Vấn đề giám sát rủi ro của cơ quan quản lý nhà nước đối với các công ty chứng khoán

ThS. Nguyễn Thị Thu Hằng - Trường Cao đẳng Thương mại Đà Nẵng

(Taichinh) - Hoạt động của công ty chứng khoán đối mặt với nhiều rủi ro nên thường chịu sự quản lý và giám sát chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà nước thông qua việc ban hành các quy định pháp luật, thanh tra và xử lý những vi phạm... Thời gian qua, nhiều công ty chứng khoán bị đưa vào diện kiểm soát đặc biệt, chấm dứt hoạt động hoặc phải giải thể do không tuân thủ các quy định của Nhà nước.
Ở Việt Nam, pháp luật chứng khoán quy định tương đối đầy đủ về việc điều chỉnh tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán. Nguồn: Internet.Ở Việt Nam, pháp luật chứng khoán quy định tương đối đầy đủ về việc điều chỉnh tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán. Nguồn: Internet.

Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCK) đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đặt ra mục tiêu thu hẹp số lượng công ty chứng khoán (CTCK), nâng cao chất lượng dịch vụ của các CTCK tại Việt Nam và hướng đến việc hội nhập.

Đến thời điểm này, có thể nhận định rằng, về cơ bản, Việt Nam đã đạt được mục tiêu của công tác tái cơ cấu CTCK mà không gây sự xáo trộn trên thị trường. Đặc biệt, khung pháp lý, những cơ chế, chính sách cho hoạt động của CTCK đến nay đã hoàn thiện và đều được áp dụng theo thông lệ tốt của quốc tế.

Thống kê của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) cho thấy, từ 103 CTCK được thành lập từ trước năm 2012 thì đến tháng 6/2016 trên TTCK hiện chỉ còn 80 CTCK đang hoạt động. Như vậy, sau 4 năm thực hiện tái cấu trúc theo yêu cầu của Chính phủ và Bộ Tài chính, đã có nhiều CTCK phải sáp nhập, giải thể và đóng cửa.

Có thể nói, với một TTCK còn khá non trẻ như Việt Nam và do đặc điểm nhiều rủi ro trong hoạt động của CTCK có thể ảnh hưởng đến toàn thị trường, trong nhiều năm qua, cơ quan quản lý đã có nhiều biện pháp để quản lý và giám sát rủi ro hoạt động của các CTCK, cụ thể:

Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về quản lý và giám sát rủi ro của CTCK

Ra rời và hoạt động theo sự phát triển của TTCK, CTCK là trung gian tài chính kết nối giữa nhà đầu tư (NĐT) và các chủ thể khác trên thị trường. Như các loại hình DN khác, mục tiêu hoạt động của CTCK là tối đa hóa lợi nhuận, do vậy, các CTCK thường phải đối mặt với nhiều rủi ro, không chỉ gây thiệt hại bản thân các CTCK, cho NĐT mà có thể ảnh hưởng đến toàn bộ thị trường tài chính.

Rủi ro trong kinh doanh chứng khoán được hiểu là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến tổn thất về tài sản của CTCK, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành một hoạt động kinh doanh nhất định. Trong hoạt động kinh doanh của các CTCK thường gặp một số rủi ro như sau: Rủi ro hoạt động (còn gọi là rủi ro tác nghiệp hay rủi ro vận hành); Rủi ro tín dụng; Rủi ro thanh toán; Rủi ro thị trường; Rủi ro tuân thủ.

Ở Việt Nam, pháp luật chứng khoán quy định tương đối đầy đủ về việc điều chỉnh tổ chức và hoạt động của CTCK, đặc biệt là giám sát, quản lý rủi ro của các cơ quan quản lý nhà nước đối các CTCK. Cụ thể, Luật Chứng khoán ngày 29/6/2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán đã quy định, an toàn tài chính là một trong những nghĩa vụ mà CTCK phải thực hiện thông qua việc đảm bảo vốn khả dụng. CTCK phải thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro để có phương án xử lý kịp thời nhằm hạn chế những rủi ro.

Bên cạnh đó, Thông tư 226/2010/TT-BTC ngày 31/12/2010 của Bộ Tài chính về quy định chỉ tiêu an toàn tài chính và biện pháp xử lý đối với các tổ chứng kinh doanh chứng khoán không đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính và tiếp đó là Thông tư 165/2012/TT-BTC ngày 09/10/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 226/2010/TT-BTC cũng đã giúp các CTCK theo dõi sức khỏe tài chính của mình thường xuyên, làm cơ sở vững chắc cho mọi kế hoạch duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh của các CTCK.

Thông tư cũng quy định việc đặt tổ chức kinh doanh chứng khoán vào tình trạng kiểm soát đặc biệt trong các trường hợp sau: Tỷ lệ vốn khả dụng dưới 120% (bao gồm cả trường hợp tỷ lệ vốn khả dụng do công ty tự tính và tỷ lệ vốn khả dụng sau khi đã được soát xét, kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận); Không thực hiện báo cáo tỷ lệ an toàn tài chính trong hai kỳ báo cáo liên tiếp, hoặc không công bố thông tin về báo cáo tỷ lệ an toàn tài chính đã được soát xét, kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận theo quy định...

Sau khi hết thời hạn kiểm soát đặc biệt nếu tổ chức kinh doanh chứng khoán vẫn không khắc phục được tình trạng kiểm soát đặc biệt và có lỗ gộp (chỉ tiêu lợi nhuận chưa phân phối trên bảng cân đối kế toán) dưới 50% vốn điều lệ, hoặc không bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác theo quy định của pháp luật về DN, pháp luật về phá sản DN thì tổ chức kinh doanh chứng khoán phải tạm ngừng hoạt động.

Có thể nói, Thông tư 226/2010/TT-BTC đã phân loại các CTCK trên cơ sở kết quả tính toán tỷ lệ an toàn tài chính. Việc phân loại, bóc tách chỉ tiêu tài chính giúp Ban điều hành CTCK nắm rõ thực trạng tài chính của công ty mình từ đó có biện pháp khắc phục. Thông qua đó, cơ quan quản lý xác định các CTCK trong diện kiểm soát, kiểm soát đặc biệt để tập trung nguồn lực xử lý những CTCK yếu kém, đảm bảo hoạt động của hệ thống CTCK hoạt động được an toàn, lành mạnh.

Thông tư 210/2012/TT-BTC thay thế Quyết định 27/2007/QĐ-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thành lập và hoạt động CTCK, có hiệu lực từ 15/1/2013 cũng đưa ra nhiều điều kiện hoạt động của CTCK được siết chặt hơn. Trong đó, yêu cầu CTCK phải ban hành và thực hiện đầy đủ các quy trình nghiệp vụ nhằm bảo vệ hoạt động kinh doanh của các CTCK.

Để giảm thiểu rủi ro trong khi tác nghiệp, mọi hoạt động kinh doanh ở các bộ phận này phải được thực hiện trên cơ sở tuân thủ tuyệt đối các quy trình tác nghiệp nội bộ. Khi đó, quy trình quản trị rủi ro ra đời và đi kèm với quy trình kinh doanh để theo dõi và xử lý rủi ro.

Ngày 28/2/2013, UBCKNN cũng ra Quyết định số 105/QĐ-UBCK ban hành Quy chế hướng dẫn thiết lập hệ thống và thực hiện quản trị rủi ro cho CTCK nhằm đảm bảo ngăn chặn, hạn chế một cách hiệu quả những tổn thất do rủi ro gây ra. Quy trình quản trị rủi ro của một CTCK bao gồm các nội dung sau: Xác định rủi ro; Đo lường rủi ro; Theo dõi rủi ro; Báo cáo rủi ro; Xử lý rủi ro.

Sau khi đánh giá và tổng kết rủi ro, CTCK phải áp dụng các biện pháp xử lý thích hợp với những rủi ro gặp phải. Các bước cần thiết để lựa chọn và thực hiện các biện pháp xử lý rủi ro: Xác định các biện pháp ứng phó sẵn có; Đánh giá ưu và nhược điểm của mỗi biện pháp xử lý, trong đó có việc phân tích chi phí lợi ích, phân tích sử dụng ngân sách; Xây dựng kế hoạch xử lý, trong đó có trách nhiệm thực hiện kế hoạch, tiến độ thực hiện, kết quả dự báo, hoạch định và xem xét nguồn lực tài chính và thủ tục đánh giá; Thực hiện kế hoạch xử lý. Sau khi đã tiến hành xử lý rủi ro, nếu còn có các rủi ro chưa tính đến, các thủ tục tương ứng phải được lặp đi lặp lại cho đến khi rủi ro nằm trong mức độ có thể chấp nhận được.

Ngày 9/10/2013, UBCKNN tiếp tục ban hành Quyết định số 617/QĐ-UBCK về Quy chế hướng dẫn xếp loại CTCK theo tiêu chuẩn CAMEL nhằm phân loại, đánh giá một cách toàn diện hoạt động của các CTCK, trên cơ sở đó hỗ trợ cho UBCKNN trong công tác quản lý, giám sát hoạt động của các công ty này. Phân loại CTCK theo chuẩn CAMEL gồm 5 tiêu chí: Mức độ đủ vốn (C), chất lượng tài sản (A), chất lượng quản trị (M), khả năng sinh lời (E) và chất lượng thanh khoản (L).

Tiêu chí đánh giá năng lực quản trị của CTCK được xem xét tổng quát, từ kinh nghiệm đến mức độ ổn định của Ban lãnh đạo, mức độ tuân thủ trong việc lập và thực hiện các quy trình kiểm soát nội bộ CTCK. Đặc biệt, tính răn đe đối với các CTCK sẽ lớn hơn, khi CTCK phạm lỗi đến mức độ bị xử phạt không chỉ bị ảnh hưởng trực tiếp, mà còn bị mất điểm khi chấm yếu tố quản trị. Theo chuẩn CAMEL, CTCK buộc phải tốt đều ở cả 5 tiêu chí, nếu muốn được xếp hạng cao. Đây được xem là biện pháp hướng đến mục tiêu duy trì hoạt động an toàn, bền vững, hiệu quả cho các CTCK.

Ngoài ra, Đề án “Tái cấu trúc TTCK và các DN bảo hiểm” theo Quyết định số 1826/QĐ-TTg ngày 06/12/2012 trong đó đề cập tái cấu trúc CTCK. Cụ thể, phân loại các tổ chức kinh doanh chứng khoán và triển khai các giải pháp phù hợp để tái cấu trúc các tổ chức này. Trước mắt, ưu tiên các giải pháp tự tái cơ cấu, bao gồm tăng vốn; hợp nhất, sáp nhập, mua lại; thu hẹp phạm vi và địa bàn hoạt động, chấm dứt hoạt động...

Trường hợp không khắc phục được, rút bớt các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động, cho giải thể hoặc phá sản. Ban hành quy trình kiểm soát và quản lý rủi ro; Hệ thống đánh giá, giám sát theo tiêu chuẩn quốc tế; Hoàn thiện các quy định pháp lý, củng cố mô hình tổ chức và hoạt động các tổ chức kinh doanh chứng khoán.

Công tác kiểm tra và xử phạt đối với các CTCK

Để tăng cường công tác quản lý và giám sát hiệu quả hoạt động của các CTCK, trong giai đoạn 2011-2015, UBCKNN đã tổ chức nhiều đoàn kiểm tra các CTCK, rà soát lại các hoạt động nghiệp vụ, hệ thống quy trình, quy chế nội bộ, cơ cấu tổ chức, quản trị, cơ sở vật chất kỹ thuật và quản lý nhân sự, người hành nghề. Qua công tác kiểm tra, giám sát đánh giá tình hình hoạt động của các CTCK, UBCKNN đã có biện pháp chấn chỉnh kịp thời, xử phạt nghiêm các CTCK vi phạm quy định về chứng khoán và TTCK.

Năm 2011, qua quá trình thanh tra, kiểm tra đối với các tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán, dựa trên các tiêu chí: Điều kiện cấp phép, người hành nghề, hoạt động nghiệp vụ đã có 11 CTCK, công ty quản lý quỹ bị xử phạt do vi phạm liên quan nhiều đến dịch vụ tài chính, mở dịch vụ mới, đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính. Đặc biệt, năm 2011 cũng chứng kiến sự kiện Ban lãnh đạo của Chứng khoán SME (SME) bị bắt, vì công ty mất khả năng thanh toán, CTCK SME bị tạm ngừng hoạt động do không khắc phục được tình trạng kiểm soát đặc biệt và tỷ lệ lỗ gộp trên vốn điều lệ ở mức dưới 50%...

Năm 2012, một số CTCK bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt do không đáp ứng được chỉ tiêu an toàn tài chính theo quy định của Bộ Tài chính. Trong năm này, có 4 CTCK bị rút nghiệp vụ môi giới mà trên thực tế là rút giấy phép hoạt động, chỉ còn tồn tại pháp nhân để xử lý các khoản nợ.

Thống kê kết quả kinh doanh của các CTCK cho thấy, có trên 50% bị lỗ và trên 70% công ty có lỗ lũy kế. Dựa trên cơ sở báo cáo tỷ lệ vốn khả dụng của các CTCK, UBCKNN đã phân loại các CTCK thành 4 nhóm, trong đó 79 CTCK hoạt động lành mạnh, 8 CTCK hoạt động bình thường, 5 CTCK bị kiểm soát và 9 CTCK bị kiểm soát đặc biệt, 15 CTCK không còn hoạt động.

Đáng chú ý, năm 2012, Chứng khoán Tràng An (TAS) khi bị đình chỉ hoạt động 5 tháng, do không đáp ứng các điều kiện quy định về việc hướng dẫn thành lập và hoạt động CTCK. Ban lãnh đạo TAS bị bắt do có hành vi chiếm đoạt cổ phiếu và tiền cổ tức của trên 15.000 tài khoản khách hàng cá nhân, công ty lỗ hơn 2 tỷ trong quý II/2012 và lỗ lũy kế đến 30/09/3012 là 73 tỷ đồng, tiền mặt chỉ còn 401 triệu đồng.

Năm 2013, thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát thị trường, UBCKNN đã đưa 13 CTCK vào diện kiểm soát đặc biệt, 6 CTCK vào diện kiểm soát do không đảm bảo được chỉ tiêu an toàn tài chính. Trong số CTCK này, UBCKNN đã yêu cầu 3 CTCK mở thủ tục rút giấy phép hoạt động do không khắc phục được tình hình tài chính, 2 CTCK phải tạm dừng hoạt động.

Đã có 15 chi nhánh, 10 phòng giao dịch của CTCK phải đóng cửa; có trên 15 CTCK không còn thực hiện nghiệp vụ môi giới, 3 CTCK đang làm thủ tục giải thể, 2 CTCK đang trong quá trình hợp nhất. Thậm chí, năm 2013 lần đầu tiên trên TTCK đã có CTCK công bố giải thể. Ngày 19/12/2013, CTCK Sao Việt ghi danh CTCK đầu tiên tại Việt Nam được UBCKNN chấp thuận cho giải thể, thủ tục thực hiện theo Luật Doanh nghiệp do Công ty hoạt động không hiệu quả. Sau CTCK Sao Việt, CTCK Chợ Lớn được chấp nhận giải thể vào tháng 1/2014, CTCK Âu Việt vào tháng 9/2014.

Đến hết năm 2014, số lượng từ 105 CTCK giảm xuống chỉ còn 85 công ty hoạt động bình thường. UBCKNN đã xử lý 20 công ty, bao gồm đình chỉ hoạt động, giải thể, rút bớt nghiệp vụ, hoạt động mua bán sáp nhập; Xử lý 2 CTCK bị đình chỉ hoặc tạm ngừng hoạt động, 3 CTCK đang làm thủ tục giải thể và 4 CTCK đã chấm dứt hoạt động.

Những CTCK trên hầu hết đều làm ăn thua lỗ, bị xử phạt vì những vi phạm trong hoạt động kinh doanh, tạo nên ảnh hưởng tiêu cực trên TTCK. Ngoài ra, trong công cuộc thực hiện tái cơ cấu, nhiều CTCK đã bị rút nghiệp vụ môi giới chứng khoán như CTCK Thủ Đô, CTCK Đông Dương, CTCK Liên Việt…

Năm 2015, ngoài phối hợp với cơ quan công an trong đấu tranh phòng ngừa, phát hiện, điều tra làm rõ và xử lý các vi phạm, UBCKNN đã triển khai hệ thống giám sát thị trường, từng bước ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giám sát; Đồng thời, xây dựng được cơ sở dữ liệu nhằm chủ động hơn trong công tác giám sát hoạt động của các CTCK.

Việc kiểm tra và xử phạt đối với các CTCK nhằm yêu cầu CTCK thực hiện các hoạt động đúng với quy định đã ban hành, hạn chế rủi ro, từ đó tạo niềm tin cho khách hàng giao dịch qua công ty và các NĐT muốn trở thành cổ đông của các công ty này. Trong năm 2015, UBCKNN cũng đã tiến hành xử phạt một số CTCK vì những sai phạm trong hoạt động.

Quản lý và giám sát việc thiết lập, vận hành hệ thống quản trị rủi ro tại CTCK

UBCKNN đã ban hành Quy chế hướng dẫn thiết lập hệ thống và thực hiện quản trị rủi ro cho CTCK nhằm giúp các CTCK thiết lập và vận hành hệ thống quản trị rủi ro sao cho đảm bảo ngăn chặn, hạn chế tối thiểu những tổn thất do rủi ro gây ra. Tuy nhiên, nhiều CTCK vẫn sử dụng một cách hình thức, không tuân thủ nội dung của quy trình này. Do vậy, nhiều CTCK lớn trong thời gian qua rơi vào tình trạng rủi ro rất cao. Việc thanh tra các công ty vi phạm vừa qua cho thấy, những công ty này đều có hệ thống kiểm soát nội bộ, có quy trình giám sát rủi ro nhưng không được thực thi nghiêm túc.

Một số trường hợp, quy trình chỉ nằm trên giấy, một số khác thì người điều hành thao túng luôn cả hệ thống quản trị rủi ro. Trường hợp điển hình của việc bỏ qua các quy định quản lý rủi ro và tự đưa DN vào vị thế rủi ro cao vừa qua là việc cắt lỗ, thanh toán các danh mục đầu tư kém hiệu quả, các dịch vụ đòn bẩy, hợp tác kinh doanh thiếu kiên quyết.

Theo quy định, CTCK phải đảm bảo công tác quản trị rủi ro được thực hiện độc lập, khách quan, trung thực, thống nhất và phải được thể hiện bằng văn bản. CTCK phải đảm bảo các bộ phận tác nghiệp và bộ phận quản trị rủi ro được tổ chức tách biệt và độc lập với nhau. Người phụ trách bộ phận tác nghiệp không đồng thời phụ trách bộ phận quản trị rủi ro và ngược lại.

Tuy nhiên, yếu tố then chốt cho tính hiệu quả của hoạt động của các CTCK chính là ở tính tuân thủ, sự phân cấp trách nhiệm và tính độc lập của các bộ phận quản lý rủi ro. Các CTCK đã không thực hiện đúng quy trình đã đề ra. Các CTCK đều chưa xây dựng được hệ thống cảnh báo sớm, để nhận diện thông tin cảnh báo các rủi ro mới có thể ảnh hưởng lớn đến công ty; hoặc theo dõi các thay đổi rủi ro và báo cáo kịp thời các thất bại kiểm soát…

Một số giải pháp

Với sự quyết liệt của cơ quan quản lý, trong thời gian qua, việc tuân thủ các quy định về quản lý rủi ro của các CTCK phần nào được cải thiện. Trong thời gian tới, việc triển khai tái cấu trúc nói chung và quản lý, giám sát rủi ro của các CTCK nói riêng sẽ còn phải quyết liệt hơn nữa nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của TTCK. Tuy nhiên, trong thời gian tới cần chú trọng một số vấn đề sau:

Một là, tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật theo hướng nâng cao các điều kiện thành lập và duy trì hoạt động của CTCK. Với vai trò là đầu mối quản lý và giám sát rủi ro đối với các CTCK, UBCKNN cần tiếp tục chỉ đạo thu hẹp nghiệp vụ cấp phép đối với các CTCK có năng lực tài chính hạn chế, rủi ro về an toàn tài chính cao. Khuyến khích các công ty sắp xếp lại trên cơ sở tự nguyện sáp nhập, hợp nhất, mua lại nhưng phải đảm bảo quyền lợi hợp pháp của NĐT mở tài khoản tại công ty. Các CTCK rơi vào tình trạng “kiểm soát đặc biệt” phải áp dụng các chế tài mạnh như: Không được vay nợ, không được cung cấp dịch vụ tài chính cho NĐT…

Hai là, nâng cao năng lực quản lý, hoạch định chính sách, hoạt động giám sát nhằm đảm bảo cho thị trường phát triển lành mạnh; Kịp thời đưa ra các dự báo, đánh giá và cảnh báo về các yếu tố bất thường của thị trường, từ đó đề xuất các giải pháp hữu hiệu hỗ trợ việc phòng ngừa rủi ro trong hoạt động của CTCK. Tiếp tục hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước, nghiên cứu tách bộ phận giám sát thành hệ thống độc lập, giao trách nhiệm và quyền hạn cụ thể cho bộ phận này quản lý và giám sát từng hoạt động của các CTCK.

Ba là, yêu cầu các CTCK thực hiện tốt việc thiết lập và vận hành hệ thống quản trị rủi ro tại CTCK. Tăng cường kiểm tra việc thực hiện quản trị rủi ro của các CTCK nhằm hạn chế trường hợp các công ty này lập nên quy trình quản trị rủi ro chỉ để “đối phó” với các cơ quan quản lý, hoặc áp dụng một cách hình thức, thiếu hiệu quả.

Bốn là, tăng cường công tác quản lý hoạt động của CTCK, đảm bảo tính tuân thủ trong hoạt động của CTCK thông qua việc tăng các chế tài xử phạt để đủ sức răn đe các trường hợp vi phạm. Trong trường hợp CTCK vi phạm, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà đầu tư và TTCK, cần xử phạt nghiêm theo đúng quy định của pháp luật.

Tài liệu tham khảo:

1. Quốc hội, Luật số 62/2010/QH12 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 ngày 24/11/2010;

2. Bộ Tài chính (2010), Thông tư số 226/2010/TT-BTC quy định chỉ tiêu an toàn tài chính và biện pháp xử lý đối với các tổ chứng kinh doanh chứng khoán không đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính ngày 31/12/2010;

3. Bộ Tài chính (2012), Thông tư số165/2012/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 226/2010/TT-BTC ngày 31/12/2010 về Quy định chỉ tiêu an toàn tài chính và biện pháp xử lý đối với các tổ chứng kinh doanh chứng khoán không đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính ngày 09/10/2012;

4. UBCKNN (2012), Quyết định số 105/QĐ-UBCK ban hành Quy chế hướng dẫn thiết lập hệ thống và thực hiện quản trị rủi ro cho CTCK ngày 28/2/2013;

5. UBCKNN (2013), Quyết định số 617/QĐ-UBCK ban hành Quy chế hướng dẫn xếp loại CTCK theo tiêu chuẩn CAMEL ngày 9/10/2013;

6. Đề án “Tái cấu trúc TTCK và các DN bảo hiểm theo Quyết định số 1826/QĐ-TTg ngày 06/12/2012.

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính kỳ II, số tháng 7/2016

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục