VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng

TPP - Cơ hội lớn trong hội nhập thương mại quốc tế

(Tài chính) Hiệp định Kinh tế Đối tác Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) được trông chờ sẽ là “cú hích” lớn thúc đẩy hội nhập kinh tế liên khu vực, tạo ra những cơ hội mới trong tăng trưởng kinh tế cho các quốc gia tham gia. Tuy nhiên, để biến cơ hội thành lợi ích thiết thực, đòi hỏi mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam phải vượt qua những thách thức không nhỏ.

Cơ hội và thách thức cho Việt Nam

TPP là hiệp định thương mại tự do khu vực có thể đem đến những cơ hội lớn cho Việt Nam trong việc kết nối nền kinh tế của mình với Mỹ và các thành viên TPP khác. Nó có thể mang lại lợi ích kinh tế lớn cho Việt Nam. Cụ thể như:

Cơ hội khai thác từ thị trường nước ngoài (các nước đối tác TPP): với một nền kinh tế định hướng xuất khẩu, cơ hội tiếp cận các thị trường lớn như Mỹ với mức thuế suất thấp hoặc bằng 0% sẽ mang lại cho Việt Nam một lợi thế cạnh tranh vô cùng lớn và một triển vọng hết sức sáng sủa cho nhiều ngành hàng của chúng ta, kéo theo đó là lợi ích cho một bộ phận lớn người lao động hoạt động trong các lĩnh vực phục vụ xuất khẩu. Lợi ích này không chỉ dừng lại ở những nhóm mặt hàng mà Việt Nam đang có thế mạnh xuất khẩu (ví dụ như dệt may, giầy dép…) mà còn là động lực để nhiều nhóm mặt hàng khác hiện chưa có kim ngạch đáng kể có điều kiện để gia tăng sức cạnh tranh. Các quy định của TPP sẽ giúp loại bỏ những rào cản phi thuế quan và đảm bảo rằng các quy định hạn chế thương mại sẽ dựa trên những yếu tố khoa học và đánh giá rủi ro rõ ràng. Điều này cũng sẽ thu hút đầu tư vào Việt Nam từ Mỹ và các nước TPP khác. Đặc biệt, trong một số lĩnh vực Việt Nam mong muốn như phát triển các ngành công nghệ cao, nâng cao trình độ của các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp, tạo khả năng cho Việt Nam tham gia tốt hơn vào chuỗi giá trị trong khu vực và trên toàn cầu.

Cơ hội khai thác tại thị trường nội địa: (i) Giảm thuế hàng nhập khẩu từ các nước TPP. Người tiêu dùng và các ngành sản xuất sử dụng nguyên liệu nhập khẩu từ các nước thành viên làm nguyên liệu đầu vào sẽ được hưởng lợi từ hàng hóa, nguyên liệu giá rẻ, giúp giảm chi phí sinh hoạt và sản xuất, từ đó có thể giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của những ngành này;

(ii) Lợi ích từ những khoản đầu tư, dịch vụ đến từ Mỹ và các nước đối tác TPP. Đó là một môi trường kinh doanh cạnh tranh hơn, mang lại dịch vụ giá rẻ hơn chất lượng tốt hơn cho người tiêu dùng;

(iii) Thay đổi thể chế hay cải cách để đáp ứng những đòi hỏi chung. TPP dự kiến sẽ bao trùm cả những cam kết về những vấn đề xuyên suốt như sự hài hòa giữa các quy định pháp luật, tính cạnh tranh, vấn đề hỗ trợ phát triển doanh nghiệp (DN) nhỏ và vừa, chuỗi cung ứng, hỗ trợ phát triển… Đây là những lợi ích lâu dài và xuyên suốt các khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội, đặc biệt có ý nghĩa đối với nhóm DN nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng lớn nhất;

(iv) Mở cửa thị trường mua sắm công. Mặc dù mức độ mở cửa đối với thị trường mua sắm công trong khuôn khổ TPP chưa được xác định cụ thể nhưng nhiều khả năng các nội dung trong Hiệp định về mua sắm công trong WTO sẽ được áp dụng cho TPP, và nếu điều này là thực tế thì cơ hội mà Việt Nam có được sẽ là triển vọng minh bạch hóa thị trường quan trọng này – TPP vì thế có thể là một động lực tốt để giải quyết những bất cập trong các hợp đồng mua sắm công và hoạt động đấu thầu xuất phát từ tình trạng thiếu minh bạch hiện nay;

(v) Các tiêu chuẩn về lao động, môi trường. Về cơ bản những yêu cầu cao về vấn đề này có thể gây khó khăn cho Việt Nam nhưng xét một cách kỹ lưỡng một số tiêu chuẩn trong đó sẽ là cơ hội tốt để Việt Nam làm tốt hơn vấn đề bảo vệ môi trường (đặc biệt, trong đầu tư từ các nước đối tác TPP) và bảo vệ người lao động nội địa…

TPP đem đến một cơ hội “không thể bỏ lỡ” để Việt Nam có thể kết nối nền kinh tế của mình với Mỹ và các thành viên TPP khác. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với những thách thức sau: (i) Lĩnh vực pháp lý, hệ thống các quy định của Việt Nam nhìn chung chưa phát triển bằng những bên khác của TPP và việc đưa hệ thống quy định lên một mức tương xứng với các bên khác trong TPP là một thách thức lớn; (ii) Các ngành công nghiệp của Việt Nam cần tăng tính cạnh tranh nhập khẩu do mức thuế giảm. Có khả năng cam kết giảm thuế của Việt Nam sẽ thấp hơn một chút so với những nước khác, do vẫn là nước đang phát triển, song Việt Nam vẫn phải đối mặt với sự cạnh tranh nhập khẩu; (iii) Kinh tế Việt Nam được bảo hộ với đầu tư nước ngoài nhiều hơn và gắn kết với Chính phủ hơn bất cứ quốc gia TPP nào nên Việt Nam sẽ phải đối mặt với đòi hỏi từ các nước TPP về việc mở rộng cửa hơn nữa cho đầu tư nước ngoài ở những lĩnh vực như viễn thông và dịch vụ tài chính. Thỏa mãn những yêu cầu này sẽ là thách thức về mặt kinh doanh và chính sách công; (iv) Xây dựng hoàn thiện nền kinh tế thị trường; (v) Cải cách Luật lao động để đạt các tiêu chuẩn có thể chấp nhận được bởi các thành viên TPP...

Ngoài ra, còn có những thách thức từ những bất lợi tiềm tàng khi Việt Nam tham gia TPP: từ việc giảm thuế quan đối với hàng hóa từ các nước đối tác TPP; mở cửa các thị trường dịch vụ, với sự tham gia mạnh mẽ và tự do hơn của các nhà cung cấp có tiềm lực lớn, có kinh nghiệm lâu năm, có ưu thế về dịch vụ trên thế giới có thể khiến cho các đơn vị cung cấp dịch vụ của Việt Nam gặp khó khăn… Tuy nhiên, các vấn đề này nếu được TPP điều chỉnh cũng sẽ không làm hàng hóa Việt Nam bất lợi hơn so với hiện tại ở thị trường các nước TPP. Vì vậy, Việt Nam vẫn có thể có phương án để kết quả đàm phán không quá bất lợi cho hàng hóa Việt Nam khi xuất khẩu sang các thị trường đối tác TPP.

Bài học kinh nghiệm và một số khuyến nghị

Nhìn lại quá trình đàm phán, có thể rút ra những kinh nghiệm như: Việc nghiên cứu để đánh giá những tác động tích cực cũng như tiêu cực của TPP đối với nền kinh tế, các ngành, các sản phẩm quan trọng và các DN Việt Nam, cần được làm một cách sâu rộng, có tính toán đến bối cảnh của nước ta, đặc biệt là bối cảnh hội nhập, cạnh tranh quyết liệt trong khu vực và trên toàn cầu hiện nay và tương lai. Cần có sự tham vấn rộng rãi của các DN, các nhà nghiên cứu và các đối tượng liên quan trong xã hội. Đồng thời, tiến hành các biện pháp cải cách thể chế, tái cấu trúc kinh tế, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành, các sản phẩm, các DN. Đây là sự chuẩn bị quan trọng và cấp thiết để chúng ta có thể chủ động đối phó với những thách thức và tận dụng các cơ hội có thể mở ra khi tham gia TPP.

TPP dự kiến sẽ bao trùm cả những cam kết về những vấn đề xuyên suốt như sự hài hòa giữa các quy định pháp luật, tính cạnh tranh, vấn đề hỗ trợ phát triển DN nhỏ và vừa, chuỗi cung ứng, hỗ trợ phát triển…

Chúng ta nên tập hợp nhóm các chuyên gia trong những lĩnh vực chủ chốt nghiên cứu sửa đổi quy định, nhận diện những lĩnh vực mà các quy định hiện hành của Việt Nam chưa đáp ứng được tiêu chuẩn quốc tế. Quá trình này sẽ giúp cho các nhà thương thuyết nhận biết những điểm bị tụt hậu, cần thay thế để nâng quy định lên tiêu chuẩn chấp nhận được. Hơn nữa, khi đàm phán, các đại diện của Việt Nam sẽ thương thuyết với những đại diện được sự ủng hộ to lớn từ cộng đồng kinh doanh trong nước.

Công tác tuyên truyền cần được duy trì và đẩy mạnh với mục tiêu phổ biến quy tắc xuất xứ cho cộng đồng DN, hiệp hội ngành hàng để hàng hóa phù hợp tiêu chí xuất khẩu nhằm tận dụng tối đa các ưu đãi về thuế quan. Song song với công tác này, đòi hỏi các DN phải tổ chức, đổi mới phương thức kinh doanh, nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm, xác lập các liên kết từ sản xuất, phân phối đến tiêu dùng và xuất khẩu, hình thành các chuỗi cung ứng để có thể tạo được chỗ đứng vững chắc trong các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Các DN cũng cần chủ động tiếp cận, cập nhật thông tin đồng thời xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm, chuẩn bị nguồn cung cấp để đảm bảo nguyên liệu đầu vào có nguồn gốc hợp pháp và chất lượng tốt.

Cùng với thời gian, những vấn đề này đang được cải thiện dần, đã có những diễn đàn giữa các cơ quan quản lý nhà nước với các hiệp hội, DN, trao đổi về những vấn đề minh bạch trong quá trình đàm phán các hiệp định. Hy vọng rằng, trong tương lai gần, quá trình chuẩn bị, đàm phán, tham vấn ý kiến rộng rãi của các chủ thể có liên quan, sẽ được thực hiện một cách chủ động, minh bạch, khoa học, bài bản và cầu thị. Tuy nhiên, những cân nhắc tính toán nghiên cứu phải tính tới lợi ích của DN và cộng đồng nói chung.

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 6 – 2013

THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM