trên, tuy nhiên cần có quy định mở để khuyến khích những doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, có năng lực quản trị tốt và nếu tự nguyện nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thì cũng nên cho áp dụng phương pháp khấu trừ.

Về khấu trừ thuế đầu vào, phải bảo đảm nguyên tắc người nộp thuế có thực trả thuế đầu vào để sản xuất hàng hoá dịch vụ chịu thuế đầu ra thì mới được khấu trừ thuế đầu vào. Nói cách khác khấu trừ thuế đầu vào chính là hoàn thuế một cách gián tiếp nên phải quy định chặt chẽ, chống gian lận. Tuy nhiên, thời gian doanh nghiệp khai thuế đầu vào không nên giới hạn 3 tháng hay 6 tháng như vừa qua mà nên quy định rằng khi doanh nghiệp đã thực thanh toán đầu vào trong đó có tiền thuế thì lúc đó doanh nghiệp mới có quyền kê khai thuế đầu vào.
 
Đại biểu Quốc hội Lê Minh Hiền (Khánh Hòa): Việc xác định hàng hóa, dịch vụ có chịu thuế GTGT hay không tùy thuộc vào doanh thu, thu nhập của người kinh doanh là không phù hợp với bản chất của thuế GTGT
 
Quá trình triển khai thực hiện Luật Thuế GTGT đã đi vào cuộc sống, tác động tích cực đến nhiều mặt kinh tế - xã hội của đất nước và đã đạt được mục tiêu đề ra khi ban hành luật là góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển, bảo đảm nguồn thu quan trọng và ổn định cho ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, do những biến động nhanh về kinh tế, xã hội và trước yêu cầu ngày càng cao về hiện đại hóa công tác quản lý thuế nên một số quy định của luật đã bộc lộ những hạn chế bất cập, cần phải được sửa đổi, bổ sung kịp thời. Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT là cần thiết.

Về đối tượng không chịu thuế, Điểm 5 tại Khoản 1 Điều 1. Với việc sửa đổi Khoản 25 từ hàng hóa dịch vụ của cá nhân kinh doanh có mức thu nhập bình quân tháng thấp hơn mức lương tối thiểu chung áp dụng đối với tổ chức, doanh nghiệp trong nước sang thành hàng hóa, dịch vụ của cá nhân kinh doanh có mức doanh thu hàng năm thấp hơn 100 triệu đồng. Vấn đề đặt ra ở đây là đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ chứ không phải là doanh thu, thu nhập của người nộp thuế. Việc xác định hàng hóa, dịch vụ có chịu thuế GTGT hay không tùy thuộc vào doanh thu, thu nhập của người kinh doanh là không phù hợp với bản chất của thuế GTGT. Ví dụ, cùng một loại hàng hóa mà do hộ kinh doanh A bán ra thì không chịu thuế GTGT do hộ kinh doanh B có thu nhập hoặc có doanh thu cao hơn thì chịu thuế GTGT là không hợp lý. Do số thu thuế từ nhóm người nộp thuế này ít, đồng thời để thực hiện chính sách ưu đãi của nhà nước và thuận tiện cho công tác quản lý thì nên đưa nhóm này được miễn trừ trong đối tượng nộp thuế theo tiêu chí về thu nhập. Nếu xác định doanh thu thì sẽ không phù hợp theo từng thời kỳ và sẽ phải sửa đổi luật liên tục.

Tuy Chính phủ không đề xuất Điều 4 quy định về người nộp thuế nhưng với những phân tích như trên, do đó để phù hợp với việc sửa Khoản 25 Điều 5 tôi đề xuất Chính phủ xem xét trình Quốc hội sửa đổi Điều 4 quy định về người nộp thuế với việc bổ sung thêm vào đoạn cuối của đoạn này, trừ cá nhân kinh doanh có mức doanh thu hàng năm từ 100 triệu đồng trở xuống. Cụ thể Điều 4 sửa như sau: Điều 4, người nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ chịu thuế GTGT sau đây gọi là cơ sở kinh doanh và tổ chức cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT sau đây gọi là người nhập khẩu trừ cá nhân kinh doanh có mức doanh thu hàng năm từ 100 triệu đồng trở xuống.

Vấn đề thứ hai về việc sửa đổi, bổ sung Điều 11, phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT tại Khoản 5 Điều 1 theo dự thảo, tại Điểm b Khoản 2 Điều 11 quy định, số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT bằng tỷ lệ phần trăm nhân với doanh thu áp dụng như sau: b) tỷ lệ phần trăm để tính thuế GTGT được quy định theo từng hoạt động như sau: thương mại, phân phối cung cấp hàng hóa 1%, sản xuất vận tải dịch vụ có gắn với hàng hóa xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu 3%, dịch vụ xây dựng trừ xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu 5%, hoạt động kinh doanh khác 2%. Nếu mức thuế suất GTGT phổ biến 10%, nếu tỷ lệ phần trăm để tính GTGT của ngành thương mại là 1% thì ngành thương mại phải đạt mức lãi gộp 10%. Điều này chưa hợp lý vì đối với hoạt động bán buôn thì mức lãi gộp tối đa chỉ khoảng 5%, hoạt động bán lẻ có thể đạt mức lãi gộp 10%. Vì vậy tôi đề nghị tỷ lệ để tính thuế GTGT đối với hoạt động thương mại 0,5%...
 
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thanh Hải (Hòa Bình): Số lượng nhóm đối tượng miễn thuế GTGT còn nhiều và chưa phù hợp với chiến lược cải cách thuế
 
Theo Luật Thuế GTGT hiện hành, hiện tại có 25 nhóm đối tượng không phải chịu thuế và theo dự thảo luật trình kỳ này, Ban soạn thảo đã rà soát sửa đổi, bổ sung các nhóm đối tượng này, trong đó có 18/25 nhóm đối tượng giữ nguyên, 6/25 nhóm đối tượng có chỉnh sửa bổ sung và nhìn chung chỉnh sửa bổ sung theo hướng tăng thêm một số đối tượng cụ thể trong từng nhóm đối tượng và tổng số nhóm đối tượng vẫn là 25 nhóm đối tượng như luật hiện hành. Tôi không có ý kiến về từng đối tượng cụ thể đã được rà soát bổ sung thay đổi trong từng nhóm đối tượng, nhưng có ý kiến về số lượng 25 nhóm đối tượng miễn thuế GTGT. Theo tôi hiện nay còn đang nhiều đối tượng chưa thực sự phù hợp với chiến lược cải cách thuế bởi những lý do như sau:

Thứ nhất, theo mục tiêu đề ra trong chiến lược cải cách thuế giai đoạn 2011 – 2020 thì một trong những nội dung cải cách thuế GTGT đó là sửa đổi, bổ sung theo hướng giảm bớt nhóm hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT. Do vậy, có thể nói việc quy định theo xu hướng không thu hẹp hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT như trong dự thảo luật là chưa thực sự phù hợp với mục tiêu đã được đề ra trong chiến lược cải cách thuế giai đoạn 2011- 2020. Thông thường phải từ 3-5 năm mới xem xét sửa đổi luật này một lần. Và như vậy có nghĩa là nhanh nhất cũng phải đến năm 2016 mới có thể xem xét sửa đổi luật này một lần nữa và lúc đó mới có thể có cơ hội để xem xét thực hiện mục tiêu này.

Thứ hai, bản chất của thuế GTGT là thuế đánh trên sự tiêu thụ do người mua phải chịu thuế chứ không phải người bán. Do đó mọi sự ưu tiên bằng cách quy định càng nhiều đối tượng không chịu thuế chừng nào thì càng gây khó khăn cho doanh nghiệp bán hàng hay cung cấp dịch vụ chừng ấy chứ hoàn toàn không mang lại ưu đãi cho doanh nghiệp. Lý do doanh nghiệp sẽ mất quyền khấu trừ thuế đầu vào của hàng hoá dịch vụ khi mua vào, cụ thể như hoá đơn tiền thuê văn phòng, tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại, internet, văn phòng phẩm... vì căn cứ để xác định số thuế đầu vào được khấu trừ chính là số thuế GTGT ghi trên hoá đơn GTGT khi mua hàng hoá đầu vào. Do vậy, nếu phạm vi đối tượng được miễn thuế rộng và không được thu hẹp thì sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp. Ngoài ra, đối với doanh nghiệp bán hàng hoá dịch vụ vừa thuộc đối tượng chịu thuế, vừa thuộc đối tượng không chịu thuế thì phải tốn nhiều thời gian và nhân lực trong việc hạch toán hoặc phân bổ số thuế đầu vào được khấu trừ.

Thứ ba, về mức doanh thu để xác định hàng hoá dịch vụ không chịu thuế của hộ cá nhân kinh doanh, theo như dự thảo hiện hành đang quy định là 100 triệu đồng. Tôi đã tìm hiểu trong hồ sơ dự án luật trình Quốc hội có thấy tại Mục e, trang 95 có giải trình là để bảo đảm minh bạch, dễ thực hiện và phù hợp thông lệ quốc tế nên dự thảo luật đã chuyển từ quy định căn cứ theo thu nhập sang doanh thu của hộ cá nhân kinh doanh. Hơn nữa đây là quy định thể hiện rõ ràng chính sách ưu đãi của nhà nước miễn thuế GTGT đối với những hộ cá nhân kinh doanh thu nhập thấp. Tuy nhiên tôi rất băn khoăn về vấn đề này cụ thể như sau. Thuế GTGT không phải là thuế đánh vào hộ cá nhân kinh doanh dịch vụ hàng hoá mà đánh vào người sử dụng, tiêu dùng dịch vụ hàng hoá đó và hộ cá nhân kinh doanh đó chỉ thay mặt nhà nước để thu thuế từ người tiêu dùng, họ sẽ nộp vào ngân sách nhà nước. Những người tiêu dùng này có thể là những người có cả thu nhập thấp và có cả thu nhập cao.

Hơn nữa việc xác định mức doanh thu của hộ cá nhân 100 triệu đồng trên thực tế không phải là việc dễ thực hiện. Vì vậy, tôi kiến nghị Ban soạn thảo nên cân nhắc không đưa đối tượng này vào đối tượng không chịu thuế. Trong trường hợp vẫn phải đưa đối tượng này vào thì cần làm rõ cơ sở thực tiễn và khoa học của mức ngưỡng doanh thu 100 triệu. Theo tôi không nên để con số tuyệt đối mà nên căn cứ theo mức lương tối thiểu, chẳng hạn 100 triệu đồng tương đương với gần 100 lần mức lương tối thiểu để bảo đảm tính ổn định lâu dài của điều luật.

Việc quy định đối tượng không thuộc diện chịu thuế GTGT hiện nay tương đối rộng dẫn đến khả năng phát sinh khó khăn trong quá trình thực hiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Một số hàng hoá, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế được đưa vào luật nhằm thực hiện chính sách xã hội đối với đối tượng là người có thu nhập thấp. Tuy nhiên, việc quy định như vậy rất khó xác định đâu là hàng hoá dịch vụ cung cấp cho cá nhân, người có thu nhập thấp, cá nhân có thu nhập cao. Vì vậy, Ban soạn thảo cần quan tâm giải trình thêm về vấn đề thu hẹp đối tượng thuộc diện chịu thuế GTGT đề phù hợp với chiến lược cải cách thuế và thông lệ quốc tế.

Theo Đại biểu Nhân dân

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu