VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng
Giới thiệu tòa soạn Hotline: 0987 828 585
Quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng thuộc Bộ Giao thông Vận tải

Tăng cường quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng thuộc Bộ Giao thông Vận tải. Nguồn: Internet

Quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng thuộc Bộ Giao thông Vận tải

Tài chính là nguồn lực quan trọng đảm bảo cho hoạt động của các đơn vị sự nghiệp, nhất là đối với các đơn vị sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng.

Ứng dụng hệ thống thông tin quản lý tài chính - nhiệm vụ cấp bách

Một số vấn đề về quản lý tài chính tại các trường đại học công lập

Quản lý tài chính đại học tại Ấn Độ, châu Âu và gợi ý chính sách cho Việt Nam

Quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp: Một số kiến nghị

Trên cơ sở xác định quan điểm và định hướng hoàn thiện quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng thuộc Bộ Giao thông Vận tải.

Quan điểm hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại các đơn vị đào tạo, bồi dưỡng

Nguồn thu giữa hệ thống các trường công lập và ngoài công lập khác nhau cơ bản bởi số chi từ ngân sách nhà nước (NSNN), tuy nhiên mục tiêu của các đơn vị sự nghiệp (ĐVSN) đào tạo, bồi dưỡng là cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực có trình độ cao. Do vậy, công tác quản lý tài chính (QLTC) tại các trường đào tạo, bồi dưỡng nói chung và thuộc Bộ Giao thông Vận tải – GTVT (gọi tắt là các trường) cần được hoàn thiện theo quan điểm sau:

Một là, phải có mục tiêu QLTC: Việc xác định đúng mục tiêu quản lý sẽ là cách thức để tập trung nguồn lực, phương pháp quản lý và tạo lập được quy trình quản lý theo mục tiêu. Các trường cần gắn QLTC với bền vững tài chính tương ứng chất lượng đầu ra; thường xuyên đánh giá QLTC, từ đó có biện pháp điều chỉnh kịp thời để đạt được mục tiêu cuối cùng.

Hai là, xác định nội dung quản lý: Có nhiều quan điểm cho rằng, QLTC là đơn thuần quản lý thu - chi, dẫn đến tình trạng các nội dung quản lý khác không được chú trọng và không đạt được mục tiêu của QLTC. Do đó, cần xác định rõ nội dung QLTC và theo đuổi mục tiêu đề ra.

Ba là, xây dựng quy trình QLTC một cách khoa học: Đa số các trường chưa có quy trình QLTC hoặc đã xây dựng nhưng chưa đảm bảo tính khoa học trong việc đạt được mục tiêu quản lý. Quy trình QLTC cần được công khai để các bộ phận trong nhà trường được biết để cùng phối hợp thực hiện.

Bốn là, xác định được chiến lược phát triển của từng trường. Việc xác định được chiến lược của từng trường để thông qua đó lên kế hoạch huy động và sử dụng nguồn, QLTC bám sát với chiến lược đặt ra.

Với quan điểm trên, vấn đề đổi mới cơ chế hoạt động của các trường đào tạo, bồi dưỡng thuộc Bộ GTVT cần điều chỉnh theo hướng tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, từng bước thực hiện xóa bỏ bao cấp, nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu xã hội. Cụ thể, cần tập trung vào một số định hướng sau:

Thứ nhất, hoàn thiện QLTC tại các trường phải gắn với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ của các trường trong giai đoạn mới; không ngừng thay đổi để đáp ứng trong tình hình mới.

Thứ hai, đổi mới cơ chế QLTC đảm bảo yêu cầu tăng cường QLTC trên cơ sở pháp luật của Nhà nước, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả cơ chế QLTC tại các trường; quản lý chặt chẽ, sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm NSNN được giao theo đúng quy định.

Thứ ba, tăng cường QLTC được giao phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế, tài chính, QLTC của Nhà nước và đặc thù hoạt động, cơ chế QLTC của các trường đang áp dụng.

Thứ tư, quy định rõ việc phân cấp QLTC, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân quản lý, sử dụng nguồn tài chính.

Thứ năm, chuẩn hóa dữ liệu về tài chính, hiện đại hoá công tác quản lý, tăng cường quản lý bằng hệ thống công nghệ thông tin, đảm bảo sự thống nhất, đảm bảo tăng cường minh bạch, giám sát.

Đa dạng các nguồn thu phục vụ cho công tác đào tạo và phát triển của các trường là một xu hướng tất yếu. Nếu trước đây chủ yếu dựa vào nguồn thu từ NSNN, thì nay, ngoài nguồn thu từ NSNN, còn có thể thu từ các nguồn khác như: Học phí thu của người học ngoài ngành Giao thông; thu từ các hợp đồng cho thuê tài sản, liên kết với các công ty, doanh nghiệp trong và ngoài nước, học phí đào tạo lái xe ô tô… Việc tăng nguồn thu tạo điều kiện để nâng cao chất lượng cũng như quy mô đào tạo của các trường.

Giải pháp quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng thuộc Bộ Giao thông Vận tải

Hoàn thiện QLTC có vai trò then chốt nhằm giúp các ĐVSN thực hiện hiệu quả các nguồn lực. Đối với các ĐVSN đào tạo, bồi dưỡng trực thuộc Bộ GTVT có thể QLTC theo 2 nhóm giải pháp sau:

Nhóm thứ nhất, hoàn thiện thể chế, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về QLTC đối với các trường, trong đó cần lưu ý một số vấn đề sau:

- Hoàn thiện thể chế bảo đảm đồng bộ các yếu tố thực hiện đổi mới cơ chế hoạt động các trường, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công, với 4 trọng tâm sau: Hoàn thiện thể chế về cơ cấu và phương thức đầu tư của NSNN đối với các trường; Hoàn thiện thể chế về cơ chế tài chính đối với các trường; Hoàn thiện thể chế về cơ chế tự chủ thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy đối với các trường; Hoàn thiện thế chế về cơ chế đặt hàng, mua hàng, giao nhiệm vụ cung ứng dịch vụ công, cụ thể:

- Chính phủ cần chỉ đạo các cơ quan chức năng (các bộ) rà soát, xây dựng, ban hành các văn bản pháp lý về QLTC thúc đẩy cơ chế tự chủ tài chính. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý, sử dụng NSNN, QLTC đối với giáo dục đào tạo, trong đó tập trung vào quản lý, khai thác, sử dụng nguồn tài chính, tài sản tại các ĐVSN công lập, thu tiền cho thuê tài sản... trong đó, đảm bảo tất cả các hoạt động của ĐVSN công lập đều được quản lý chặt chẽ, hiệu quả bằng pháp luật; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các luật có liên quan.

- Đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách về tài chính đối với trường. Trước hết, cần đổi mới cơ chế phân bổ nguồn lực NSNN theo tiêu chí đầu ra, gắn với việc thực hiện các mục tiêu công bằng và hiệu quả, gắn với nhu cầu đào tạo, cơ cấu ngành nghề trong đào tạo, bồi dưỡng. Đồng thời, đổi mới xây dựng định mức phân bổ NSNN cho lĩnh vực đào tạo trên cơ sở gắn kết giữa kết quả sử dụng nguồn lực NSNN với kết quả, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của các cơ sở này…

Bên cạnh đó, có cơ chế khuyến khích gắn kết giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học (NCKH):

- Hoàn thiện cơ chế Nhà nước đặt hàng theo các nguyên tắc sau. Đối tượng đặt hàng bao gồm Nhà nước thông qua Bộ GTVT, các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng dịch vụ đào tạo do các trường cung cấp.

- Hoàn thiện chính sách học phí: Chế độ thu học phí hiện hành cần được các trường bổ sung, sửa đổi đảm bảo tính công bằng hợp lý. Mặt khác, cần chuẩn hóa các quy định, đảm bảo thống nhất ổn định trong một thời gian. Tuy nhiên, tùy theo nhu cầu của người học và của người sử dụng lao động mà các cơ sở đào tạo đưa ra các mức thu học phí phù hợp.

- Hoàn thiện việc xác định định mức kinh tế kỹ thuật và định mức tài chính: Khi áp dụng cơ chế đào tạo theo đơn đặt hàng của Nhà nước, các trường cần xây dựng hệ thống chuẩn đầu ra theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng chung của ngành và yêu cầu đặc biệt của sản phẩm đào tạo.

Nhóm thứ hai, hoàn thiện QLTC các ĐVSN đào tạo, bồi dưỡng thông qua các giải pháp sau:

Đa dạng các nguồn thu phục vụ cho công tác đào tạo và phát triển của các trường là một xu hướng tất yếu. Nếu trước đây chủ yếu dựa vào nguồn thu từ NSNN, sau này, ngoài nguồn thu từ NSNN, còn có các nguồn thu khác. Việc tăng nguồn thu tạo điều kiện để nâng cao chất lượng cũng như quy mô đào tạo của các trường ngày càng tốt hơn.

Đảm bảo nguồn tài chính thực hiện cơ chế tự chủ tài chính: Các trường cần đổi mới cách phân bổ chi thường xuyên theo nguyên tắc phân bổ chi thường xuyên hàng năm. Mức chi NSNN cấp chi thường xuyên năm sau được xác định trên cơ sở số dự toán chi thường xuyên đã cấp từ NSNN năm trước theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP trừ đi (-) chênh lệch mức thu học phí của năm sau so với năm trước và số của năm trước. Điều này cho thấy, bản chất kinh phí thường xuyên đã giảm theo lộ trình, việc tăng chi phí các trường phải tự bù đắp cân đối từ nguồn thu sự nghiệp.

Thay đổi cơ chế phân bổ NSNN theo các tiêu chí đầu vào như hiện nay, sang việc phân bổ NSNN theo tiêu chí đầu ra, gắn với các hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật cho đào tạo.

Thực hiện cơ chế Nhà nước đặt hàng đối với ngành ít học sinh đăng ký, phù hợp với nhu cầu sử dụng của Nhà nước. Theo đó, các trường tiến hành lập Đề án đào tạo theo đặt hàng của Nhà nước như sau:

- Đối với chi thường xuyên: Nguồn NSNN cấp cho các trường, gồm các khoản chi thường xuyên và không thường xuyên. Về nguồn chi thường xuyên, NSNN cấp chi thường xuyên để đảm bảo các hoạt động của trường, không bao gồm các khoản chi có tính chất đầu tư phát triển. Do đó, để đảm bảo sử dụng hiệu quả chi thường xuyên, NSNN cấp cho chi thường xuyên của các trường phải được xây dựng căn cứ vào hệ thống tiêu chuẩn, định mức, chế độ rõ ràng, công khai.

- Đối với nguồn NSNN không thường xuyên như xây dựng cơ bản, sửa chữa lớn, đầu tư mua sắm tài sản cố định có giá trị lớn: Đổi mới quản lý là áp dụng chặt chẽ các định mức của Nhà nước về XDCB, đảm bảo tốc độ đầu tư tương ứng với tốc độ tăng đầu tư cho toàn Ngành. Bên cạnh đó, việc mua sắm cũng cần theo định mức sử dụng máy móc thiết bị Nhà nước quy định.

- Đối với nguồn tự thu ngoài NSNN: Để tăng dần nguồn thu này, các trường cần xây dựng mức học phí hợp lý. Thực hiện thu học phí đối với đối tượng đào tạo hệ tại chức, liên kết, vừa học vừa làm, vì các đối tượng này có thu nhập bằng lương, mặt khác đây là nhu cầu tự thân, cần bớt gánh nặng bao cấp từ NSNN. Cùng với đó, nguồn thu từ các hoạt động ứng dụng khoa học kỹ thuật GTVT thông qua một số giải pháp sau: Tăng cường quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng; Mở rộng lĩnh vực hoạt động khoa học, công nghệ từ các lĩnh vực khác như: Tư vấn, giám sát; kiểm định trang thiết bị an toàn thi công…

- Đối với nguồn thu từ các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ: Các trường cần tập trung huy động nguồn lực từ doanh nghiệp theo 2 cách sau:

(i) Tăng cường mối quan hệ giữa các cơ sở đào tạo nghề với các doanh nghiệp để doanh nghiệp tham gia vào đào tạo, chia sẻ kinh phí đào tạo.

(ii) Phát triển đào tạo nghề tại doanh nghiệp. Theo các điều kiện cơ bản sau: có máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, đất đai nhà xưởng, sân chơi, bãi tập, quỹ thời gian để rèn luyện tay nghề, đội ngũ giáo viên lý thuyết và thực hành giỏi kỹ thuật vừa biết nghiệp vụ sư phạm.

Trong việc đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách về tài chính đối với trường, trước hết, cần đổi mới cơ chế phân bổ nguồn lực NSNN theo tiêu chí đầu ra, gắn với việc thực hiện các mục tiêu công bằng và hiệu quả, gắn với nhu cầu đào tạo, cơ cấu ngành nghề trong đào tạo, bồi dưỡng.

Tăng cường quản lý sử dụng nguồn tài chính. Trước hết, về sử dụng nguồn NSNN cấp: Cần đầu tư tài chính có trọng điểm, ưu tiên các giải pháp tạo bước đột phá về chất lượng đào tạo, bồi dưỡng và NCKH. Ngoài ra, cần có chính sách, quy định thống nhất chi một số nội dung như: Thanh toán giờ giảng, tiền lương tăng thêm; chi phúc lợi các ngày lễ, tết; hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, chế độ làm ngoài giờ; Xây dựng định mức chi kinh phí điều hành mà các đơn vị trực thuộc nộp về các trường phù hợp với điều kiện và tình hình thực tế.

Về sử dụng nguồn tài chính từ việc huy động, các trường có thể góp vốn liên doanh, liên kết với các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư mở rộng, nâng cao hoạt động sự nghiệp. Cùng với đó cần nghiên cứu áp dụng mô hình QLTC theo mô hình quản lý doanh nghiệp. Cụ thể theo lộ trình như sau:

Giai đoạn 1: Giai đoạn lập đề án chuyển đổi: Trước hết tiến hành phân loại ngành nghề đào tạo và ban hành cơ chế, quy định cụ thể lộ trình chuyển đổi. Các trường xây dựng đề án chuyển sang thực hiện theo cơ chế tự chủ chi thường xuyên. Nhà nước thực hiện hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đảm bảo đủ điều kiện chuyển đổi sang mô hình thực hiện cơ chế tài chính doanh nghiệp.

Giai đoạn 2: Giai đoạn thực hiện cơ chế tự chủ chi thường xuyên: Nhà nước hỗ trợ cho các trường thực hiện theo cơ chế đặt hàng dịch vụ công và thực hiện chính sách hỗ trợ thông qua cấp học bổng học sinh, sinh viên. NSNN cấp chi một phần mua sắm, sửa chữa cơ sở vật chất.

Giai đoạn 3: Giai đoạn thực hiện theo cơ chế tự chủ chi thường xuyên và chi đầu tư: Nhà nước hỗ trợ cho các trường thực hiện theo cơ chế đặt hàng dịch vụ công và thực hiện chính sách hỗ trợ thông qua cấp học bổng học sinh, sinh viên; mua sắm sửa chữa tài sản cố định. Các trường được quyết định mức chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và quy định.

Về quản lý quy trình QLTC, các trường cần lưu ý một số nội dung sau:

(i) Công tác lập dự toán: Cần thực hiện đúng quy trình và phản ánh đúng, đầy đủ các nguồn tài chính và kế hoạch chi tiêu của đơn vị. Khi lập dự toán cần tính đúng, tính đủ các chỉ tiêu kế hoạch như: Biên chế quỹ lương, tình hình trang bị về cơ sở vật chất, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng trong năm, khả năng huy động nguồn vốn từ bên ngoài… nhằm phản ánh đúng công tác lập dự toán. Về lâu dài, khi đủ nguồn lực, lập dự toán theo kết quả đầu ra đặt trọng tâm vào việc cải tiến hoạt động của đơn vị nhằm bảo đảm đạt được các mục tiêu.

(ii) Công tác giao dự toán: Cần xây dựng phương án giao dự toán cụ thể để đảm bảo sự công bằng trong giao dự toán ngân sách cho các đơn vị trực thuộc. Giao dự toán ngân sách phải đảm bảo chi lương, phụ cấp lương, các khoản đóng góp. Phần kinh phí còn lại căn cứ vào kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chất lượng đội ngũ cán bộ giảng viên; cơ sở vật chất; trang thiết bị đào tạo; để phân bổ ngân sách cho phù hợp tình hình thực tế của các đơn vị trực thuộc. Đối với kinh phí đầu tư mua sắm, sửa chữa khi phân bổ cần chú ý đến việc đầu tư tập trung, ưu tiên tình hình thực tế của từng đơn vị, không dàn trải và chia đều cho các đơn vị tránh tình trạng đầu tư không đồng bộ và hiệu quả sử dụng thấp…

(iii) Công tác hạch toán, quyết toán thu - chi: Công tác hạch toán kế toán và quyết toán thu – chi cần nghiêm túc thực hiện theo đúng hướng dẫn tại Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/03/2006 và Thông tư số 107/TT-BTC ngày 10/10/2017 của Bộ Tài chính về hướng dẫn chế độ kế toán hành chính sự nghiệp đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin phục vụ công tác quản lý của đơn vị. Các đơn vị trực thuộc cần thống nhất quan điểm hạch toán các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh vào đúng nguồn kinh phí và mục lục NSNN quy định.

Năm là, quản lý chặt chẽ việc trích lập, sử dụng các quỹ và tiền lương tăng thêm: Việc phân phối kết quả hoạt động tài chính phải theo các quy định chung của Nhà nước, tuy nhiên các trường căn cứ tình hình thực tế từng năm và thống nhất cách trích lập, sử dụng các quỹ dựa trên nguyên tắc: Đảm bảo tính công khai, minh bạch, đồng bộ trong hoạt động chung của các trường; Đảm bảo quy định chung của Nhà nước; Đảm bảo công bằng giữa hiệu quả công việc, mức độ cống hiến với thù lao được hưởng…

Sáu là, hoàn thiện thanh, kiểm tra, kiểm soát tài chính nhằm nắm bắt, phản ánh và đánh giá đúng đắn việc chấp hành pháp luật và tuân thủ các quy định QLTC; Qua đó, kịp thời chấn chỉnh hoặc áp dụng các biện pháp phù hợp, khắc phục những tồn tại, hạn chế trong chi tiêu công, nâng cao hiệu quả tài chính. Do vậy, các trường cần tập trung các giải pháp như:

- Hoàn thiện công tác thanh, kiểm tra, cụ thể: Nghiên cứu xây dựng tiêu chí và quy trình đánh giá hiệu quả chi NSNN cho đào tạo; Cải thiện tính minh bạch và công khai tài chính trong chi NSNN cho đào tạo nhằm tăng trách nhiệm giải trình, hạn chế chi tiêu lãng phí và tham nhũng, từng bước nâng cao hiệu quả quản lý chi NSNN cho đào tạo. Việc giao quyền tự chủ cho các trường sử dụng ngân sách là bước đi quan trọng trong quản lý hoạt động chi ngân sách, các trường cần tập trung kiểm soát đầu vào thông qua các khoản mục và định mức chi tiêu mang tính bắt buộc.

- Hoàn thiện công tác kiểm tra tài chính, bao gồm hoàn thiện công tác kiểm tra kế toán và kiểm toán nội bộ; tăng cường kiểm soát chi NSNN qua hệ thống KBNN.

Bảy là, tập trung hoàn thiện quản lý tài sản công, cụ thể là tăng cường hơn nữa việc sử dụng và khai thác tài sản đúng mục đích được giao, đảm bảo tiết kiệm, có hiệu quả; đồng thời, phải chịu trách nhiệm nếu có sai phạm trong quản lý, sử dụng tài sản. Tăng cường đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất của các phòng ban chuyên môn, các đơn vị trực thuộc nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ và hoạt động dịch vụ, sản xuất kinh doanh nhưng tránh đầu tư dàn trải, không đồng bộ gây lãng phí nguồn vốn... Trong đó, sớm hoàn thành, ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc thiết bị chuyên dung; Xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu về tài sản, tăng cường đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tài sản công; Tăng cường phân cấp quản lý thẩm quyền gắn với trách nhiệm thủ trưởng các đơn vị trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản công…              

Tài liệu tham khảo:

  1. Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập;
  2. Chính phủ, Nghị định số 16/2016/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập;
  3. Thông tư số 36/2018/TT- BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí dành cho công tác đào tạo, bồi dưỡng, công chức, viên chức;
  4. Phạm Xuân Thủy, Vũ Anh, Nguyễn Thị Mai Liên, Nguyễn Thị Quỳnh Phương, Đổi mới tổ chức hoạt động các đơn vị sự nghiệp công lập của Bộ Tài chính trong điều kiện hiện nay;
  5. Phạm Văn Đăng, Đổi mới tài chính đơn vị sự nghiệp công và dịch vụ công, Đề tài khoa học cấp Bộ, 2012;
  6. Ngô Thế Chi, Nâng cao vai trò quản trị các trường Đại học công lập kinh tế trong điều kiện tự chủ tài chính, Đề tài khoa học cấp Bộ, 2013.
THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM