VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng
Giới thiệu tòa soạn Hotline: 0987 828 585

Thị trường giá cả năm 2012: Thành công và dự cảm năm mới

(Tài chính) Năm 2012 khép lại với nhiều điểm sáng trong ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là trong kiểm soát giá cả tiêu dùng. Đây sẽ là cơ sở kỳ vọng trong năm 2013, công tác điều hành thị trường giá cả tiếp tục đạt được các mục tiêu kế hoạch đặt ra…

Hai năm liên tiếp 2010-2011, thị trường giá cả đầy biến động với CPI lên tới gần 20%. Đầu năm 2011, Việt Nam đã phải chuyển trọng tâm chính sách từ ưu tiên tăng trưởng kinh tế sang ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát thông qua những biện pháp tại Nghị quyết số 11/2011/NQ-CP và Nghị quyết số 01/2012/NQ-CP. Trọng tâm của chính sách kiềm chế lạm phát là thắt chặt chính sách kinh tế vĩ mô đi đôi với kiểm soát chặt chẽ thị trường và giá cả.

Nhìn lại diễn biến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong năm 2012 có thể thấy mục tiêu kiểm soát lạm phát ở mức 1 con số cho cả năm bị đe doạ ngay từ đầu năm khi CPI 2 tháng đầu năm đảo chiều tăng trên 1% sau 5 tháng liên tiếp chỉ tăng dưới 1% kể từ tháng 8/2011. Nhiều hàng hóa tăng giá mạnh ngay từ những ngày đầu năm mới như nước sinh hoạt, sữa và đặc biệt là giá gas. Chỉ trong hai tháng đầu năm 2012, giá gas đã có 6 lần điều chỉnh với 4 lần tăng giá tổng cộng khoảng 20%. Bên cạnh đó, thị trường giá cả còn biến động mạnh do yếu tố lễ tết và hàng loạt nhiên liệu thiết yếu như điện, than, xăng dầu chịu áp lực tăng giá theo lộ trình cũng như sự tăng giá trên thị trường thế giới. Nhằm giảm bớt áp lực tăng giá, ngày 21/2/2012, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 25/2012/TT-BTC giảm thuế suất thuế nhập khẩu đồng loạt đối với nhóm hàng xăng dầu. Tuy nhiên, so với cuối năm 2011, CPI tháng 2 vẫn tăng tới 2,38%, trong đó, giá thực phẩm tăng tới 4,18% và giá nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 4,22%...

Tại thời điểm đó, một số ý kiến cho rằng nguy cơ lạm phát đã quay trở lại và cảnh báo khó có thể giữ được mục tiêu lạm phát 1 con số cho cả năm. Chính vì vậy, lộ trình tăng giá điện bị trì hoãn và áp lực tăng giá xăng dầu không chỉ được giảm bớt nhờ chính sách thuế nhập khẩu mà còn tích cực xả quỹ bình ổn xăng dầu.

Trái hẳn với dự báo của một số chuyên gia, thị trường giá cả từ tháng 3 đến tận tháng 8/2012 lại diễn biến rất ổn định, thậm chí thay vì lo ngại lạm phát cao do biến động giá xăng dầu lại là lo ngại nền kinh tế rơi vào giảm phát khi CPI hai tháng liên tiếp là tháng 6 và tháng 7 lần lượt giảm 0,26% và 0,29% (hiện tượng chưa hề xuất hiện kể từ tháng 3/2009). Xu thế lạm phát tính theo năm giảm dần kể từ mức đỉnh 23% vào tháng 8/2011 được khẳng định chắc chắn khi xuống đến mức đáy 5,04% vào tháng 8/2012. Sau 8 tháng, so với cuối năm 2011, CPI chỉ tăng 2,86% nên đã có thể khẳng định chắc chắn kiềm chế lạm phát cả năm 2012 sẽ được kiềm chế ở mức một con số.

Năm 2012, diễn biến thị trường giá cả ổn định liên tục suốt 6 tháng giữa năm có sự đóng góp không nhỏ của việc 5 lần liên tiếp điều chỉnh giảm giá xăng dầu (đưa về mức còn thấp hơn so với đầu năm 2012). Kết quả nổi bật của điều hành thị trường xăng dầu và điện là biến động giá cả của hai nhóm vốn thường xuyên dẫn đầu về tốc độ tăng giá trong mấy năm gần đây là nhóm giao thông và nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng đã tăng chậm hẳn lại. So với cuối năm 2011, chỉ số giá nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng tháng 7 chỉ tăng 2,89% và tháng 8 tăng 4,98% (do giá điện bình quân tăng 5% kể từ 1/7/2012) còn chỉ số giá nhóm giao thông tháng 8 thậm chí chỉ tăng 2,6% - thấp hơn cả mức tăng CPI chung. Mặc dù, giá xăng dầu lại tăng liên tiếp 4 lần từ cuối tháng 7/2012 trước khi giảm nhẹ vào tháng 11/2012 song chỉ số giá nhóm giao thông cả năm 2012 chỉ tăng 6,76% so với cuối năm trước - mức tăng thấp xa so với mức tăng tương ứng tới 19,04% của năm 2011. Bên cạnh đó, việc trì hoãn tăng giá điện thêm 5% đến tận ngày 21/12/2012 thay vì tăng ngay từ đầu quý IV/2012 cũng trực tiếp tác động làm chỉ số giá nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng cả năm 2012 chỉ tăng 9,18%, nghĩa là chỉ bằng hơn một nửa so với mức tăng tương ứng tới 17,29% của năm 2011.

Đáng chú ý là chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống vốn chiếm tỷ trọng xấp xỉ 40% trong rổ hàng hoá dịch vụ tính chỉ số giá tiêu dùng lại tăng rất thấp trong năm 2012. So với cuối năm trước, CPI nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống năm 2012 chỉ tăng vỏn vẹn có 1,01%, trong đó giá thực phẩm tăng 0,95% còn chỉ số giá nhóm lương thực giảm tới 5,66%. Đây là bức tranh hoàn toàn trái ngược với năm 2011 khi các chỉ số tương ứng lần lượt là 24,8%; 27,38% và 18,98%.

Tuy nhiên, diễn biến giá dịch vụ lại gây bất ngờ lớn và tác động mạnh tới thị trường giá cả và lạm phát năm 2012, đặc biệt là giá thuốc và dịch vụ y tế. Từ tháng 7/2012, chỉ số giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế đột ngột dẫn đầu về mức tăng 3,36% so với tháng trước rồi sang tháng 8/2012 lại tăng thêm 5,44%, riêng dịch vụ y tế tăng 7,71% và thiết lập kỷ lục tăng vào tháng 9 tăng tới 17,02%, riêng chỉ số giá dịch vụ vụ y tế tăng vọt 23,87% so với tháng trước. Mặc dù thuốc và dịch vụ y tế chỉ chiếm 5,61% trong rổ tính chỉ số giá hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng song do mức điều chỉnh quá mạnh và đồng loạt ở nhiều địa phương nên CPI tháng 9 tăng vọt lên 2,2% - bằng cả mức tăng CPI suốt 7 tháng đầu năm. Ngay lập tức, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 25/2012/CT-TTg ngày 26/9/2012 tăng cường công tác quản lý, điều hành và bình ổn giá những tháng cuối năm 2012 với nội dung chủ yếu là giãn tiến độ điều chỉnh tăng giá điện và dịch vụ y tế. Chính nhờ sự chỉ đạo kiên quyết và kịp thời của Chính phủ mà thị trường giá cả quý IV/2012 đã nhanh chóng ổn định trở lại và nguy cơ tái lạm phát cao đã bị đẩy lùi. Chỉ số giá tiêu dùng 3 tháng cuối năm 2012 tăng chậm trở lại, góp phần tích cực vào thành tích CPI cả năm 2012 chỉ tăng 6,81% so với cuối năm trước.

Rõ ràng, diễn biến thị trường giá cả nói riêng, diễn biến lạm phát nói chung năm 2012 ổn định vượt ngoài sự mong đợi. Ngoại trừ 2 tháng đầu năm tăng trên 1% và tháng 9 tăng tới 2,2% do điều chỉnh mạnh giá dịch vụ y tế, suốt từ tháng 3 đến cuối năm, CPI đều tăng dưới 1% mỗi tháng bất chấp giá điện tăng bình quân 5% và giá xăng dầu tăng trên 10%. Nếu loại trừ yếu tố chủ động tăng giá dịch vụ y tế, giá điện và giá xăng dầu thì lạm phát năm 2012 chỉ khoảng 5-6% đã góp phần tích cực ổn định kinh tế vĩ mô không chỉ năm 2012 mà cả năm 2013 tới đây.

Sự cơ bản ổn định của thị trường giá cả năm 2012 có thể được duy trì trong năm 2013 hay không không chỉ phụ thuộc vào việc rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết từ quản lý điều hành thị trường giá cả các nguyên nhiên vật liệu thiết yếu như điện, than, xăng dầu, gas, lương thực thực phẩm… hay dịch vụ quan trọng như giáo dục và y tế mà còn phụ thuộc vào những biến động của các yếu tố vĩ mô tác động tới thị trường giá cả và lạm phát năm 2012 có tiếp diễn trong năm 2013.

Bên cạnh những yếu tố tác động tới thị trường giá cả năm 2012 đã phân tích ở trên, sự ổn định của thị trường giá cả năm 2012 là kết quả và chịu sự chi phối rất lớn của sự tăng chậm lại rõ rệt của tổng cầu, cả tổng cầu tiêu dùng và tổng cầu đầu tư, cả tổng cầu trong nước và xuất khẩu.

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội quý I/2012 đột ngột tăng lên 36,2% GDP từ mức 34,6% GDP năm 2011 trước khi giảm chút ít xuống 34,5% GDP sau 6 tháng rồi lại tăng lên 35,8% GDP sau 9 tháng, tuy thấp hơn hẳn mức đầu tư giai đoạn 2006 - 2010 nhưng vẫn tương đương giai đoạn 2001-2005. Tuy nhiên, tổng mức đầu tư toàn xã hội cả năm 2012 bất ngờ hạ xuống còn 33,5% GDP - mức thấp nhất trong hơn 10 năm qua.

Tổng cầu tiêu dùng tuy có cải thiện hơn so với năm 2011 nhưng vẫn tăng thấp hơn nhiều so với những năm trước. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng nếu loại trừ yếu tố giá chỉ tăng 6,2% - chỉ bằng một nửa so với giai đoạn 2007-2010.

Diễn biến thị trường giá cả nói riêng, diễn biến lạm phát nói chung năm 2012 ổn định vượt ngoài sự mong đợi. Lạm phát năm 2012 chỉ khoảng 5-6% đã góp phần tích cực ổn định kinh tế vĩ mô không chỉ năm 2012 mà cả năm 2013 tới đây.

Hệ quả là mặc dù sản xuất công nghiệp chững lại với chỉ số sản xuất công nghiệp chỉ tăng có 4,8% song do sức mua tăng chậm với chỉ số tiêu thụ hàng công nghiệp chế biến chế tạo chỉ tăng khoảng 4% nên chỉ số hàng tồn kho của nhóm hàng này tăng tới hơn 20% so với cùng kỳ năm trước.

Bên cạnh đó, mặc dù tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2012 tăng 18,3% đạt 114,6 tỷ USD (nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tăng 18,9%) song lại chủ yếu do thành tích xuất khẩu của khu vực có vốn FDI còn khu vực kinh tế trong nước chỉ xuất khẩu được 42,3 tỷ USD, tăng 1,3%. Do sức mua trong và ngoài nước đều tăng chậm nên phần lớn doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn về đầu ra cho các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ suốt cả năm 2012.

Ngoài ra, thị trường giá cả năm 2012 còn được sự hỗ trợ của ổn định tỷ giá hối đoái suốt cả năm 2012. Chỉ số giá vàng tháng 12/2012 chỉ tăng 0,4% so với năm trước, bình quân cả năm tăng 7,83% còn chỉ số giá USD Mỹ thậm chí còn giảm 0,96% và bình quân cả năm tăng có 0,18%. Song song với ổn định tỷ giá hối đoái và kiềm chế lạm phát, mặt bằng lãi suất cũng được kéo giảm xuống rõ rệt trong năm 2012 nhằm ổn định thị trường tiền tệ ngân hàng. Mặc dù trần lãi suất huy động đã giảm mạnh từ 14% năm 2011 xuống 8% vào cuối năm 2012 nhưng tổng tiền gửi bằng VND của dân cư vẫn tăng tới 36% và tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 20% trong khi tổng tín dụng chỉ tăng khoảng 7% với lãi suất cho vay 12-15%/năm - giảm nhiều so với mức 25%/năm của năm 2011.

Tóm lại, dấu ấn rõ rệt nhất của thị trường giá cả năm 2012 là đã tái lập được sự ổn định sau hai năm 2010-2011 đầy bất ổn, góp phần tích cực vào mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, sự ổn định của thị trường giá cả năm 2012 chủ yếu chịu sự chi phối của tổng cầu tăng thấp, cả cầu đầu tư và cầu tiêu dùng bên cạnh niềm tin kinh doanh và niềm tin tiêu dùng không cao. Sang năm 2013, diễn biến thị trường giá cả một mặt vẫn chịu tác động bởi các chính sách quản lý thị trường giá cả truyền thống cũng như xu thế tăng chậm của tổng cầu đầu tư và tiêu dùng, mặt khác, lại chịu ảnh hưởng của các chính sách kích cầu, tháo gỡ khó khăn cho DN và cố gắng đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn năm 2012. Chính vì vậy, nhiệm vụ duy trì sự ổn định của thị trường giá cả năm 2013 sẽ phức tạp và khó khăn hơn nhiều so với năm 2012. Theo đó, các cơ chế chính sách trực tiếp và gián tiếp tác động đến thị trường giá cả yêu cầu sự thận trọng hơn nhiều lần, kể cả từ hoạch định đến thực thi chính sách.

Bài đăng Tạp chí Tài chính số 1-2013

THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM