Xung quanh "hiện tượng" xuất khẩu rau quả Việt

(Taichinh) - Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT), giá trị xuất khẩu của ngành hàng rau quả 8 tháng vừa qua tăng gần 130% so với cùng kỳ năm 2015. Đây là mức tăng trưởng có giá trị lớn nhất trong tất cả các mặt hàng nông, lâm, thủy sản xuất khẩu (XK).
Ảnh minh họa. Nguồn: InternetẢnh minh họa. Nguồn: Internet

Bước tiến chuyên canh hàng hóa

Theo Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Quốc Doanh, thời gian vừa qua, ngành rau quả gặt hái được những kết quả xuất khẩu rất ấn tượng. Dự báo năm 2016, kim ngạch xuất khẩu rau quả sẽ cán mức 2,5 tỷ USD, có thể lần đầu vượt qua kim ngạch XK lúa gạo. “Trong mấy chục năm qua, chúng ta quan tâm rất nhiều đến lúa gạo mà chưa chú trọng đến rau quả. Dư địa phát triển của lĩnh vực rau quả còn lớn, cần được tập trung thúc đẩy nhiều hơn”, ông Doanh đánh giá.

Theo ước tính của Bộ NN&PTNT, hiện nay toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện có trên 288.000 ha cây ăn quả các loại, cho sản lượng mỗi năm trên 3,18 triệu tấn quả để phục vụ tiêu dùng và XK. Các loại trái cây chủ lực bao gồm: Thanh long, xoài, chôm chôm, sầu riêng, vú sữa, bưởi, nhãn, cam và quýt, tập trung nhiều nhất tại các tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Bến Tre, Đồng Tháp và Hậu Giang.

Từ năm 2000 trở lại đây, tiềm năng kinh tế vườn của đồng bằng sông Cửu Long được phát huy, theo đó việc canh tác cây ăn trái đã được người dân áp dụng tiến bộ khoa hoc, kỹ thuật. Nhờ vậy sản lượng, chất lượng trái cây có tăng lên, hình thành được một số vùng chuyên canh trái cây đặc sản hàng hóa tập trung gồm: Xoài cát Hòa Lộc ở Tiền Giang và TP. Cần Thơ, xoài Cát Chu ở Đồng Tháp, bưởi Năm Roi ở Vĩnh Long, Hậu Giang và Sóc Trăng, bưởi da xanh ở Bến Tre, quýt Hồng Lai Vung ở Đồng Tháp, thanh long ở Tiền Giang và Long An, vú sữa Lò Rèn ở Tiền Giang, dứa Queen ở Tiền Giang, Kiên Giang và Hậu Giang...

Hơn 10 năm trở lại đây, XK rau quả nói chung, đặc biệt là mặt hàng trái cây ghi nhận sự gia tăng nhanh chóng. Nếu như năm 2005, rau quả Việt Nam mới được XK tới 36 nước và vùng lãnh thổ, đạt kim ngạch trên 235 triệu USD, thì đến năm 2015, số thị trường XK đã tăng lên hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ, kim ngạch XK cũng không chịu thua kém khi chạm mức trên 1,8 tỷ USD, tăng 123% so với năm 2014 và tăng 782,13% so với năm 2005.

Trong số đó, trái cây XK chiếm trên 70%. 2015 cũng là năm đánh dấu kim ngạch XK rau quả cao nhất từ trước đến nay. Vẫn trên đà đi lên, bước sang 7 tháng đầu năm 2016, kim ngạch XK rau quả cả nước đã đạt 1,385 tỷ USD, tăng 135,5% so với cùng kỳ năm 2015.

Ngoài các thị trường XK truyền thống, dù khó khăn song Việt Nam đã tích cực mở mới nhiều thị trường, đặc biệt là những thị trường “khó tính” như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Canada, Australia, New Zealand...

Tại đồng bằng sông Cửu Long, sản xuất cây ăn trái theo quy trình thực hành nông nghiệp tốt (GAP) được đặc biệt quan tâm nhằm đáp ứng yêu cầu XK. Nhiều mô hình sản xuất theo VietGAP, GlobalGAP đã được thực hiện và chứng nhận trên chôm chôm, bưởi da xanh ở Bến Tre, bưởi Năm Roi ở Vĩnh Long, vú sữa Vĩnh Kim, xoài cát Hòa Lộc, khóm (dứa) ở Tiền Giang, xoài ở Đồng Tháp...

Thách thức với rào cản kỹ thuật cao nhất

Về những rào cản kỹ thuật của nhập khẩu nông sản, thường chỉ cần nghiên cứu kỹ và áp dụng đúng theo các tiêu chuẩn đã được quốc tế công nhận thì có thể ung dung tiến vào thị trường nước bạn. Tuy nhiên, ngành hàng thực vật, đặc biệt là rau quả, thì không phải vậy.

Theo ông Hoàng Trung, Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT) cho biết: “Mỗi nước có điều kiện khí hậu khác nhau nên sẽ có cơ cấu cây trồng khác nhau. Chính vì vậy, hầu như không có nước nào “liên thông” việc kiểm dịch thực vật. Điều này cũng được quy định rõ ngay cả trong công ước quốc tế.

Cũng chính vì quy định này nên song song với các tiêu chuẩn kỹ thuật giúp nhập khẩu rau quả an toàn, nhiều nước đã lập nên những rào cản kỹ thuật để bảo hộ các mặt hàng trồng trọt trong nội địa. Trong hội nhập sâu, nhất là khi tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), lộ trình thuế suất giảm dần cũng đồng nghĩa với việc các rào cản kỹ thuật như điều kiện kiểm dịch, an toàn thực phẩm sẽ tăng lên.

“Đây là một trong những khó khăn nổi cộm trong XK trái cây. Hồ sơ một loại trái cây để được một quốc gia chấp nhận nhanh thì mất 1 năm, còn trung bình khoảng 3-4 năm, thậm chí lâu hơn có thể mất tới cả 10 năm”, ông Trung nhấn mạnh.

Giá thành và chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm đối với nhóm quả tươi XK hiện nay là thách thức lớn trong XK. Riêng đối với TPP, trong số 12 nước tham gia TPP thì khá nhiều nước thuộc thị trường “khó tính” đối với việc nhập quả tươi, nổi bật là Mỹ, Nhật Bản, Australia, New Zealand. Yêu cầu rau quả xuất đi nhóm thị trường này là phải sản xuất theo VietGAP, tuân thủ không sử dụng một số nhóm thuốc trừ dịch hại nhất định.

Để kim ngạch XK rau quả tiếp tục tăng trưởng mạnh, theo ông Hoàng Trung, song song với kiểm soát chất lượng trồng trọt rau quả tại nội địa, chúng ta cần bám sát các quy định nhập khẩu của các thị trường, không chỉ đơn thuần là tuân thủ mà những rào cản kỹ thuật có chiều hướng thương mại đã được tính toán đàm phán để mở cửa thị trường nhanh nhất, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tiến sâu vào sân chơi giàu tiềm năng về kinh tế này.

Theo Báo Điện tử Chính phủ

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục