VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng

Tính tự chủ của nền kinh tế qua góc nhìn xuất khẩu

Sự đồng bộ của 3 nhóm giải pháp nhằm đảm bảo tính tự chủ của xuất khẩu nước ta để khi thị trường thế giới biến động, xuất khẩu nước ta ít bị phụ thuộc nhất. Thông qua đó, nâng cao khả năng tự chủ của toàn nền kinh tế.

Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục có khả năng tăng trưởng mạnh

Sẽ có thêm chính sách tài chính hỗ trợ phát triển sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu

Cổ phần hóa mang lại động lực mới cho doanh nghiệp phát triển

Giải đáp thủ tục tạm ứng kinh phí ngân sách nhà nước cho nhiệm vụ khoa học và công nghệ

Hoàn thiện chính sách về đầu tư theo hình thức đối tác công tư

Phát triển kinh tế tư nhân nhằm thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội


Năm 2017 và 4 tháng đầu năm 2018 là quãng thời gian đặc biệt thành công về xuất khẩu. Nhiều người liên tưởng đến thành ngữ bóng đá “cú ăn 3” khi nói về xuất khẩu. 

Thứ nhất, quy mô xuất khẩu tăng đột biến. Kim ngạch xuất khẩu năm 2017 đạt 214 tỷ USD, tương đương 98% GDP của năm (220 tỷ USD). So sánh 5 năm gần đây, quy mô xuất khẩu/GDP tăng chưa đầy 4% mỗi năm. Riêng năm 2017 tăng xấp xỉ 11% so với năm trước.

Thứ hai, sự chuyển dịch trong cơ cấu hàng xuất khẩu ngày càng rõ nét hơn. Nhóm hàng công nghiệp chế biến chế tạo tiếp tục là động lực chính trong tăng trưởng xuất khẩu, chiếm trên 80%; nhiều mặt hàng đạt mức kim ngạch ấn tượng, như điện thoại và linh kiện trên 45 tỷ USD, máy vi tính và linh kiện xấp xỉ 26 tỷ USD…
Thứ ba, lần đầu tiên khối doanh nghiệp trong nước sau nhiều năm xuất khẩu giảm hoặc tăng xung quanh con số 5%, đến 2017 đã tăng trưởng ở mức 2 con số với 17,1%.
3 điểm nhấn nói trên, sẽ còn được dư luận và doanh nghiệp quan tâm nhắc đến. Nhưng điều khiến nhiều người nhớ nhất là, chỉ gần hai năm trước, tại Hội nghị giao ban tháng 5/2016 của ngành Công Thương, tăng trưởng xuất khẩu chỉ 6,6%, thấp hơn so với mức tăng 7,3% cùng kỳ năm trước, Bộ trưởng Công Thương đã đưa ra một hệ thống các giải pháp, bao gồm: 
2 năm qua ,Bộ Công Thương thực hiện 3 đợt cải cách TTHC, bãi bỏ tổng cộng 76 TTHC, đơn giản hóa 284 TTHC; cắt giảm 675 điều kiện kinh doanh; xóa bỏ 420/720 mã HS kiểm tra trước thông quan, thổi 1 luồng gió mới nâng cao năng lực sản xuất của doanh nghiệp nước ta.

Cũng trong khoảng thời gian này, Bộ Công Thương là một trong những Bộ ngành được đánh giá cao trong việc ứng dụng CNTT vào công tác điều hành và triển khai dịch vụ công trực tuyến để phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn.

Nhớ hơn cả, khi nói đến những giải pháp, Bộ trưởng nói chậm rãi, ngôn ngữ tương đối gọt rũa, chắt lọc để bộ phận tham mưu dễ dàng soạn thảo thành Chỉ thị phục vụ công tác điều hành.
Nhưng khi nói đến thị trường FTA, Bộ trưởng bỗng bình luận tạt ngang, giọng gay gắt: Có diễn giải thế nào tôi cũng không thông, FTA đầu tiên của Việt Nam là Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (Atiga), mà xuất khẩu sang ASEAN 5 tháng đầu năm 2016 giảm 13,4% so với cùng kỳ năm trước, tình trạng này đã diễn ra nhiều năm, dứt khoát phải có giải pháp.
1 tháng sau, đầu tháng 8/2016, Mutrap - một dự án do Liên minh châu Âu tài trợ và Bộ Công Thương chủ trì thực hiện đã tổ chức Hội thảo tập huấn “Quy tắc xuất xứ và các biện pháp phi thuế quan trong các FTA, Sự kiện là một trong chuỗi các hội thảo của Dự án EU-MUTRAP tổ chức trong năm 2016-2017 nhằm phổ biến cho doanh nghiệp các cam kết quan trọng trong các Hiệp định FTA.

Cùng với đó, các hoạt động đoàn ra, đoàn vào của Bộ Công Thương hết sức nhộn nhịp với công tác XTTM, mở rộng thị trường xuất khẩu, đưa hàng Việt Nam vào hệ thống phân phối hiện đại nước ngoài.

Chỉ riêng Trung Quốc, nước có nhiều cam kết thương mại song phương và đa phương (Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc) với Việt Nam; bên cạnh các cuộc làm việc song phương giữa Bộ Công Thương - Bộ Thương mại 2 nước, Ủy ban Hợp tác Kinh tế Thương mại Việt - Trung, có rất nhiều hoạt động thúc đẩy hợp tác trực tiếp với cấp địa phương nước bạn.

Năm 2016, 2017, Bộ Công Thương đã chủ trì tiếp các đoàn của các tỉnh, thành phố Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Cát Lâm, Trùng Khánh, Sơn Đông, Sùng Tả… Thông qua đó, làm rõ được nhu cầu, cơ hội của doanh nghiệp 2 nước trong các hình thức thương mại chính ngạch, tiểu ngạch, thương mại qua biên giới, chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất…

Các hoạt động này đã giúp doanh nghiệp trong nước tận dụng tương đối tốt cơ hội từ hội nhập. Xuất khẩu sang các thị trường FTA đều tăng cao trong năm 2017. Asean tăng 24,2%; Trung Quốc tăng 61,5%; Hàn Quốc tăng 30%; Chi lê tăng 24,1%; Australia tăng 15,1%; Nhật Bản tăng 14,8%...

Tỷ lệ tận dụng ưu đãi từ thị trường FTA đạt mức khá cao. 51% giá trị xuất khẩu sang Hàn Quốc được hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi. Với Ấn Độ đạt 48%; Chi Lê 69%; Nhật Bản và ASEAN cùng 35%.

Đặc biệt, có 3 con số cho thấy sự chuyển biến mạnh mẽ. Một là, nếu nhiều năm trước, xuất khẩu sang ASEAN liên tục giảm, 6 tháng đầu năm 2016 giảm 12,8%; cả năm 2016 mức giảm chỉ còn 4,4%, năm 2017 tăng 24,2%, 4 tháng đầu năm 2018 tăng 16,4%. 
Hai là, mức thâm hụt thương mại với Trung Quốc đã giảm mạnh. Năm 2015 nhập siêu từ Trung Quốc 32 tỷ USD; 2016 giảm xuống 28 tỷ USD, 2017 giảm tiếp xuống 23,2 tỷ USD.
Ba là, nhìn trên tổng thể, năm 2015 nước ta nhập siêu 3,5 tỷ USD; 2016 xuất siêu 2,52 tỷ USD; 2017 xuất siêu 2,7 tỷ USD; 4 tháng đầu năm 2018 xuất siêu 3,39 tỷ USD.
Mặc dù 2 năm qua, xuất khẩu có những bước tiến mạnh mẽ, tại Hội nghị toàn quốc về giải pháp tổng thể thúc đẩy xuất khẩu cuối tháng 4/2018, Bộ Công Thương đã chỉ ra, ngay trong những ưu điểm của “cú ăn 3” nói trên cũng có thể ẩn chứa những rủi ro nếu quá phụ thuộc vào chúng.
Quy mô xuất khẩu/GDP tăng mạnh từ 87,1% năm 2016 lên 98% năm 2017 đã đưa xuất khẩu trở thành một trong những nhân tố động lực đối với tăng trưởng toàn nền kinh tế; nhưng ngược lại, chúng lại đặt nền kinh tế ở trạng thái nhạy cảm hơn, nhất là trong bối cảnh chủ nghĩa bảo hộ đang quay lại; các rào cản thương mại mới được dựng lên; nguy cơ chiến thương mại giữa các cường quốc tuy không lớn nhưng vẫn âm ỉ…
Nhóm hàng công nghiệp chế biến chế là động lực chính trong tăng trưởng xuất khẩu, nhưng ở mặt bên kia, tăng trưởng xuất khẩu đang dựa vào một số mặt hàng chủ lực, riêng 2 mặt hàng điện thoại và máy vi tính do khối FDI nắm giữ đã 71 tỷ USD, chiếm 33% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Điều này tạo ra tính bất ổn do phụ thuộc rất mạnh vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu. Mỗi khi có biến động xảy ra với chuỗi cung ứng, như chiến tranh thương mại, xuất khẩu của Việt Nam sẽ chịu tác động mạnh hơn.
Sự phụ thuộc cũng thể hiện ở khía cạnh thị trường của một số mặt hàng nông sản, thuỷ sản chưa đa dạng. Xuất khẩu nhóm này đang đổ dồn vào khu vực châu Á, chiếm tới 52,7%. Đặc biệt, một số mặt hàng như sắn, cao su, thanh long... phụ thuộc duy nhất một thị trường. Nếu tăng trưởng khu vực này chững lại, xuất khẩu nông sản giảm xuống ngay…

Tất nhiên, đây chỉ là những giả định.

Nhưng có câu, “Ngày nắng ấm phải phòng bị hôm bão giông”. Đưa ra những giả định (một dạng của dự báo) không chỉ để dự phòng cho những tình huống xấu nhất mà chủ yếu nhằm đưa ra các phương án hóa giải.

Tại Hội nghị về giải pháp tổng thể thúc đẩy xuất khẩu, tháng 4 năm 2018, Bộ Công Thương đưa ra 3 nhóm giải pháp.

Nhóm giải pháp thứ nhất là tác động vào phía cung, nhằm thúc đẩy sản xuất, tạo nguồn hàng có chất lượng cho xuất khẩu và nâng cao giá trị gia tăng.

Nhóm giải pháp thứ hai, tác động vào phía cầu bao gồm đàm phán mở cửa thị trường, tăng cường các biện pháp nhằm duy trì thị trường phát triển ổn định.

Nhóm giải pháp thứ ba gồm các hoạt động hỗ trợ xuất khẩu như cải cách thể chế, hoàn thiện hành lang pháp lý đối với hoạt động xuất khẩu.

Sự đồng bộ của 3 nhóm giải pháp nhằm đảm bảo tính tự chủ của xuất khẩu nước ta để khi thị trường thế giới biến động, xuất khẩu nước ta ít bị phụ thuộc nhất. Thông qua đó, nâng cao khả năng tự chủ của toàn nền kinh tế.

Theo Nguyễn Văn; Duy Kiên/tapchicongthuong.vn

Có thể bạn quan tâm