VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng
Giới thiệu tòa soạn Hotline: 0987 828 585
Ngăn ngừa, xử lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại ở  CHDCNN Lào: thực trạng và giải pháp

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

Ngăn ngừa, xử lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại ở CHDCNN Lào: thực trạng và giải pháp

Xử lý nợ xấu, nợ tồn đọng gắn liền với việc lành mạnh hóa tài chính nói chung và tăng vốn tự có để nâng cao năng lực tài chính của ngân hàng thương mại là nhiệm vụ đặt ra với tất cả các ngân hàng nói chung và các ngân hàng thương mại tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân (CHDCND) Lào nói riêng. Bài viết khái quát thực trạng ngăn ngừa và xử lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại ở CHDCND Lào và đề xuất một số định hướng trong công tác quản lý nợ xấu trong thời gian tới.

Đặc trưng của văn hóa tổ chức trong các ngân hàng thương mại cổ phần

Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ và phân khúc khách hàng cao cấp tại các ngân hàng thương mại

Tác động của các thành phần năng lực cạnh tranh đến kết quả hoạt động của ngân hàng thương mại

Nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Thực trạng xử lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại ở CHDCND Lào

Theo Quyết định số 512/NHNN ngày 29/06/2018 của Ngân hàng CHDCND Lào về việc phân cấp nợ và mức trừ tiền dự trù đối với nợ có phân cấp của ngân hàng thương mại (NHTM), có 5 nhóm nợ gồm:

Nợ cấp 1 (bình thường): Thanh toán cả gốc lẫn lãi đúng theo hợp đồng hoặc chậm thanh toán không quá 30 ngày;

Nợ cấp 2 (cần lưu ý): Nợ chậm thanh toán cả gốc lẫn lãi từ 30 ngày nhưng chưa đến 90 ngày;

Nợ cấp 3 (thấp hơn tiêu chuẩn): Chậm thanh toán từ 90 ngày nhưng chưa đến 180 ngày;

Nợ cấp 4 (nợ khả nghi): Nợ chậm thanh toán từ 180 ngày nhưng chưa đến 360 ngày;

Nợ cấp 5 (nợ không đòi được): Chậm thanh toán từ 360 ngày trở đi.

Theo Ngân hàng CHDCND Lào, nhìn chung, tỷ lệ nợ xấu của toàn bộ hệ thống NHTM tăng đều qua các năm, từ năm 2011 là 2,18% đến năm 2017 là 3,07% (Bảng 2). Con số này cho thấy, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ có xu hướng tăng qua các năm, mặc dù tỷ lệ này vẫn còn thấp so với chuẩn dưới 5% mà Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đặt ra.

Ngăn ngừa, xử lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại ở  CHDCNN Lào: thực trạng và giải pháp  - Ảnh 1

Trong đó, một số thống kê của Ngân hàng CHDCND Lào cho thấy, nợ quá hạn trung, dài hạn tăng nhanh là do các NHTM Lào tập trung cho vay một số dự án lớn; khi khách hàng kinh doanh không hiệu quả, những món vay trung, dài hạn thường có giá trị lớn, khiến nợ quá hạn tăng nhanh. Khoản vay trung hạn thường chia thành nhiều kỳ trả nợ; khi khách hàng không trả nợ được một kỳ, toàn bộ dư nợ của khách hàng bị chuyển quá hạn. Cán bộ tín dụng định kỳ hạn trả nợ chưa sát với chu kỳ kinh doanh hay không theo dõi giám sát chặt chẽ khoản cho vay, khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích.

Nhìn chung, chất lượng tín dụng của hệ thống NHTM trong thời gian qua tương đối ổn định, hoạt động tín dụng tương đối hiệu quả. Tuy nhiên, nợ quá hạn tăng lên cho thấy, đồng vốn chưa được khai thác tốt, nói lên yếu kém của NHTM khi cho vay ra. Mặt khác, khách hàng chưa sử dụng vốn hiệu quả, không trả được nợ, gây rủi ro tín dụng cho NHTM.

Để ngăn ngừa và xử lý nợ xấu, trong thời qua, các NHTM tại Lào đã thực hiện nhiều biện pháp như:

Một là, xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng (RRTD).

Nhiều NHTM Lào đã bắt đầu quan tâm đến hoạt động quản lý rủi ro tín dụng (RRTD) nói chung và quản lý nợ xấu nói riêng thông qua việc xây dựng mô hình quản lý RRTD; đồng thời, ban hành sổ tay tín dụng, cẩm nang tín dụng và đưa ra khung quản lý RRTD. Đặc biệt, từ năm 2008 trở đi, khi nợ xấu đặc biệt tăng cao ở một số NHTM nhà nước do triển khai cách phân loại nợ mới, một số ngân hàng đã chú trọng và tìm tòi việc xây dựng mô hình quản lý RRTD mới. Nhiều ngân hàng đã thuê chuyên gia tư vấn để lựa chọn các mô hình quản lý cho mình.

Hai là, tăng cường hoạt động kiểm tra, kiểm soát.

Hoạt động kiểm tra, kiểm soát cũng được các NHTM Lào được thực hiện nghiêm túc và đồng bộ. Tại Hội sở chính, các ngân hàng đều có ban kiểm tra, kiểm toán nội bộ; tại các chi nhánh, có phòng kiểm tra kiểm toán nội bộ. Hệ thống kiểm tra nội bộ chuyên trách và các cán bộ có khả năng hoạt động độc lập với các bộ phận nghiệp vụ và được độc lập đánh giá, kết luận, kiến nghị trong hoạt động kiểm tra, kiểm toán. Điều này giúp ngân hàng phát hiện được các sai lầm từ phía ngân hàng để phòng ngừa kịp thời.

Trong công tác quản lý nợ xấu, các ngân hàng đều thực hiện việc kiểm soát trước và trong khi cho vay: Áp dụng nghiêm túc quy chế và quy trình cho vay; Phân tích chất lượng tín dụng và phân loại các khoản vay theo quy định của Ngân hàng Nhà nước để đề xuất kế hoạch kiểm tra, phòng ngừa và xử lý RRTD; Sau khi cho vay, các ngân hàng cũng kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng vốn vay của khách hàng.

Ba là, thực hiện các biện pháp xử lý nợ xấu.

Nhóm các biện pháp khai thác nợ gồm: (1) Cho vay tiếp để duy trì hoạt động; (2) Cơ cấu lại thời hạn trả nợ; (3) Giảm/miễn lãi; và nhóm các biện pháp thanh lý nợ: (1) Xử lý tài sản để thu nợ; (2) Bán nợ; (3) DNNN tái cơ cấu theo Đề án của Chính phủ; (4) Khởi kiện; (5) Xử lý từ quỹ dự phòng rủi ro. Bên cạnh đó, các ngân hàng đã tổ chức phân tích, đánh giá khả năng thu hồi nợ đối với từng khoản nợ xấu của các chi nhánh có tỷ lệ nợ xấu cao và giao chỉ tiêu thu hồi nợ xấu cụ thể cho từng chi nhánh.

Nhìn chung, quy mô nợ xấu không tăng mạnh là nhờ Ngân hàng CHDCND Lào và các NHTM Lào đã chủ động triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm quản lý nợ xấu, trong đó 3 giải pháp chủ yếu có tác động tích cực là giữ nguyên nhóm nợ với những khoản nợ được cơ cấu lại, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu và bán nợ xấu.

Tuy nhiên, hoạt động quản lý nợ xấu của các NHTM tại Lào vẫn đang tồn tại một số hạn chế như sau:

- Nhận biết và đo lường nợ xấu chưa chính xác: Theo con số về nợ xấu được công bố bởi các NHTM Lào thì tỷ lệ nợ xấu các ngân hàng luôn duy trì ở mức dưới 5%, đạt ngưỡng an toàn theo khuyến cáo của IMF. Tuy nhiên, các tổ chức tài chính quốc tế cũng như các tổ chức đánh giá và xếp hạng tín nhiệm có uy tín trên thế giới như Moody’s, Fitch Rating khẳng định rằng, tỷ lệ nợ xấu của hệ thống các NHTM Lào không thể dưới ngưỡng 12%, thậm chí có những ngân hàng tỷ lệ này còn lên đến 30%. Điều này cho thấy, vẫn tồn tại sự đánh giá khác biệt trong cách tính toán của các tổ chức tín dụng trong nước và quốc tế. Các NHTM Lào chủ yếu mới chỉ đánh giá và đo lường rủi ro theo phương pháp đo lường rủi ro định tính.

- Hạn chế trong hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ của ngân hàng: Mặc dù, một số NHTM Lào bắt đầu áp dụng mô hình kiểm tra, kiểm soát kép nhưng hiện nay vẫn còn số lượng lớn các NHTM Lào áp dụng theo mô hình kiểm soát đơn, chỉ hoàn toàn dựa vào hoạt động kiểm tra kiểm soát nội bộ của chính các ngân hàng và sự giám sát bên ngoài của Ngân hàng Nhà nước mà không có sự giám sát của các cơ quan kiểm toán bên ngoài hay sự giám sát của thị trường. Việc duy trì mô hình kiểm soát đơn như vậy ngày càng bộc lộ nhiều điểm yếu.

- Hoạt động xử lý nợ chưa hiệu quả: Hiện nay, phương pháp được sử dụng chủ yếu vẫn là sử dụng dự phòng RRTD để bù đắp tổn thất. Tại các NHTM, phương pháp này chiếm khoảng 40%. Các phương pháp khác như truy đòi nợ trực tiếp từ khách hàng vẫn chỉ chiếm một tỷ lệ rất hạn chế. Điều này cho thấy, hoạt động xử lý nợ của các NHTM ở Lào vẫn chưa thực sự có hiệu quả. Việc thường xuyên sử dụng quỹ dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu sẽ khiến lợi nhuận trong tương lai của ngân hàng bị ảnh hưởng, từ đó kéo theo những hệ quả xấu trong hoạt động kinh doanh và giảm lợi thế cạnh tranh trên thị trường.

Định hướng trong công tác quản lý nợ xấu tại các NHTM ở Lào

Ngân hàng CHDCND Lào đặt ra một số chỉ tiêu trong thời gian tới, cụ thể như sau:

- Mức tăng trưởng tín dụng: Đảm bảo mục tiêu tăng trưởng tín dụng đáp ứng yêu cầu kiểm soát an toàn, tranh thủ thời cơ phát triển của nền kinh tế và yêu cầu cơ cấu lại tài sản của hệ thống NHTM Lào, định hướng mức tăng trưởng bình quân 20% giai đoạn 2020 – 2030;

- Tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn: Tăng cường kiểm soát quy mô tín dụng trung và dài hạn, tách chỉ tiêu cho vay dài hạn để kiểm soát. Phấn đấu trong giai đoạn 2020 - 2030, tỷ trọng tín trung và dài hạn trên tổng dư nợ <= 40%;

- Tỷ trọng dư nợ có tài sản đảm bảo: Thực hiện tăng cường cho vay có tài sản đảm bảo, nâng cao chất lượng tính thanh khoản của tài sản đảm bảo, xác định cơ cấu cho vay có tài sản đảm bảo phù hợp với chính sách khách hàng, tỷ trọng cho vay có tài sản đảm bảo chiếm 80% tổng dư nợ;

- Tỷ lệ cơ cấu tín dụng theo ngành kinh tế: Giảm tập trung quá lớn vào một số ngành, ưu tiên đầu tư vào những ngành có tiềm năng, ổn định và ít rủi ro. Ưu tiên những ngành được Chính phủ quan tâm, hạn chế những ngành có tiềm ẩn rủi ro; Đẩy mạnh cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, mở rộng cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Ngăn ngừa, xử lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại ở  CHDCNN Lào: thực trạng và giải pháp  - Ảnh 2

Với định hướng phát triển hoạt động cho vay tăng cao cả về số lượng và chất lượng, các NHTM tại Lào sẽ phải đối mặt nhiều hơn với nguy cơ nợ xấu gia tăng. Để thực hiện các định hướng mà Ngân hàng CHDCND Lào đã đề ra, đồng thời đảm bảo an toàn vốn vay, nâng cao chất lượng cho vay và công tác quản lý tín dụng, theo tác giả, công tác quản lý nợ xấu trong hoạt động tín dụng của các NHTM tại Lào trong thời gian tới cần theo hướng như sau:

Thứ nhất, trong kế hoạch dài hạn đến năm 2030, Ngân hàng CHDCND Lào đặt mục tiêu phấn đấu tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ của các ngân hàng là dưới 4% theo tiêu chuẩn kiểm toán quốc tế.

Thứ hai, ban giám đốc các ngân hàng phải nâng cao nhận thức, cân nhắc và ra quyết định hợp lý trong mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng, lợi nhuận tiềm năng và nợ xấu ngân hàng. Bởi vậy, phải dựa trên cơ sở chấp hành nghiêm túc mọi quy định, hướng dẫn của ngân hàng trong việc hạn chế nợ xấu.

Thứ ba, chú trọng nâng cao chất lượng tín dụng, kiểm soát chặt chẽ quá trình giải ngân và thu nợ, từng bước giảm dần nợ xấu. Chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu tín dụng theo hướng: Tăng cường tỷ lệ cho vay có tài sản đảm bảo, giảm dần dư nợ cho vay theo chỉ định, hạn chế cho vay các ngành và lĩnh vực có rủi ro cao như chứng khoán, bất động sản...; Thực hiện hoạt động phân tán rủi ro, không tập trung cho vay quá nhiều vào một ngành hàng, lĩnh vực, doanh nghiệp mà phải mở rộng, đa dạng hóa cho vay nhằm đa dạng hóa và giảm thiểu rủi ro; Lựa chọn các khách hàng có tình hình tài chính lành mạnh, kết quả sản xuất kinh doanh ổn định, phương án vay khả thi và có định hướng phát triển tốt. Duy trì quan hệ với các khách hàng truyền thống có uy tín tốt, mở rộng tìm kiếm các khách hàng tiềm năng phù hợp với tiêu chí và mục tiêu của ngân hàng.

Thứ tư, chủ động đề xuất lộ trình, kế hoạch cụ thể cho công tác hạn chế nợ xấu, không để phát sinh các lỗi tác nghiệp liên quan đến công tác hạn chế nợ xấu.

Thứ năm, tận thu và xử lý có lộ trình đối với các khoản nợ xấu đã được xử lý, đảm bảo thu hồi vốn cho ngân hàng.

Thứ sáu, chủ động phối hợp với các phòng, ban nghiệp vụ liên quan kịp thời giải đáp những vướng mắc về cơ chế liên quan đến nợ xấu… Các chi nhánh cần tham khảo các phòng, ban nghiệp vụ liên quan tại trụ sở chính trước khi tác nghiệp hoặc có văn bản trình hội sở chính để có biện pháp hỗ trợ.

Thứ bảy, ban kiểm tra, kiểm soát nội bộ, bộ phận quản lý nợ xấu tại chi nhánh giám sát quá trình quản lý nợ xấu của từng chi nhánh, báo cáo ban lãnh đạo những trường hợp thực hiện không nghiêm túc để có biện pháp xử lý.

Thứ tám, chấn chỉnh, giáo dục cán bộ, nâng cao ý thức trách nhiệm trong công việc; xử lý nghiêm khắc cán bộ có sai phạm.

Tài liệu tham khảo:

1. Ngân hàng CHDCND Lào (2018), Quyết định số 512/NHNN ngày 29/06/2018 về việc phân cấp nợ và mức trừ tiền dự trù đối với nợ có phân cấp của ngân hàng thương mại;

2. Ngân hàng CHDCND Lào (2011-2017), Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của hệ thống NHTM Lào giai đoạn 2011-2017;

3. Phan Thị Quỳnh Anh, Giải pháp quản lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại, tapchitaichinh.vn;

4. Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) và Ngân hàng KasikornBank Thái Lan, Hội thảo "Quản lý nợ xấu: Bài học từ quá khứ và hướng tới tương lai”, tháng 12/2017.

THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM