Quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá: Thực trạng và giải pháp

Nguyễn Quang Tiến (Bài đăng Tạp chí Tài chính số 3/2012)

(Taichinh) - TCTC Online - Hoạt động chuyển giá tuy không mới nhưng luôn là vấn đề nóng thu hút sự quan tâm của dư luận và cơ quan quản lý. Ngăn chặn hoạt động chuyển giá là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành Tài chính trong năm 2012 nhằm hạn chế tình trạng thất thu ngân sách nhà nước. Bài viết phản ánh thực trạng chuyển giá và công tác chống chuyển giá tại Việt Nam, đồng thời đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá.
Quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá: Thực trạng và giải pháp

Thực trạng chuyển giá tại Việt Nam

Chuyển giá đã và đang được các tập đoàn đa quốc gia sử dụng như một công cụ hữu hiệu để đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, là một trong các cách tăng lợi nhuận chung của tập đoàn trên toàn cầu với chi phí ít tốn kém nhất. Với chủ trương mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới, trong những năm qua, Việt Nam đã thực hiện nhiều chính sách ưu đãi đầu tư nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN). Nhờ đó, các dự án ĐTNN đã không ngừng tăng lên cả về số lượng và quy mô, góp phần quan trọng thúc đẩy nền kinh tế đất nước tăng trưởng và phát triển. Tuy nhiên, xét trên phương diện quản lý thuế, cơ quan thuế đang phải đối mặt với tình hình kê khai thua lỗ ngày càng gia tăng của các doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), chiếm khoảng trên 50% tổng số DN FDI đang hoạt động trên cả nước, trong đó nhiều DN kê khai lỗ nhiều năm liên tục, thậm chí báo cáo lỗ suốt từ khi hoạt động đến nay, nhưng vẫn tiếp tục duy trì sản xuất và mở rộng đầu tư tại Việt Nam. Điển hình tại một số địa phương như: Bình Dương, số DN FDI kê khai lỗ năm 2010 là 754/1.490 DN, chiếm tỷ trọng 50,6%, trong đó có tới 200 DN lỗ quá vốn chủ sở hữu; tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai, tỷ lệ số DN FDI kê khai lỗ lần lượt là 60% và 52,2%.

Hành vi chuyển giá đã diễn ra không chỉ tại các DN liên kết có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, mà còn diễn  ra giữa các bên liên kết trong nội địa Việt Nam. Sở dĩ có hiện tượng này là do Việt Nam vẫn đang thực hiện chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) theo ngành nghề kinh doanh và địa bàn đầu tư. Lợi dụng chính sách ưu đãi này, các DN trong nước thành lập một số công ty con hoạt động trong những lĩnh vực và địa bàn được ưu đãi thuế TNDN và tìm cách chuyển lợi nhuận trước thuế sang công ty con để được hưởng ưu đãi thuế hoặc chuyển lợi nhuận trước thuế từ DN có lãi sang DN bị lỗ để điều hoà lãi lỗ, tránh thuế TNDN.

Hành vi chuyển giá của DN liên kết không chỉ đơn thuần là việc điều chuyển lợi nhuận từ nơi có thuế suất cao sang nơi có thuế suất thấp hơn để tránh thuế mà còn bao gồm cả chiều ngược lại. Nguyên nhân chính là do công ty mẹ muốn thu hồi vốn nhanh hoặc chuyển lợi nhuận để thực hiện chiến lược kinh doanh đã được công ty mẹ xây dựng. Do vậy, trong quá trình phân tích rủi ro, thanh tra đối với hoạt động chuyển giá, cơ quan thuế các cấp cũng cần xây dựng tiêu chí để đánh giá mức độ chuyển giá đối với các trường hợp chuyển lợi nhuận theo chiều ngược lại như đã nêu trên.

Một số hình thức chuyển giá điển hình đã diễn ra trên thế giới cũng đã xuất hiện tại Việt Nam:

Một là, chuyển giá thông qua chuyển giao tài sản hữu hình giữa các bên liên kết: Chuyển giá thông qua góp vốn đầu tư bằng tài sản để lợi dụng chính sách thông thoáng về thu hút đầu tư của Việt Nam theo hướng phát huy lợi thế so sánh về tài nguyên, thiên nhiên, đất đai và nguồn nhân lực dồi dào, đồng thời nắm bắt được hạn chế của Việt Nam về nguồn lực tài chính và khả năng thẩm định giá trị tài sản, các nhà ĐTNN đầu tư vào Việt Nam (đầu tư 100% vốn hoặc liên doanh) thông qua việc góp vốn bằng dây chuyền máy móc, thiết bị, nguyên liệu đặc thù được định giá cao hơn nhiều so với giá trị thực tế. Việc nâng khống giá trị tài sản góp vốn sẽ đem đến một số lợi ích kinh tế cho nhà ĐTNN như: Nhà ĐTNN có thể chuyển một phần lợi ích kinh tế ngược trở lại cho mình thông qua việc trích khấu khao tài sản cố định, phân chia lợi nhuận trên tỷ lệ vốn góp gây thất thu thuế TNDN cho Nhà nước và thiệt hại cho bên liên doanh Việt Nam; Giúp nhà ĐTNN chiếm tỷ trọng vốn cao hơn so với bên liên doanh Việt Nam, từ đó nắm quyền kiểm soát và điều hành DN theo mục đích của mình, thực hiện chuyển giá gây thua lỗ triền miên khiến DN Việt Nam không còn đủ tiềm lực tài chính để tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh, phải bán lại phần vốn góp cho nhà ĐTNN. Khi đó, liên doanh sẽ trở thành DN 100% vốn ĐTNN.

Bên cạnh đó là chuyển giá thông qua việc mua, bán nguyên liệu, vật tư, hàng hoá, công cụ, dụng cụ, tài sản cố định và các tài sản hữu hình khác giữa các bên liên kết. Chuyển giá dạng này diễn ra tương đối phổ biến tại các DN liên kết trong những năm qua, kể cả các DN FDI cũng như bên liên kết nội địa tại một số ngành nghề chính như: may mặc, da giày, chế biến lương thực, thực phẩm.

Hai là, chuyển giá thông qua chuyển giao tài sản vô hình: Hình thức này thường diễn ra trong trường hợp công ty nước ngoài chuyển giao công nghệ sản xuất kinh doanh cho bên liên kết tại Việt Nam và thu tiền bản quyền. Việc định giá đối với loại tài sản vô hình mang tính đặc thù này thường rất khó khăn. Lợi dụng đặc tính này, DN liên kết tại nước ngoài thường tính và thu phí bản quyền rất cao đối với bên liên kết tại Việt Nam, khiến cho chi phí đầu vào của bên liên kết Việt Nam bị đẩy lên cao, kết quả sản xuất kinh doanh thua lỗ, Chính phủ Việt Nam bị mất quyền đánh thuế TNDN.

Ba là, chuyển giá thông qua cung cấp dịch vụ nội bộ tập đoàn: Do dịch vụ thường đa dạng và mang tính đặc thù nên rất khó định giá. Lợi dụng đặc tính này, trong những năm qua, một số tập đoàn đa quốc gia đầu tư vốn vào Việt Nam và thực hiện cung cấp các dịch vụ cho DN thành viên tại Việt Nam (dịch vụ kế toán, tài chính, tư vấn…) đồng thời tính giá dịch vụ ở mức rất cao để chuyển lợi nhuận từ DN thành viên tại Việt Nam sang bên liên kết nước ngoài nhằm giảm nghĩa vụ thuế TNDN của DN thành viên tại Việt Nam, gây thất thu cho ngân sách nhà nước.

Bốn là, chuyển giá thông qua chi trả lãi vay vốn sản xuất kinh doanh: Với cách thức này, lợi nhuận từ DN FDI tại Việt Nam đã được chuyển sang cho bên liên kết tại nước ngoài có mức thuế suất thấp hơn mức thuế suất thuế TNDN tại Việt Nam để được hưởng mức thuế suất thấp này. Hành vi này thường xảy ra tại các DN có ngành nghề sản xuất kinh doanh có sử dụng vốn lớn như: khai thác mỏ; sản xuất, lắp ráp các phương tiện vận tải...

Công tác quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá

Đến nay, về cơ bản, các quy định về xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết nêu tại Thông tư số 66/2010/TT-BTC và được dựa trên hướng dẫn của Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế (OECD), phù hợp với thông lệ quốc tế và phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam. Cùng với đó, công tác tổ chức thực hiện cũng được quan tâm đẩy mạnh triển khai và bước đầu đã mang lại kết quả khả quan. Tính đến ngày 31/12/2011, toàn Ngành đã rà soát quản lý được 3.144 DN phải kê khai thông tin giao dịch liên kết, trong đó 2.023 DN đã thực hiện kê khai, chiếm khoảng 64%. Công tác thanh tra, kiểm tra giá chuyển nhượng bắt đầu chú trọng triển khai từ năm 2010, đã đạt được một số kết quả bước đầu đáng khích lệ, đặc biệt có cuộc thanh tra giá chuyển nhượng đã điều chỉnh tăng doanh thu so với số báo cáo của DN lên 250%. Đồng thời, tổ chức “sơ kết công tác thanh tra chống chuyển giá 9 tháng đầu năm 2011” nhằm tổng hợp nhận định các hành vi chuyển giá, đưa ra bài học kinh nghiệm trong công tác thanh tra thuế đối với hoạt động chuyển giá. Kế hoạch thanh tra năm 2012 của ngành Thuế được lập trên cơ sở rà soát, phân tích rủi ro và đã xác định ưu tiên tập trung nguồn lực cho thanh tra giá chuyển nhượng, coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Ngành.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả ban đầu, trong quá trình thực hiện quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá cũng vẫn còn nhiều tồn tại cần được tháo gỡ, cụ thể: Chưa có quy định về cơ chế thoả thuận trước về phương pháp tính giá (APA) nên việc quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá chưa được áp dụng linh hoạt trong một số trường hợp có tính phức tạp và chưa khắc phục được việc tranh chấp về thuế giữa cơ quan thuế và người nộp thuế; Đặc thù của công tác thanh tra giá chuyển nhượng đòi hỏi phải mất rất nhiều thời gian để thu thập thông tin, phân tích, đối chiếu và kiểm tra số liệu. Tuy nhiên, thời hạn cho 1 cuộc thanh tra giá chuyển nhượng tại Việt Nam rất ngắn, bị giới hạn bởi quy định tại Luật Thanh tra dẫn tới không đủ thời gian để thực hiện các công việc cần thiết trong quá trình thanh tra; Chưa có quy định chế tài xử lý đủ mạnh đảm bảo tính răn đe đối với những DN có hành vi chuyển giá; Chưa có quy định về ngưỡng kê khai thông tin giao dịch liên kết (safe habour) phù hợp với điều kiện Việt Nam hiện nay để đơn giản hoá cho DN trong việc kê khai thông tin giao dịch liên kết; Quyền hạn của cơ quan Thuế còn bị giới hạn, do đó khó khăn trong quá trình xử lý các vụ việc cố tình vi phạm chuyển giá nhằm tối thiểu hoá nghĩa vụ thuế; Chưa có chế tài xử lý đủ mạnh đối với các DN có dấu hiệu không còn khả năng hoạt động nhằm tránh những hậu quả không tốt đối với nền kinh tế.

Trong thời gian qua, công tác tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực cũng còn một số tồn tại như: ngành Thuế chưa có bộ phận chuyên trách quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá, việc quản lý thuế trong lĩnh vực này được thực hiện phân tán và lồng ghép với các chức năng quản lý thuế khác. Với cơ cấu tổ chức bộ máy như vậy đã dẫn tới công tác chỉ đạo và triển khai trong toàn Ngành chưa thực sự thống nhất, chưa đồng bộ và tập trung trọng tâm, trọng điểm, tính chuyên môn hoá trong công tác quản lý chưa cao. Các cục thuế còn gặp khó khăn vướng mắc trong quá trình xử lý, không có đầu mối để liên hệ đề nghị hỗ trợ. Khắc phục tồn tại này, ngày 15/02/2012, Tổng cục Thuế đã thành lập Tổ Quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá trực thuộc Tổng cục Thuế; Năng lực quản lý của cơ quan thuế còn hạn chế, mức độ hiểu biết của công chức thuế về giá chuyển nhượng mới dừng ở cấp độ cơ bản, kiến thức về kinh tế ngành còn hạn chế nên gặp nhiều khó khăn trong phân tích hồ sơ giá chuyển nhượng; kinh nghiệm thực tiễn về quản lý giá chuyển nhượng còn hạn chế nên công tác quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá chưa thực sự đạt được kết quả như mong muốn.

Ngoài ra, chưa tổ chức được nhiều hội nghị, hội thảo, tập huấn chuyên sâu về giá chuyển nhượng; chưa biên soạn sách hỏi đáp, hướng dẫn vướng mắc trong thực hiện chính sách quản lý giá chuyển nhượng; Một số cục thuế vẫn chưa thực sự chủ động trong rà soát, đôn đốc các DN kê khai thông tin giao dịch liên kết, chưa tích cực kiểm soát chất lượng kê khai thông tin giao dịch liên kết của DN và xử phạt theo quy định đối với các trường hợp chậm kê khai; Công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với hoạt động chuyển giá mới chỉ được thực hiện trên phạm vi hẹp, chưa rộng khắp trên toàn quốc. Đến nay, mới chỉ có một số ít cục thuế thực hiện thanh tra giá chuyển nhượng.

Bên cạnh đó, hệ thống cơ sở dữ liệu còn chưa hoàn thiện, thiếu các thông tin bổ trợ quan trọng hỗ trợ cho công tác phân tích, so sánh trong thanh tra giá chuyển nhượng. Để giải quyết thực trạng này, ngành Thuế cần mua thông tin từ các tổ chức, cá nhân quốc tế chuyên cung cấp thông tin để đưa vào Hệ thống cơ sở dữ liệu của ngành làm căn cứ phân tích rủi ro, ấn định thuế đối với DN vi phạm về kê khai giao dịch liên kết.

Bên cạnh đó còn một số nguyên nhân khiến công tác quản lý hoạt động chuyển giá chưa hiệu quả như:

Thứ nhất, việc quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá trước khi ban hành Thông tư số 66/2010/TT-BTC chưa được coi trọng do có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Về nguyên nhân khách quan giai đoạn này mục tiêu của Nhà nước là tạo mọi điều kiện thuận lợi để cạnh tranh thu hút vốn ĐTNN nhằm tạo nguồn lực để phát triển kinh tế. Về nguyên nhân chủ quan là do năng lực quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá của cơ quan thuế còn hạn chế; chưa có đội ngũ công chức chuyên nghiệp, chuyên sâu về lĩnh vực giá chuyển nhượng, có kinh nghiệm thực tiễn trong việc thanh tra, kiểm tra, lập hồ sơ xác định giá thị trường đối với giao dịch liên kết.

Thứ hai, do chưa tập trung bố trí nguồn kinh phí để hoàn thiện Hệ thống cơ sở dữ liệu của ngành Thuế; việc phối hợp trao đổi, cung cấp thông tin với cơ quan quản lý và cấp phép đầu tư, cơ quan quản lý giá, cơ quan thống kê, cơ quan thuế nước ngoài còn hạn chế nên việc tìm kiếm thông tin, dữ liệu phục vụ cho việc xác định giá thị trường đối với giao dịch liên kết là rất khó khăn, đặc biệt là đối với những trường hợp mà sản phẩm, hàng hoá, máy móc thiết bị không có bán tại thị trường Việt Nam.

Thứ ba, hiện tại các nguồn thông tin đang được cơ quan thuế thường xuyên sử dụng (từ cơ quan cấp giấy chứng nhận đầu tư, từ hồ sơ kê khai thuế của các DN và từ báo cáo tài chính của DN đã được kiểm toán) còn nhiều hạn chế, cụ thể: Thông tin cung cấp từ giấy chứng nhận đầu tư thường bị hạn chế do chỉ cung cấp được thông tin về các bên liên kết không thể hiện được các giao dịch trong kỳ phát sinh đối với các bên liên kết; Thông tin từ báo cáo tự kê khai thông tin giao dịch liên kết của DN bị hạn chế do phụ thuộc vào tính trung thực khi kê khai của DN; Đối với báo cáo kiểm toán, các thông tin cung cấp mang tính độc lập, trung thực cao và theo chuẩn mực kiểm toán và kế toán yêu cầu phải trình bày và thể hiện đầy đủ thông tin quan hệ giao dịch liên kết trong phần thuyết minh báo cáo tài chính. Tuy nhiên, thực tế hiện nay chế độ báo cáo kiểm toán của các DN không mang lại đầy đủ thông tin như yêu cầu, còn nhiều DN né tránh không phản ảnh thông tin giao dịch liên kết. Hiệu quả của việc kiểm toán độc lập còn hạn chế.

Thứ tư, các DN có hành vi chuyển giá thường là các DN đa quốc gia, vốn kinh doanh lớn, có đội ngũ chuyên gia tư vấn giỏi có rất nhiều kinh nghiệm trong việc xây dựng kế hoạch tránh thuế thông qua xác định giá chuyển giao, nên để phát hiện và đấu tranh đối với các trường hợp này là rất khó khăn…

Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá

- Hoàn thiện hành lang pháp lý về quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá: Luật Quản lý thuế cần được bổ sung theo hướng tạo khung pháp lý mạnh hơn để quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá. Cụ thể, bổ sung cho phép cơ quan thuế được thực hiện cơ chế APA đối với DN để đảm bảo kiểm soát được hoạt động chuyển giá mà không tốn nguồn lực cho việc thanh tra, kiểm tra DN; quy định thời hạn thanh tra đối với hoạt động chuyển giá dài hơn so với thời hạn thanh tra thông thường để phù hợp theo tính chất phức tạp của hoạt động này; bổ sung quyền điều tra cho cơ quan thuế để đảm bảo việc thu thập thông tin và giá trị của các thông tin khi xử lý đối với các DN cố tình vi phạm pháp luật về chuyển giá; bổ sung thêm quy định về ngưỡng kê khai thông tin giao dịch liên kết để đơn giản hoá cho DN trong việc kê khai và giảm bớt sức ép về nguồn nhân lực cho cơ quan thuế; xây dựng chế tài xử phạt đủ mạnh đảm bảo tính răn đe đối với các trường hợp cố tình vi phạm nhằm bảo vệ lợi ích của quốc gia và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các DN làm ăn chân chính...

- Kiện toàn tổ chức bộ máy: Hiện Tổng cục Thuế đã thành lập Tổ Quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá. Do vậy, cần sớm lựa chọn và bố trí những công chức có năng lực về chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ và tin học làm việc tại Tổ này, tiến tới thành lập Bộ phận chuyên trách quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá tại một số cục thuế lớn; các cục thuế còn lại, giao cho một phòng thanh tra hoặc kiểm tra làm đầu mối theo dõi chung đối với hoạt động quản lý thuế trong lĩnh vực này.

- Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực và xây dựng cơ sở dữ liệu: Do hiện tượng chuyển giá đã diễn ra tương đối phổ biến và ngày càng tinh vi và khó phát hiện hơn, nên ngành Thuế cần chuẩn bị bổ sung lực lượng công chức thuế có năng lực về chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ và tin học làm công tác quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá tại tất cả các cấp; tăng cường đào tạo cho đội ngũ này về kỹ năng quản lý giá chuyển nhượng, kèm theo các bài tập tình huống gắn với thực tế, mở các lớp đào tạo chuyên sâu, trang bị kiến thức về kinh tế ngành, trau đồi kỹ năng tin học, ngoại ngữ; tổ chức các hội nghị, hội thảo để các cục thuế trao đổi kinh nghiệm trong công tác quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá; tổ chức khảo sát, học tập kinh nghiệm thanh tra, kiểm tra giá chuyển nhượng tại các quốc gia đã gặt hái được nhiều thành công trong quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá; không thực hiện luân phiên, luân chuyển đối với các công chức chuyên trách quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá sang làm công tác khác.

Hệ thống thông tin dữ liệu về người nộp thuế cần bổ sung thêm các thông tin bổ trợ quan trọng và xây dựng ứng dụng khai thác để phục vụ cho việc phân tích rủi ro, thanh tra giá chuyển nhượng. Ngoài cơ sở dữ liệu riêng của ngành Thuế, cơ quan thuế phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng cơ sở dữ liệu chung, cho phép DN có thể truy cập và thu thập thông tin, phục vụ cho việc xây dựng hồ sơ xác định giá chuyển nhượng, cung cấp cho cơ quan thuế khi có yêu cầu.

- Tăng cường kiểm soát hoạt động chuyển giá thông qua việc đẩy mạnh hiệu quả hoạt động của từng bộ phận chức năng quản lý: Trước mắt tập trung thanh tra, kiểm tra giá chuyển nhượng đối với các tập đoàn có nhiều DN thành viên; các ngành nghề có dấu hiệu rủi ro lớn về thuế do hành vi chuyển giá của DN liên kết như gia công may...; các DN đã và đang thực hiện tái cơ cấu có khả năng lợi dụng chuyển giá để tránh thuế. Xây dựng quy trình triển khai thực hiện và các kỹ năng dành riêng cho nghiệp vụ thanh tra đối với hoạt động chuyển giá; xây dựng bộ tiêu chí phân tích, đánh giá rủi ro, lựa chọn DN thanh tra giá chuyển nhượng để áp dụng chung thống nhất trên toàn quốc.

Ngoài ra, cần đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền, hỗ trợ giúp công chức thuế và người nộp thuế có thể dễ dàng tiếp cận và nhanh chóng nắm bắt được các nội dung liên quan đến vấn đề chuyển giá do nội dung này được đánh giá là trừu tượng, khó và phức tạp; đẩy mạnh công tác tuyên truyền để tranh thủ sự đồng thuận của các cấp chính quyền, xã hội và cộng đồng các DN để nâng cao tính tự giác tuân thủ, hạn chế hành vi chuyển giá. Đồng thời, rà soát, lập danh sách và theo dõi chặt chẽ những DN thuộc diện phải kê khai thông tin giao dịch liên kết. Phòng kê khai và kế toán thuế cần phối hợp chặt chẽ với phòng thanh tra, kiểm tra để thu thập, phân tích thông tin đánh giá rủi ro đối với các DN có giao dịch liên kết; kịp thời đôn đốc, nhắc nhở, xử phạt những DN không chấp hành nghĩa vụ kê khai thông tin giao dịch liên kết, đồng thời hướng dẫn các DN kê khai theo đúng quy định để nâng cao chất lượng kê khai nhằm đạt được hiệu quả quản lý ngay từ khâu kê khai...

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục