VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng

Hạn chế hoạt động chuyển giá nhằm tránh thất thu thuế

Chuyển giá là hành vi thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các chủ thể trong một nhóm liên kết không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hoá số thuế phải nộp và tối đa hoá lợi nhuận thu được của nhóm liên kết. Nói cách khác, đó là việc định giá quá cao hay quá thấp trong các giao dịch giữa các thành viên trong một nhóm liên kết nhằm chuyển thu nhập và lợi nhuận từ nơi có thuế suất cao sang nơi có thuế suất thấp. Hành vi này chỉ có thể được thực hiện khi có sự khác biệt về thuế suất, về mức độ ưu đãi thuế giữa các khu vực, các ngành nghề, các lĩnh vực, các quốc gia và giữa các chủ thể liên kết như các công ty thành viên của một công ty đa quốc gia hoặc các công ty thành viên trong một tập đoàn, một tổng công ty hoặc giữa các công ty độc lập mà chủ sở hữu của chúng có mối quan hệ đặc biệt, thường là quan hệ thân nhân. Hoạt động này gây thất thu nghiêm trọng cho NSNN, gây bất ổn nền kinh tế… cần phải hạn chế đến mức thấp nhất.

Thực tế ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, hoạt động chuyển giá thường xảy ra trong các giao dịch quốc tế giữa các chủ thể liên kết ở các quốc gia do có sự khác biệt rõ rệt về chính sách thuế, về ưu đãi thuế giữa các quốc gia. Đặc biệt các công ty đa quốc gia, những công ty chuyên kinh doanh quốc tế, có nhiều công ty con ở nhiều quốc gia khác nhau, có rất nhiều kinh nghiệm và cơ sở thực tiễn để thực hiện hành vi chuyển giá trong các giao dịch quốc tế. Ở Việt Nam hiện nay, do vẫn tồn tại sự khác biệt về thuế suất, về mức độ ưu đãi thuế giữa các vùng miền, giữa các ngành nghề, giữa các loại hình doanh nghiệp (DN) nên các bên liên kết trong nước có thể hưởng lợi bằng cách chuyển thu nhập của DN liên kết không được hưởng ưu đãi, hoặc chịu thuế suất cao sang DN liên kết được hưởng ưu đãi, hoặc chịu thuế suất thuế thu nhập thấp hoặc chuyển lợi nhuận trước thuế từ DN liên kết có lãi sang DN liên kết bị lỗ thông qua giá chuyển giao nội bộ các sản phẩm, dịch vụ để giảm thiểu nghĩa vụ thuế của tập đoàn, tăng lợi nhuận. Hoạt động chuyển giá của các bên liên kết không chỉ trực tiếp gây thất thu thuế cho NSNN, mà còn phản ánh sai lệch kết quả hoạt động của nền kinh tế, làm rối loạn hoạt động của nền kinh tế quốc dân, tạo cơ hội cho cạnh tranh bất bình đẳng giữa các DN trong nền kinh tế. Thông qua hoạt động chuyển giá các bên liên kết bằng tiềm lực tài chính của mình có thể tiến hành các chiêu thức quảng cáo và khuyến mãi quá mức để xâm chiếm thị phần trên thị trường. Các DN trong nước không đủ tiềm lực để cạnh tranh, dần dần bị phá sản hoặc phải chuyển hướng kinh doanh. Các bên liên kết dần trở nên độc quyền, thao túng thị trường và hậu quả là lũng đoạn thị trường. Đây chính là tác động lâu dài và sau cùng của hoạt động chuyển giá.

1. Thực trạng chuyển giá ở Việt Nam thời gian qua

 Các DN liên kết ở Viêt Nam hiện nay thường thực hiện hoạt động chuyển giá thông qua hai hình thức là chuyển giá lãi và chuyển giá lỗ.

Về hình thức chuyển giá lãi, có thể nhận thấy một số hình thức chuyển giá sau:

Trước hết, thời gian qua, một số DN FDI xin chuyển đổi thành công ty cổ phần để niêm yết trên thị trường chứng khoán. Trong quá trình thực hiện, không ít DN đã định giá không chính xác giá trị tài sản, lợi dụng việc chuyển đổi để "tư bản hoá tài sản", bán bớt cổ phần, thậm chí chuyển toàn bộ vốn ra khỏi Việt Nam, vừa đem lại lợi nhuận cho công ty mẹ, vừa gây xáo trộn trong dòng vốn đầu tư vào Việt Nam, đặc biệt là dòng vốn FDI thực vào và chuyển ra khỏi Việt Nam.

Thứ hai, một số DN là thành viên của các tập đoàn, xin được niêm yết trên thị trường chứng khoán; các DN liên kết đã thực hiện chuyển giá nhằm tăng lợi nhuận của DN sẽ niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán. Điều này sẽ làm sai lệch kết quả báo cáo tài chính của DN phát hành, làm cho giá trị cổ phiếu sẽ tăng cao khi niêm yết; tạo sai lệch giá cả của các cổ phiếu phát hành, gây mất cân đối giả tạo về cung-cầu trên thị trường chứng khoán, gây rối loạn thị trường.

Thứ ba, trong quá trình chuẩn bị cho một DN giành độc quyền gia công, phân phối loại hàng hoá, dịch vụ nào đó nhằm cạnh tranh giành thị phần của loại hàng hoá, dịch vụ đó, các bên liên kết có thể chuyển doanh thu, lợi nhuận cho DN đó. Hình thức này cũng tạo sai lệch trong báo cáo tài chính và sai lệch trong đánh giá thị trường của các nhà đầu tư, tạo cạnh tranh bất bình đẳng giữa các DN, chèn ép các DN vừa và nhỏ.

Thứ tư, trong điều kiện Việt Nam tích cực thu hút nguồn vốn từ bên ngoài với mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều chính sách ưu đãi đối với các nhà đầu tư ở nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực, hoặc khi đầu tư vào những địa bàn khác nhau ở Việt Nam, các DN liên kết đã chuyển doanh thu, lợi nhuận từ những lĩnh vực, ngành nghề và khu vực khác không được hưởng ưu đãi vào DN đang được hưởng ưu đãi nhằm giảm thuế phải nộp, tăng lợi nhuận của nhóm liên kết.

Về hình thức chuyển giá lỗ, là hình thức phổ biến và là một thực trạng nhức nhối ở Việt Nam thời gian qua, đặc biệt với các DN FDI. Đến nay, khu vực FDI chiếm khoảng 26% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; đóng góp trên 40% giá trị sản xuất công nghiệp, trên 50% giá trị xuất khẩu và khoảng trên 20% GDP; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế; nâng cao trình độ khoa học - công nghệ; mở rộng thị trường quốc tế, giải quyết vấn đề việc làm cho lực lượng lao động. Nhưng khu vực FDI đóng góp thấp (khoảng 9-10%) cho NSNN do gần 60% số DN FDI khai kết quả kinh doanh thua lỗ.

a/ Chuyển giá thông qua việc nâng cao giá trị tài sản góp vốn:

Trong quá trình đầu tư vào Việt Nam để tiến hành sản xuất kinh doanh, do các bên nước ngoài có lợi thế về máy móc, công nghệ hiện đại nên đây là những yếu tố cấu thành vốn góp của họ. Do phía Việt Nam chưa có đủ năng lực và trình độ thẩm định để đánh giá các loại thiết bị công nghệ hiện đại này nên nhiều dự án bị đối tác nước ngoài định giá thiết bị, công nghệ cao hơn thực tế. Điều này được nhiều cơ quan thẩm định giá khẳng định.

Việc định giá cao thiết bị, máy móc đầu tư đã giúp cho bên nước ngoài được hưởng một khoản chênh lệch lớn về giá máy móc, thíêt bị. Về lâu dài làm cho nhà nước Việt Nam thất thu thuế thông qua chi phí khấu hao trên hàng hóa cao, giá thành sản phẩm tăng, lợi nhuận kinh doanh giảm sút. Việc định giá cao sẽ nâng giá trị vốn góp trong liên doanh và bên đối tác nước ngoài sẽ nắm quyền kiểm soát, quản trị DN.

b/ Chuyển giá thông qua chuyển giao công nghệ

Đây là hành vi chuyển giá thông qua việc các công ty nước ngpài chuyển giao công nghệ sản xuất, kinh doanh cho bên liên kết tại Việt Nam và thu phí bản quyền. Đây là loại hình chuyển giao tài sản vô hình, việc định giá rất khó khăn và mang tính đặc thù, nhưng thường là một loại chi phí chiếm tỷ trọng lớn do khấu hao tài sản cố định vô hình.

Hiện nay ở Việt Nam nhiều hợp đồng liên doanh có yếu tố chuyển giao công nghệ được ký kết nhưng không thông qua Bộ Khoa học & Công nghệ, hơn nữa, khả năng thẩm định công nghệ của Việt Nam còn hạn chế dẫn tới tình trạng một số công nghệ đã rất lỗi thời và không đủ tiêu chuẩn vẫn được xem là chuyển giao công nghệ. Hậu quả là một mặt gây ảnh hưởng tới môi trường, mặt khác các DN lại phải trả tiền bản quyền cho những công nghệ đã lạc hậu. Vấn đề bản quyền trong chuyển giao công nghệ đang thực sự đáng báo động, bởi theo thống kê trong số hơn 80% hợp đồng mà Bộ Khoa học & Công nghệ đã phê duyệt thì bên phía Việt Nam sau khi đàm phán lại đã giảm được mức phí bản quyền xuống từ 20-50%.

c/ Chuyển giá thông qua việc chuyển giao nguyên, vật liệu, hàng hoá:

Hành vi chuyển giá thông qua việc chuyển giao nguyên, vật liệu, hàng hoá là hành vi mang tính cổ điển nhưng tương đối phổ biến tại Việt Nam thời gian qua. Hành vi này xuất phát từ sự chênh lệch thuế suất thuế TNDN giữa Việt Nam và các quốc gia khác, nơi các bên liên kết có công ty con. Các bên liên kết đã chi phối giá chuyển giao nguyên vật liệu, hàng hoá không theo giá thị trường nhằm chuyển lợi nhuận của DN từ Việt Nam sang DN liên kết ở nơi có thuế TNDN thấp hơn thông qua định giá nguyên, vật liệu đầu vào cao hơn giá thị trường và định giá bán sản phẩm, hàng hoá cao hơn giá thị trường.

d/ Chuyển giá thông qua việc cung cấp dịch vụ:

Hành vi chuyển giá này tương tự như chuyển giá thông qua việc chuyển giao nguyên, vật liệu, hàng hoá. Tuy nhiên, việc cung cấp dịch vụ giữa công ty mẹ và các công ty con và giữa các công ty con trong một tập đoàn rất khó xác định. Lợi dụng đặc điểm này, nhiều tập đoàn xuyên quốc gia đã thực hiện hành vi cung cấp các dịch vụ quản lý, hỗ trợ quản lý và đào tạo cho cả tập đoàn, tính giá dịch vụ rất cao để chuyển lợi nhuận từ công ty Việt Nam ra nước ngoài. Như trường hợp công ty TNHH ITG Phong Phú có chi phí quản lý hệ thống, chi phí chuyên gia nước ngoài rất cao, tiền lương chuyên gia 2 năm 2007 - 2008 là 81.479 triệu đồng, trong khi doanh thu thực hiện chỉ có 46.159 triệu đồng; cũng công ty này đã bị Cục thuế Đà Nẵng không chấp nhận chi phí công ty mẹ chi hộ tại nước ngoài do không có chứng từ hợp lệ 25.164 triệu đồng. Đây là một trường hợp chuyển giá quá trắng trợn.

e/ Chuyển giá thông qua trả lãi vay vốn sản xuất kinh doanh:

Hành vi chuyển giá này cũng mang tính cổ điển, nhưng cũng được nhiều DN FDI Việt Nam thực hiện thông qua vay vốn từ bên liên kết ở nước ngoài với lãi suất cao để chuyển lợi nhuận từ DN Việt Nam sang DN liên kết có thuế TNDN thấp hơn ở nước ngoài. Thậm chí, một số DN FDI tại Đà Nẵng, công ty mẹ chưa góp đủ vốn theo đăng ký, nhưng DN FDI này lại đi vay với lãi suất cao từ công ty mẹ và vẫn tính trừ khi xác định thuế TNDN.

Hành vi chuyển giá của các DN liên kết ngày càng tinh vi, hiện đại và được che đậy kỹ càng, khó xác định. Hình thức chuyển giá cũng ngày càng đa dạng, phong phú, vì vậy cần có những nghiên cứu sâu về vấn đề này.

2. Hoàn thiện các biện pháp chống chuyển giá ở Việt Nam

Trong thời gian qua, xác định hoạt động chuyển giá của các bên liên kết không chỉ đem lại thiệt hại vật chất cho nền kinh tế, mà còn tạo thói quen coi thường luật pháp, thói quen trốn lậu thuế của các DN liên kết, nên cơ quan thuế Việt Nam đã tích cực sử dụng các biện pháp nhằm hạn chế hiện tượng chuyển giá.

Trong năm 2011, theo Tổng cục Thuế, có 1.267 DN có vốn FDI thuộc diện phải kiểm tra việc chuyển giá, trốn thuế. Tính đến tháng 9-2011, toàn ngành đã thực hiện thanh tra 585 DN lỗ, trong đó có 76 DN có dấu hiệu chuyển giá. Ngành Thuế đã có kết luận thanh tra và quyết định xử lý 494 DN lỗ. Kết quả, đã giảm lỗ 3.754 tỷ đồng, truy thu thuế hơn 978 tỷ đồng, giảm khấu trừ 86,9 tỷ, xử phạt 272 tỷ đồng. Nhìn vào số liệu các DN FDI được kiểm tra, số DN được xác định có chuyển giá, số giảm lỗ và số thuế truy thu, số thuế xử phạt rõ ràng chưa thực sự tương xứng với hoạt động chuyển giá của các DN FDI. Để hoàn thiện các biện pháp chống chuyển giá ở Việt Nam cần thực hiện đồng bộ các công việc sau:

-  Đẩy mạnh việc hoàn thiện hành lang pháp lý chống chuyển giá: Cần nhanh chóng xây dựng và ban hành Nghị định của Chính phủ quy định về chống chuyển giá; đồng thời, bổ sung các quy định về chống chuyển giá vào Luật quản lý thuế. Căn cứ pháp lý quy định về chuyển giá và chống chuyển giá hiện nay chỉ có thể vận dụng một nội dung tại Điểm e, Khoản 1 Điều 37 Luật quản lý thuế. Các quy định về chuyển giá chỉ dừng ở cấp Thông tư, nên hiệu lực pháp lý chưa cao. Các phương pháp xác định giá thị trường để áp dụng cho các giao dịch liên kết tại Thông tư 66/2010/TT-BTC tương đối phức tạp, nhưng cán bộ thuế hầu hết chưa được đào tạo và thiếu các kỹ năng chuyên sâu để áp dụng. Hơn nữa, thời gian thanh tra được quy định trong Luật quản lý thuế tương đối ngắn, trong khi để tiến hành kiểm tra chống chuyển giá đòi hỏi phải có nhiều thời gian để kiểm tra, so sánh, phân tích, đối chiếu. Vì vậy, khi đã phát hiện có hiện tượng chuyển giá thì cần có các quy định về việc kéo dài thời hạn thanh tra. Một số quy định về cơ chế thoả thuận tính giá trước (APA) cũng cần được bổ sung trong Luật quản lý thuế để thuận tiện và nâng tính pháp lý trong việc định giá với các giao dịch liên kết.

-  Sớm hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu về hoạt động của các DN: Đây là cơ sở để thống kê, kiểm soát tình hình sản xuất, kinh doanh, lịch sử chấp hành luật thuế, thông tin về các bên liên kết, giá cả, chi phí của các mặt hàng trong từng ngành, từng lĩnh vực… giúp cơ quan thuế có cơ sở so sánh, phân tích, phát hiện và đấu tranh chống chuyển giá có hiệu quả. Trên cơ sở của hệ thống dữ liệu về DN, có thể xây dựng các định mức về chi phí, về giá cả đầu ra, đầu vào, về tỷ suất lợi nhuận bình quân của từng ngành nghề, từng địa bàn, giá cả thị trường trong và ngoài nước với từng loại hình DN làm cơ sở thực hiện đấu tranh chống chuyển giá.

-  Kiện toàn bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức thuế: Cần nghiên cứu thành lập một bộ phận chuyên trách phục vụ công tác quản lý thuế đối với hoạt động chống chuyển giá tại Tổng cục thuế, đồng thời thành lập các tổ chuyên trách phục vụ công tác quản lý thuế đối với hoạt động chống chuyển giá tại một số Cục thuế có nhiều DN FDI. Các cán bộ của các bộ phận này sẽ được đào tạo bài bản, chuyên sâu về hoạt động chống chuyển giá, là người thường xuyên kiểm tra hoạt động của các bên liên kết, phòng ngừa và phát hiện, đấu tranh chống các hiện tượng chuyển giá. Mặt khác, phải đưa những vấn đề cơ bản về chuyển giá vào chương trình đào tạo phổ cập nâng cao kiến thức hàng năm cho toàn bộ cán bộ thuế, nhằm nâng cao ý thức và khả năng phát hiện các hiện tượng chuyển giá giữa các DN liên kết ngay từ cơ sở.

-  Cần có chế tài xử lý nghiêm khắc với hiện tượng chuyển giá: Cần xác định hành vi chuyển giá là hành vi trốn thuế, vi phạm pháp luật của các DN liên kết. Cần phải đề ra các hình phạt nghiêm khắc đủ sức răn đe để buộc các DN phải kê khai đầy đủ các bên liên kết và các giao dịch liên kết ngay từ khi đăng ký và có nghĩa vụ xuất trình đầy đủ các thông tin, tài liệu, chứng từ để chứng minh việc lựa chọn và áp dụng phương pháp xác định giá trong giao dịch liên kết phù hợp với giá thị trường. Khi phát hiện các trường hợp chuyển giá, cần có chế tài để truy thu số thuế trốn lậu, đồng thời với việc xử phạt nghiêm khắc và có thể tước bỏ mọi ưu đãi về thuế mà DN này đang được hưởng, có thể truy cứu trách nhiệm hình sự hay cấm kinh doanh tại Việt Nam…

-  Cần xây dựng một cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan: Chính phủ cần chỉ đạo việc hình thành và quy định trách nhiệm cụ thể cho cơ chế hợp tác giữa cơ quan thuế với Cục quản lý giá của Bộ Tài chính, với cơ quan Hải quan, với Bộ Kế hoạch và đầu tư, với ngân hàng, với cơ quan công an và cơ quan ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài nhằm thực hiện có hiệu quả quy chế phối hợp theo thẩm quyền về trao đổi, cung cấp thông tin phục vụ việc phát hiện và xử lý các hành vi chuyển giá và vi phạm pháp luật của các bên liên kết. Đồng thời, cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế, đẩy mạnh hợp tác trong cung cấp và trao đổi thông tin giữa cơ quan thuế Việt Nam với các cơ quan thuế của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới nhằm xác định giá thị trường và các mối quan hệ liên kết của các DN.

Hoạt động chuyển giá giữa các bên liên kết đang ngày càng trở nên tinh vi, phức tạp, được hỗ trợ bởi các công cụ hiện đại và các giao dịch giữa các bên liên kết có thể được thực hiện qua các khâu trung gian. Hàng hoá trên thị trường ngày càng đa dạng và giá cả bị chi phối bởi nhiều yếu tố cả về mặt thị trường và về mặt xã hội. Các DN kinh doanh quốc tế có nhiều kinh nghiệm về tổ chức sản xuất và kinh doanh để tạo ra những sản phẩm đặc thù, những chi phí riêng biệt. Việc đấu tranh hạn chế hoạt động chuyển giá của các bên liên kết sẽ là một hoạt động lâu dài, nhiều khó khăn với các nhà quản lý Thuế.
Có thể bạn quan tâm