Doanh nghiệp Việt Nam phải làm gì khi tham gia TPP?

TS. Nguyễn Thị Tường Anh - Đại học Ngoại thương

(Taichinh) -
(Tài chính) Không nằm ngoài xu thế hội nhập, trong những năm qua, Việt Nam đã tăng cường đàm phán, ký kết tham gia nhiều hiệp định quốc tế với kỳ vọng gia tăng cơ hội phát triển. Hiệp định Kinh tế Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) là một trong những hiệp định nằm trong chiến lược phát triển, hội nhập của Việt Nam. Vậy khi tham gia vào Hiệp định này, Việt Nam sẽ gặp phải những cơ hội và thách thức gì? Các doanh nghiệp cần làm gì để tận dụng được cơ hội, vượt qua thách thức mà Hiệp định này mang lại?

Một số vấn đề đặt ra

Thứ nhất, TPP là Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới: Về nguyên tắc, các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đòi hỏi các cam kết mở cửa sâu hơn các cam kết mở cửa thương mại thông thường. Quá trình hội nhập và toàn cầu hóa hoạt động thương mại trên thế giới đã chứng kiến 03 thế hệ các FTA, bắt đầu từ các FTA thế hệ thứ nhất tập trung vào tự do hóa lĩnh vực thương mại hàng hóa (cắt giảm thuế quan, loại bỏ các rào cản phi thuế). FTA thế hệ thứ hai với việc mở rộng phạm vi tự do hóa sang các lĩnh vực dịch vụ nhất định (xóa bỏ các điều kiện tiếp cận thị trường trong các lĩnh vực dịch vụ liên quan) và FTA thế hệ thứ ba tiếp tục mở rộng phạm vi tự do về dịch vụ đầu tư. Đặc biệt, gần đây, các FTA có sự tham gia của Hoa Kỳ đã chứng kiến một xu hướng mới trong đàm phán và ký kết. Không chỉ có những lĩnh vực truyền thống là thương mại mở cửa mà cả những vấn đề phi thương mại như lao động, môi trường cũng được đưa vào hiệp định.

Là hiệp định mới nhất được đàm phán trong thời gian này, rõ ràng TPP sẽ không nằm ngoài xu hướng nói trên. Phạm vi của TPP, là sẽ rất rộng, rất phức tạp với các vấn đề thương mại và phi thương mại đan xen.

Thứ hai, TPP là sự phát triển của P4: Với nền tảng là hiệp định P4 (Hiệp định ký kết vào ngày 03/6/2005, có hiệu lực từ ngày 28/05/2006 giữa 4 quốc gia Singapore, Chile, New Zealand và Brunei. Hiệp định này lấy tên là Pacific - 4 (P4)), TPP sẽ mở rộng các lĩnh vực cam kết mà Hiệp định P4 đã đề cập. Trong khi P4 đã có cam kết mạnh về thuế quan và nhiều vấn đề phi thuế quan như xuất xứ hàng hóa, các biện pháp phòng vệ thương mại, các biện pháp vệ sinh dịch tễ, hàng rào kỹ thuật đối với thương mại, sở hữu trí tuệ, mua sắm công, chính sách cạnh tranh, các vấn đề phi thương mại như lao động, môi trường thì Hiệp định TPP chắc chắn sẽ có phạm vi rộng hơn nhiều.

Thứ ba, TPP là FTA của thế kỷ XXI: Tham gia đàm phán TPP, Mỹ tuyên bố TPP sẽ tạo ra một chuẩn mới cho các FTA của thế kỷ XXI. Rõ ràng đây không phải là một tuyên bố hình thức khi nhìn vào các FTA mà Mỹ đàm phán trong thời gian gần đây. Đó là FTA với Panama, Colombia và đặc biệt là FTA với Hàn Quốc. Mong muốn đằng sau tuyên bố này là Mỹ sẽ cố gắng để TPP có phạm vi lớn nhất có thể và ở mức độ mở cửa rộng nhất có thể.

Những yếu tố trên là căn cứ để nhiều chuyên gia cho rằng, TPP sẽ có phạm vi điều chỉnh rộng với xu hướng đàm phán tự do mạnh mẽ, cụ thể:

- Về thuế quan, cắt giảm hầu hết các dòng thuế (ít nhất 90%) đặc biệt là các loại thuế xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên, thực hiện ngay hoặc thực hiện với lộ trình rất ngắn.

- Về dịch vụ, tăng mức độ mở cửa các lĩnh vực dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ tài chính.

- Về đầu tư, tăng cường các quy định liên quan đến đầu tư nước ngoài và bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư.

- Về quyền sở hữu trí tuệ, tăng mức độ bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ cao hơn so với mức trong WTO.

- Về các biện pháp SPS, TBT, siết chặt các yêu cầu về vệ sinh dịch tễ và rào cản kỹ thuật.

- Về cạnh tranh và mua sắm công, tăng cường cạnh tranh, đặc biệt trong lĩnh vực mua sắm công.

- Về các vấn đề lao động, đặc biệt là các vấn đề về quyền lập hội (công đoàn), quyền tập hợp và đàm phán chung của người lao động, quy định cấm sử dụng mọi hình thức lao động cưỡng bức, quy định cấm khai thác lao động trẻ em, quy định không phân biệt đối xử trong lực lượng lao động.

Cơ hội và thách thức với doanh nghiệp Việt Nam

Sự tham gia tích cực và sâu rộng vào quá trình toàn cầu hóa kinh tế trong thời gian qua đã mang lại những kết quả khả quan cho nền kinh tế Việt Nam. Riêng với Hiệp định TPP, khi tham gia đàm phán và ký kết, theo tính toán, GDP của Việt Nam sẽ tăng thêm khoảng 26,2 tỷ USD từ lúc TPP được ký kết (dự kiến vào cuối năm 2013) cho đến năm 2025. Nếu Nhật Bản tham gia, con số này sẽ là 35,7 tỷ USD. Không những thế, Việt Nam còn có thêm cơ hội mở rộng thị trường, tăng thu hút đầu tư, tạo được chỗ đứng trong chuỗi liên kết, phân công lao động tiềm năng, hiện đại hóa và nâng cấp các lĩnh vực dịch vụ.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng có không ít thách thức đặt ra cho các doanh nghiệp (DN) Việt Nam. Đó là những thách thức về vấn đề cải cách thể chế, pháp luật, đặc biệt là pháp luật lao động, những điều kiện về thể chế kinh tế thị trường, vấn đề sở hữu, kiểm soát của Nhà nước đối với các tư liệu sản xuất, sự phân bổ các nguồn lực vì hiện nay mới chỉ có một số thành viên tham gia đàm phán TPP công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường.

Trước những thuận lợi và khó khăn cho nền kinh tế như vậy, riêng cộng đồng DN Việt Nam sẽ gặp những cơ hội và thách thức gì khi Hiệp định TPP được ký kết?

Nhận diện cơ hội

Thứ nhất, các DN Việt Nam sẽ có cơ hội phát triển, mở rộng hoạt động xuất nhập khẩu của mình khi mức thuế suất được giảm về bằng hoặc gần bằng 0%. Với một nền kinh tế định hướng xuất khẩu như của Việt Nam, việc tiếp cận các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Australia… với mức thuế suất bằng hoặc gần bằng 0% đã tạo ra một lợi thế cạnh tranh vô cùng lớn và một tương lai hứa hẹn cho nhiều ngành hàng, kéo theo đó là lợi ích cho một bộ phận lớn người lao động hoạt động trong các lĩnh vực phục vụ xuất khẩu. Lợi ích này không chỉ dừng lại ở những nhóm mặt hàng Việt Nam có thế mạnh xuất khẩu như dệt may, thủy sản mà còn là động lực để nhiều nhóm ngành khác hiện có kim ngạch xuất khẩu khiêm tốn gia tăng năng lực cạnh tranh. Nói cách khác, đây là cơ hội không chỉ nhìn từ thời điểm hiện tại mà còn thấy được cả tiềm năng trong tương lai.

Thứ hai, các DN có cơ hội tiếp cận với các thị trường lớn trong thương mại dịch vụ và đầu tư. Về lý thuyết, các DN Việt Nam sẽ được tiếp cận thị trường dịch vụ của các nước thành viên tham gia một cách thuận lợi hơn và ít rào cản hơn. 8 nước thành viên còn lại tạo ra một thị trường lớn đầy tiềm năng cho các DN xuất khẩu của Việt Nam.

ảnh 1

Như vậy, thị trường rộng lớn với dân số hơn 750 triệu dân (nếu tính cả Nhật Bản) sẽ tạo ra cơ hội đầu tư rất giá trị cho các DN Việt Nam. Đặc biệt, đây sẽ là một động lực lớn thúc đẩy các DN Việt Nam đầu tư ra nước ngoài.

Thứ ba, các DN được mua nguyên vật liệu nhập khẩu từ các nước TPP với chi phí thấp. Các ngành sản xuất sử dụng nguyên vật liệu nhập khẩu từ các nước thành viên TPP làm nguyên liệu đầu vào sẽ được hưởng lợi từ việc giảm thuế hàng nhập khẩu , qua đó mua được nguyên liệu giá rẻ, giúp giảm chi phí sản xuất, qua đó giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của những ngành này.

Thứ tư, các DN có cơ hội được tham gia đấu thầu minh bạch, công khai khi mở cửa thị trường mua sắm công. Mặc dù mức độ mở cửa đối với thị trường mua sắm công trong khuôn khổ TPP chưa được xác định cụ thể nhưng nhiều khả năng các nội dung trong Hiệp định mua sắm công trong WTO sẽ được áp dụng cho TPP và nếu điều này trở thành hiện thực thì đây là cơ hội để giải quyết các bất cập trong các hợp đồng mua sắm công và hoạt động đấu thầu chưa minh bạch ở Việt Nam hiện nay. Điều này rất có ý nghĩa đối với các DN kinh doanh lành mạnh, minh bạch hiện nay.

Thứ năm, TPP sẽ tạo cơ hội tốt cho các DN thực hiện nghĩa vụ bảo vệ môi trường và bảo vệ người lao động khi Việt Nam thực thi các tiêu chuẩn về lao động, môi trường theo các cam kết đã ký trong Hiệp định.

Thứ sáu, các DN Việt Nam sẽ được hưởng những tác động tích cực từ việc cải cách và thay đổi thể chế nhằm tuân thủ những cam kết chung của TPP. TPP dự kiến sẽ bao trùm cả những cam kết về những vấn đề như sự hài hòa giữa các quy định pháp luật, tính cạnh tranh, khối các DN vừa và nhỏ, chuỗi cung ứng, hỗ trợ phát triển… Đây là những lợi ích lâu dài, xuyên suốt và đặc biệt có ý nghĩa với cộng đồng DN Việt Nam.

Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội, thì thách thức TPP mang lại cho cộng đồng DN Việt Nam cũng không hề nhỏ.

Đối mặt với thách thức

Thứ nhất, nguy cơ mất khả năng cạnh tranh. Việc giảm thuế quan chắc chắn sẽ dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng trong luồng hàng nhập khẩu từ các nước TPP vào Việt Nam với giá cả cạnh tranh. Hệ quả tất yếu là DN đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt, thị phần hàng hóa của Việt Nam sẽ bị thu hẹp lại, thậm chí là nguy cơ mất thị phần nội địa. Nguy cơ này đặc biệt nguy hiểm đối với nhóm hàng nông sản, vốn là nhóm gắn liền với đối tượng dễ bị tổn thương trong hội nhập là nông dân. Ngoài ra, điều này cũng dẫn đến việc DN trong nước phải cạnh tranh với nhau và DN nào yếu kém sẽ bị đào thải khỏi thị trường. Chỉ DN nào tự thích nghi, tự điều chỉnh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình mới tồn tại được.

Ngoài ra, tham gia TPP đồng nghĩa với việc mở cửa thị trường dịch vụ, là mảng hoạt động thương mại mà mức độ mở cửa của Việt Nam là hạn chế và dè dặt nhất từ trước đến nay. Việc mở cửa thị trường dịch vụ sẽ khiến cho các nhà cung cấp có tiềm lực lớn, có kinh nghiệm và danh tiếng lâu năm, có ưu thế về cung cấp dịch vụ trên thế giới "đổ bộ" vào thị trường Việt Nam, khiến cho các đơn vị cung cấp dịch vụ của Việt Nam gặp khó khăn nghiêm trọng và việc mất thị phần là nguy cơ có thể dự báo trước được.

Không những thế, so với các hiệp định khác, TPP hướng tới một sân chơi bình đẳng, không phân biệt quốc gia phát triển hay đang phát triển trong khi WTO vẫn có chính sách ưu tien cho các quốc gia đang phát triển. Như vậy, rõ ràng đây là bất lợi lớn cho các DN Việt Nam khi không có đủ năng lực để cạnh tranh bình đẳng, sòng phẳng với các DN của Hoa Kỳ hay Australia.

Thứ hai, thách thức từ việc thực thi các yêu cầu cao về môi trường, lao động, cạnh tranh… và các ràng buộc mang tính thủ tục trong các quy định liên quan đến rào cản kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ. Các kết quả đàm phán FTA của Hoa Kỳ trong giai đoạn gần đây cho thấy quốc gia này đặc biệt nhấn mạnh đến việc tuân thủ các yêu cầu cao về môi trường và lao động hay các ràng buộc về các quy định về TBT, SPS… Điều này đã tạo ra những khó khăn cũng như làm phát sinh thêm chi phí cho DN Việt Nam, ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của các DN.

Theo tính toán với Hiệp định TPP, khi tham gia đàm phán và ký kết, GDP của Việt Nam sẽ tăng thêm khoảng 26,2 tỷ USD (dự kiến từ cuối năm 2013 cho đến năm 2025); Nếu Nhật Bản tham gia TPP, GDP của Việt Nam sẽ là 35,7 tỷ USD.

Thứ ba, thách thức từ việc thực thi các yêu cầu cao liên quan đến việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Mỹ là đối tác rất cứng rắn trong những vấn đề liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cả trong WTO lẫn trong các FTA của nước này. Đối với TPP, vấn đề này cũng được Mỹ thể hiện tương đối rõ ràng. Tuy nhiên, đây lại là một vấn đề lớn đối với các DN Việt Nam vì hiện nay, tuy đã tham gia Công ước Bern nhưng Việt Nam vẫn chưa có các thiết chế bảo hộ hiệu quả, số vụ việc vi phạm sở hữu trí tuệ còn rất lớn. Do đó, nếu bảo hộ chặt chẽ sẽ dẫn tới những khó khăn cho DN Việt Nam khi phải bỏ chi phí nhiều hơn trước đây cho cùng một loại sản phẩm. Dĩ nhiên, cần nhận thức đầy đủ rằng tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam hiện nay cần phải được chấm dứt nếu muốn phát triển nền kinh tế một cách lành mạnh. Tuy nhiên, thực hiện ngay và toàn bộ, thay vì thực hiện dần dần, các yêu cầu của hiệp định bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) sẽ là bất khả thi và sẽ tạo ra rất nhiều hệ lụy cho các DN.

Thứ tư, thách thức từ việc mở cửa thị trường mua sắm công. Mua sắm công là một vấn đề phức tạp và hiện vẫn đang là lĩnh vực tương đối "đóng" đối với tự do thương mại. Trong WTO, Hiệp định về mua sắm công có sự tham gia của một số lượng rất hạn chế các nước do nhiều quốc gia vẫn giữ quan điểm thận trọng với vấn đề này. Trong TPP, Mỹ sẽ đưa ra yêu cầu này cho các đối tác tham gia đàm phán bằng việc yêu cầu các đối tác TPP tham gia Hiệp định về mua sắm công của WTO hoặc đưa ra các quy định của Hiệp định này vào TPP. Đối với DN Việt Nam, việc mở cửa thị trường mua sắm công theo cách này sẽ gây ra những tác động bất lợi do sự thâm nhập của các nhà thầu nước ngoài khiến nhà thầu nội địa không cạnh tranh nổi trong khi khả năng tiếp cận và thắng thầu của các nhà thầu nội địa trên thị trường mua sắm công của các đối tác TPP là hầu như không có do hạn chế về năng lực cạnh tranh.

Nếu không nỗ lực hết mình, rất có thể DN Việt Nam sẽ thua ngay khi TPP bắt đầu có hiệu lực. Điều này đòi hỏi sự đầu tư công sức của các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu và bản thân mỗi DN để tìm được hướng đi phù hợp nhất cho DN của mình.

Thứ năm, thách thức từ việc chứng minh xuất xứ của nguyên liệu đầu vào. Theo TPP, một ngành chỉ hưởng ưu đãi về thuế xuất khẩu nếu chứng minh được nguồn nguyên liệu đầu vào có xuất xứ từ các nước tham gia TPP. Ví dụ, ngành dệt may của Việt Nam chẳng hạn là ngành xuất khẩu chủ lực nhưng 75% nguyên vật liệu phải nhập từ Trung Quốc trong khi Trung Quốc không tham gia TPP nên rõ ràng ngành dệt may sẽ không được hưởng ưu đãi thuế quan như các ngành khác. Do công nghiệp phụ trợ của Việt Nam chưa phát triển nên rất nhiều ngành sản xuất khác của Việt Nam cũng ở trong hoàn cảnh tương tự. Trong trường hợp này, DN Việt Nam hoàn toàn không được hưởng lợi gì từ việc ký kết TPP.

Một số gợi ý cho các doanh nghiệp

Trước những thực trạng trên, vấn đề đặt ra cần được giải đáp là DN Việt Nam làm gì để tận dụng cơ hội cũng như vượt qua được thách thức? Để nắm bắt được các cơ hội, loại bỏ thách thức, cộng đồng DN Việt Nam cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh, tuân thủ các quy định, chủ động trước thời cơ và thách thức…

Thứ nhất, năng lực cạnh tranh của mỗi DN là yếu tố quyết định trong "sân chơi TPP". Do đó, để tồn tại được, điều tối quan trọng với các DN là phải nâng cao năng lực cạnh tranh của DN mình để có đủ sức cạnh tranh với các DN nước ngoài trên thị trường trong nước cũng như trên thị trường của nước đối tác.

Thứ hai, thực tế trên nhiều lĩnh vực hiện nay nhiều DN Việt Nam không thể cạnh tranh được với DN nước ngoài, do họ có bề dầy kinh nghiệm, tiềm lực tài chính, thương hiệu, uy tín… Do đó, DN Việt Nam thay vì đối đầu trực tiếp trên các thị trường lớn thì hãy chọn các thị trường ngách, thị trường nhỏ với chiến lược "đại dương xanh" - khai phá mảng thị trường có thể nhỏ hẹp nhưng mới và ít đối thủ cạnh tranh. Ngay trong mảng mua sắm công, thay vì tham gia đấu thầu trực tiếp những hợp đồng lớn, DN Việt Nam hoàn toàn có thể lựa chọn trở thành nhà thầu phụ. Điều này phù hợp với tiềm lực và khả năng của DN Việt Nam hơn.

Thứ ba, những quy định về môi trường, lao động hay bảo hộ sở hữu trí tuệ là xu hướng phát triển tất yếu của môi trường kinh doanh lành mạnh, văn mình. Dù muốn hay không thì DN cũng phải chấp nhận xu hướng này. Do đó, thay vì cố tình trì hoãn, đi theo lối kinh doanh cũ, DN Việt Nam từng bước cải cách hoạt động của DN mình cho phù hợp với xu thế của thời đại.

Thứ tư, TPP khi được ký kết sẽ gây ra những tác động, trực tiếp đến hoạt động của DN. Do đó, DN phải lên tiếng, thông qua các hiệp hội hay Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam vì quyền lợi của DN mình, kiến nghị với Chính phủ để đàm phán những điều kiện có lợi cho các DN nội địa.

Có thể thấy, việc xuất hiện TPP là một tất yếu khi có rất nhiều vấn đề mà các FTA hiện tại chưa giải quyết được. Với riêng DN Việt Nam, cơ hội có nhiều nhưng thách thức cũng không nhỏ và nếu không nỗ lực hết mình thì rất có thể DN Việt Nam sẽ thua ngay khi TPP bắt đầu có hiệu lực. Điều này đòi hỏi sự đầu tư công sức của các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu và bản thân mỗi DN để tìm được hướng đi phù hợp nhất cho DN của mình. Hy vọng rằng, khi TPP được ký kết và có hiệu lực, những lợi ích mà DN Việt Nam thu được sẽ lớn hơn những trở ngại mà các DN này gặp phải.

Tài liệu tham khảo:

1. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam -VCCI; Ủy ban tư vấn về Chính sách thương mại quốc tế; Bản dự thảo số 1 và 2 khuyến nghị chính sách của Cộng đồng DN Việt Nam về đàm phán Hiệp định TPP;

2. Toàn văn Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương bằng tiếng Anh tại http://www.mfat.govt.nz/downloads/trade-agreement/transpacific/main-agreement.pdf;

3. http://vietstock.vn/2013/04/hiep-dinh-tpp-khong-bong-hong-nao-khong-co-gai-768-292118.htm;

4. http://worldpopulationreview.com/population-2012.

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 6 – 2013

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục