VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng
Giới thiệu tòa soạn Hotline: 0987 828 585
Kinh nghiệm quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh thương mại điện tử

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

Kinh nghiệm quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh thương mại điện tử

Thương mại điện tử đã phát triển nhanh chóng và tác động mạnh mẽ tới hoạt động đầu tư thương mại toàn cầu. Tại Việt Nam, Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 có hiệu lực từ ngày 1/7/2020, đã bổ sung những quy định liên quan đến quản lý thuế hoạt động thương mại điện tử, tuy nhiên, quản lý thuế đối với hoạt động thương mại xuyên biên giới đang đặt ra những thách thức không nhỏ đối với Việt Nam. Trong bài viết, nhóm tác giả phân tích những thách thức đặt ra đối với công tác quản lý thuế; kinh nghiệm quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động kinh doanh thương mại điện tử ở một số quốc gia, từ đó đề xuất một số giải pháp phù hợp với bối cảnh của Việt Nam.

Hà Nội truy thu thuế với cá nhân kinh doanh thương mại điện tử

Động lực mới phát triển thương mại điện tử đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu

Xử lý vi phạm trong thương mại điện tử: Không mạnh tay sẽ “nhờn” luật

Chợ thương mại điện tử: Thay đổi tư duy mua sắm

Thách thức đặt ra trong quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử

Sự phát triển của các hình thức kinh doanh dựa trên nền tảng công nghệ đã phá vỡ các nguyên tắc đánh thuế trước đây, cụ thể như đối với thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là nguyên tắc đánh thuế theo tình trạng cư trú và nguyên tắc đánh thuế theo nguồn phát sinh thu nhập. Các nguyên tắc này giả định rằng, các tổ chức khó có thể thực hiện hoạt động thương mại hoặc kinh doanh ở nước ngoài một cách thường xuyên, nếu họ không thành lập một “cơ sở thường trú”. Tuy nhiên, thương mại điện tử (TMĐT) cho phép bất cứ cá nhân hoặc tổ chức nào có khả năng tiến hành hoạt động kinh doanh thường xuyên ở nước ngoài thông qua các trang website, máy chủ và nhà cung cấp dịch vụ internet mà không cần mở các chi nhánh kinh doanh.

Hơn nữa, sự phát triển không đồng đều giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ, đặc biệt là sự khác biệt về trình độ quản lý thu, các chính sách ưu đãi thu hút đầu tư nước ngoài đã và đang tạo cơ hội cho các công ty đa quốc gia (MNE) tránh các nghĩa vụ thuế thông qua việc thực hiện các hành vi gây xói mòn cơ sở thuế và chuyển dịch lợi nhuận (BEPS). Nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nhiều quốc gia đã tiến hành giảm thuế TNDN, dẫn tới hiện tượng cạnh tranh về thuế và kết quả là thuế suất thuế TNDN ở một số quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển giảm xuống mức rất thấp. Từ đó, tạo cơ hội cho các MNE dịch chuyển lợi nhuận từ chi nhánh ở quốc gia có thuế suất thuế TNDN cao sang quốc gia có thuế suất thấp. Theo báo cáo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) (2013), các MNE thường dùng các kỹ thuật sau để tránh thuế: (i) Sử dụng các khoản vay lớn với lãi suất cao từ công ty mẹ; (ii) TMĐT hoá hoạt động kinh doanh; (iii) Tránh hình thành cơ sở thường trú tại quốc gia nước ngoài.

Từ những thách thức này, tháng 11/2015, các quốc gia OECD/G20 đã hợp tác và thông qua gói giải pháp tổng thể gồm 15 hành động nhằm ngăn chặn BEPS, trong đó gói hành động đầu tiên OECD/G20 khuyến nghị thực hiện là “Giải quyết thách thức về thuế trong nền kinh tế số” (OECD, 2015). Trong đó, OECD đưa ra 10 đề xuất cải cách thuế sau: (1) Đề xuất giá trị người dùng; (2) Đề xuất giá trị thị trường vô hình; (3) Khái niệm “hiện diện kinh tế quan trọng”; (4) Mở rộng phạm vi áp dụng của các khoản khấu trừ thuế và quyền đánh thuế tại nguồn phát sinh thu nhập; (5) Công thức phân bổ lợi nhuận thặng dư; (6) Công thức phân bổ lợi nhuận toàn cầu; (7) Thuế đánh trên dòng tiền tại quốc gia điểm đến; (8) Nguyên tắc đánh thuế dựa trên tổng thu nhập; (9) Nguyên tắc đánh thuế trên tổng thu nhập dựa trên quy tắc lợi nhuận chuyển hưởng; (10) Đánh thuế trên các khoản thanh toán gây xói mòn cơ sở thuế.

Đề xuất (1) và (2) tập trung vào việc xác định giá trị của thị trường kinh doanh để phân chia lợi nhuận. Hai đề xuất này coi phần lợi nhuận không thường xuyên của một MNE được tạo ra bởi người dùng và thị trường ở nước ngoài, sau đó phần lợi nhuận thặng dư này sẽ được phân bổ cho các quốc gia nước ngoài đó. Tuy nhiên, các quốc gia hiện nay chưa đồng thuận về cách xác định và phân phối phần lợi nhuận thặng dư này. Hơn nữa, đối với phần lợi nhuận thường xuyên, các quốc gia vẫn phải sử dụng các phương thức xác định giá chuyển nhượng hiện hành. Đề xuất (3), (4) và (10) mở rộng khái niệm cơ sở thường trú và tăng phạm vi quyền đánh thuế theo nguồn phát sinh thu nhập và việc sử dụng phương pháp khấu trừ thuế. Đề xuất (5) và (6) đưa ra gợi ý về việc sử dụng các công thức phân bổ nhằm phân chia phần lợi nhuận thặng dư và lợi nhuận toàn cầu giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ. Đề xuất (7) đưa ra phương án thay thế thuế TNDN hiện hành bằng một loại thuế mới đánh trên phân chênh lệch giữa các khoản thu và chi của DN, tương tự như thuế GTGT. Đề xuất (8) và (9) đưa ra phương án đánh thuế dựa trên nguyên tắc tổng thu nhập chịu thuế và quy tắc lợi nhuận chuyển hướng.

Các biện pháp G20/OECD này bao gồm một số biện pháp đơn giản nhưng cũng có những biện pháp rất phức tạp. Dựa trên bộ giải pháp đề xuất của G20/OECD, hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện đang tập trung áp dụng đề xuất (3), (9) và (10). Biện pháp số (10) là biện pháp đang được sử dụng rộng rãi bởi các quốc gia trên thế giới để hạn chế các hành vi BEPS, bao gồm cả Việt Nam.

Đề xuất số (10) nhằm vào các khoản thanh toán cho các bên liên quan dẫn tới nguy cơ xói mòn cơ sở thuế (như chi phí lãi vay hoặc chi phí bản quyền), đồng thời, các khoản thanh toán này không chịu mức thuế tối thiểu hiện hành tại quốc gia nhận thanh toán. Những khoản thanh toán này sẽ không được tính vào chi phí được trừ khi xác định số thuế TNDN phải nộp hoặc sẽ không được bảo vệ trong các điều khoản của các hiệp ước liên quan tới giới hạn thuế và miễn thuế tại quốc gia phát sinh thu nhập. Ưu điểm của biện pháp này là đơn giản và dễ thực hiện: người nộp thuế có thể tự đánh giá và xác định tính chất của các khoản thanh toán này và cung cấp thông tin cho cơ quan thuế. Nhược điểm là gây gánh nặng hành chính cho DN, đặc biệt là các DN ở các quốc gia đang phát triển trong việc tiếp cận thông tin và các cơ sở dữ liệu để xác định giá chuyển nhượng và hoàn thiện hồ sơ giao dịch liên kết.

Đối với trường hợp của Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 20/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 quy định về quản lý thuế đối với DN có giao dịch liên kết Theo đó, Nghị định số 20/2017/NĐ-CP quy định: Tổng chi phí lãi được khấu trừ thuế mà người nộp thuế phải chịu trong kỳ tính thuế không vượt quá 20% thu nhập trước lãi vay, thuế, khấu hao và khấu hao (EBITDA). Chi phí lãi vay vượt mức được nhiều nhà đầu tư FDI sử dụng để giảm số tiền thuế phải nộp tại Việt Nam. Quy định này đã có tác động tích cực đến nguồn thu thuế TNDN tại Việt Nam. Việc áp dụng 20% giới hạn EBITDA đã dẫn tới việc 533 triệu USD chi phí lãi vay không được trừ trong vòng 6 tháng kể từ khi quy định này có hiệu lực.

Đề xuất (3) đưa ra khái niệm về “Hiện diện kinh tế quan trọng” (SEP). Đề xuất này trao quyền đánh thuế cho các quốc gia đối với các cơ sở kinh doanh có mối quan hệ kinh tế lâu dài với các quốc gia, ngay cả khi cơ sở kinh doanh không có bất cứ hiện diện vật lý tại quốc gia đó. Biện pháp này được đánh giá là có khả năng phù hợp với nhu cầu của các quốc gia đang phát triển, với điều kiện là kèm theo một công thức phân bổ lợi nhuận thống nhất cho các SEP. Về nguyên tắc, đề xuất SEP có tiềm năng trở thành đề xuất ít phức tạp nhất và công thức phân bổ của đề xuất này có khả năng nhận được sự đồng thuận quốc tế.

Đề xuất (9) đưa ra khái niệm “Lợi nhuận chuyển hướng”, cho phép mọi quốc gia hoặc vùng lãnh thổ liên quan tới chuỗi giá trị toàn cầu đánh thuế trên phần lợi nhuận chuyển hưởng sang các khu vực có thuế suất thấp. Phương pháp đánh thuế này được đánh giá là khá đơn giản nhưng lại có khả năng áp dụng rộng rãi. Đặc biệt, đối với các quốc gia đang phát triển, điểm hấp dẫn chính của phương pháp này là phân bổ phần lợi nhuận chịu thuế suất thấp cho tất cả các quốc gia trong chuỗi cung ứng, thay vì phân bổ cho trụ sở và do đó trực tiếp nhắm đến phần lợi nhuận chuyển hướng từ các quốc gia đang phát triển.

Kinh nghiệm của các nước trong quản lý thuế hoạt động kinh doanh thương mại điện tử

Vương quốc Anh

 Thuế đánh trên phần thu nhập chuyển hướng (DPT) của Anh là một loại thuế riêng biệt, đánh thuế ở mức 25% (nghĩa là cao hơn mức thuế suất DN thông thường 19% năm 2017 tại Anh), áp dụng cho các thu nhập được chuyển ra nước ngoài từ quốc gia này. Luật Thuế DPT có hiệu lực từ ngày 1/4/2015 (HMRC, 2015), sắc thuế này được ban hành kết hợp với một chế độ hành chính cụ thể như: người nộp thuế phải làm việc với cơ quan thuế nhằm xác định nghĩa vụ thuế cuối cùng cho các kỳ tính thuế năm. Các khoản thu nhập chuyển ra nước ngoài được xác định theo 2 quy tắc cơ bản: quy tắc tránh thành lập cơ sở thường trú (PE) và quy tắc cung cấp thay thế.

Quy tắc tránh thành lập PE: Khía cạnh này của DPT tập trung vào các công ty không thường trú đã tham gia vào các thỏa thuận kinh doanh để tránh thành lập cơ sở thường trú tại Vương quốc Anh. Quy tắc này kết hợp với ngưỡng doanh số cao để hạn chế tác động (và chế độ tuân thủ) đối với các công ty đa quốc gia. Nhìn chung, các DN vừa và nhỏ không thuộc phạm vi áp dụng của thuế DPT. Theo quy định của Anh, DN vừa và nhỏ là DN có ít hơn 250 người lao động và có doanh thu hàng năm không vượt quá 50 triệu EUR và/hoặc có tổng tài sản không vượt quá 43 triệu EUR.

Quy tắc thành lập PE còn nhắm vào một loại cấu trúc thương mại cụ thể như: việc sử dụng một "công ty thanh toán" ở nước ngoài được hỗ trợ bởi nhân viên tại địa phương, với mục đích cung cấp hàng hóa và dịch vụ từ xa cho khách hàng trực tiếp từ công ty thanh toán ở nước ngoài, thay vì từ công ty con hoặc chi nhánh địa phương thực hiện hoạt động bán hàng thực chất. Trên thực tế, đây là mô hình thường được các DN cung cấp hàng hóa và dịch vụ kỹ thuật số sử dụng, do đó, cơ quan quản lý thuế cho rằng, một trong các mục đích chính của mô hình kinh doanh này là để tránh thành lập PE và tránh nộp thuế thu nhập ở Anh, vì vậy, mô hình này thuộc đối tượng áp dụng của thuế DPT.

Quy tắc cung cấp thay thế cho các giao dịch nội bộ: Khía cạnh này của DPT dựa trên một số yếu tố của nguyên tắc xác định giá chuyển nhượng. Nó tập trung vào các giao dịch liên kết liên quan đến các DN có hoặc không có cơ sở thường trú tại Anh. Các giao dịch liên kết này được sử dụng bởi các công ty đa quốc gia thuộc tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế. Quy tắc cung cấp thay thế có thể áp dụng cho cả các khoản khấu trừ quá mức (ví dụ: thanh toán xói mòn cơ sở) và thu nhập dưới mức (ví dụ: chuyển nhượng tài sản với giá thấp, tính phí dịch vụ thấp quá mức), trong trường hợp 2 yêu cầu sau được đáp ứng:

- “Số thuế phải nộp không tương xứng” và “kiểm định 80% giá trị thanh toán”: Khoản khấu trừ quá mức hoặc khoản thu nhập chuyển ra nước ngoài từ Vương quốc Anh phải chịu thuế ở nước ngoài thấp hơn 80% mức giảm thuế của Vương quốc Anh.

- “Kiểm định lợi ích kinh tế không đáng kể”: Nếu lợi ích về kinh tế hoặc tài chính của các giao dịch nội bộ là không đáng kể, thì cơ quan thuế có cơ sở để cho rằng việc dàn xếp các giao dịch này để đạt được các lợi ích về thuế.

Để xác định cơ sở thuế, việc xem xét đánh giá các giao dịch trên có thể được bỏ qua hoàn toàn nếu cơ quan thuế có cơ sở hợp lý, khi cho rằng giao dịch sẽ không được ký kết nếu không có lợi ích thuế. Khi xác định trách nhiệm DPT ban đầu (thông báo nộp thuế ban đầu), DN có thể bị phạt 30% nếu "hợp lý để kết luận" rằng chi phí bị tăng lên quá mức giá thị trường. Tuy nhiên, bất kỳ trách nhiệm thuế DPT cuối cùng nào cũng được xác định dựa trên nguyên tắc giá thị trường.

Từ các đặc điểm trên, có thể thấy thuế DPT đóng vai trò như một biện pháp ngăn chặn và tăng mức độ tuân thủ các quy tắc thuế thu nhập. Cụ thể, DN có thể tránh mức thuế DPT 25% bằng việc đánh giá lại giá chuyển nhượng phục vụ mục đích tính thuế DN trong kỳ tính thuế (12 tháng). Khi đó, DN sẽ được áp dụng mức thuế suất TNDN tiêu chuẩn 19%. Điều này tạo ra động lực mạnh mẽ cho các công ty đa quốc gia trong việc tránh nằm trong phạm vi áp dụng của thuế DPT và trả thuế thu nhập bổ sung, thường là bằng cách thay đổi cấu trúc thương mại của mình và/ hoặc tự điều chỉnh các thỏa thuận chuyển giá của họ để phản ánh đầy đủ lợi nhuận phát sinh trên lãnh thổ nước Anh.

Trên thực tế, Cơ quan thuế Anh báo cáo rằng, phần lớn các MNE có khả năng trong phạm vi DPT đã được thực hiện hoặc dự kiến sẽ thực hiện các bước cần thiết để tránh trách nhiệm thuế DPT. Những cải tiến về tính minh bạch thuế có khả năng thúc đẩy đáng kể việc giải quyết tranh chấp giá chuyển nhượng, tăng tuân thủ các quy tắc thuế thu nhập và cuối cùng là tăng thu ngân sách. Theo báo cáo của Cục Thuế và Hải quan Anh, nguồn thu từ thuế DPT tại Anh đạt tổng cộng 31 triệu GDP (46 triệu USD) trong năm 2015/2016; 281 triệu GBP (376 triệu USD) trong năm 2016/2017; và đạt 388 triệu GBP (khoảng 544 triệu USD) trong năm 2017/2018 (HMRC, 2018).

Australia

Tương tự như trường hợp của Anh, Australia cũng ban hành Luật Thuế DPT nhằm xử lý hoạt động DN nước ngoài tránh thành lập PE nhằm tránh nộp thuế TNDN tại Australia.

Luật Thuế DPT của Australia được thông qua vào tháng 4/2017 (FRL, 2020), áp dụng cho cả DN có hoặc không có cơ sở thường trú, đồng thời áp dụng cho các công ty đa quốc gia phát sinh giao dịch liên kết xuyên biên giới. Các giao dịch này bao gồm hoạt động cấp phép hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ, cho thuê thiết bị, cấp tín dụng và dịch vụ quản lý. Quy định mới có thể áp dụng cho cả các khoản khấu trừ quá mức và thu nhập thấp hơn thực tế, với điều kiện là các giao dịch này có "mục đích chính hoặc một trong nhiều mục đích chính là" đạt được các lợi ích về thuế. Theo Luật Thuế DPT, việc cơ quan thuế xác định “mục đích chính” của các giao dịch liên kết không bị ảnh hưởng bởi việc người nộp thuế cung cấp thiếu hoặc không đầy đủ thông tin. Tương tự, cơ quan thuế không bắt buộc phải chủ động tìm kiếm thêm thông tin để đưa ra kết luận về mục đích của các giao dịch.

Để giảm thiểu rủi ro trong việc xác định mục đích chính của các giao dịch liên kết, một số điều kiện được áp dụng để dự đoán khả năng áp dụng thuế DPT lên các DN. Cụ thể, các giao dịch liên kết thuộc trường hợp miễn thuế DPT thoả mãn các điều kiện sau cần:

- Ngưỡng tối thiểu: Tổng số thu nhập bao gồm các khoản lợi nhuận chuyển ra nước ngoài và bất kỳ thu nhập nào phát sinh trên lãnh thổ Australia của công ty đa quốc gia không vượt quá 25 triệu AUD (tương đương 19 triệu USD);

- Bản chất kinh tế của giao dịch: Nếu cơ quan thuế nhận thấy “hợp lý để kết luận” rằng, lợi nhuận mà các bên được hưởng liên quan tới các giao dịch liên kết tương xứng với đóng góp của mỗi bên.

- Kiểm định liên quan tới thuế nộp ở nước ngoài: Nếu cơ quan thuế nhận thấy “hợp lý để kết luận” rằng, số thuế nộp ở nước ngoài cho khoản thu nhập chuyển ra ngoài lãnh thổ Australia chiếm hơn 80% khoản thuế được giảm ở Australia. Nghĩa là, khoản thu nhập chuyển ra nước ngoài này phải nộp thuế với thuế suất tối thiểu 24% ở nước ngoài.

Cơ quan thuế liên quan tới các giao dịch này sẽ thực hiện xác định cơ sở thuế, có thể dựa trên nguyên tắc giá thị trường. Cơ sở thuế này chịu mức thuế suất phạt là 40% (thay vì mức thuế suất thuế TNDN tiêu chuẩn 30%).

Nhìn chung, Chính phủ Australia áp dụng thuế DPT nhằm mục tiêu chính là để khuyến khích các công ty đa quốc gia lớn minh bạch thông tin hơn và tăng cường hợp tác với cơ quan thuế. Quá trình đánh giá, bao gồm thời gian xem xét 12 tháng có những đặc điểm sau:

(i) Khoản thanh toán trả trước trong vòng 21 ngày kể từ khi đánh giá trách nhiệm pháp lý của DPT mà DN không có khả năng kháng cáo, đình chỉ hoặc hoãn lại cho đến khi kết thúc thời gian xem xét mặc định là 12 tháng, nhưng có thể rút ngắn theo yêu cầu của người nộp thuế (đây là cách tiếp cận "trả trước, tranh luận sau).

(ii) Cơ quan thuế linh hoạt trong việc áp dụng các quy tắc thuế thu nhập cho đến khi kết thúc thời gian xem xét.

(iii) Người nộp thuế có trách nhiệm  cung cấp thông tin kịp thời và có liên quan cho cơ quan thuế trong thời gian xem xét.

(iv) Các điểu chỉnh liên quan tới số thuế thu nhập phải nộp có thể thực hiện bất cứ lúc nào trong thời gian xem xét trách nhiệm pháp lý DPT.

Như vậy, việc mở rộng quyền hạn của cơ quan thuế dự kiến sẽ khuyến khích các công ty đa quốc gia lớn cung cấp thông tin liên quan kịp thời về một số giao dịch rủi ro cao phục vụ mục đích nộp thuế thu nhập. Đặc biệt, thông tin về các giao dịch giữa bên nước ngoài và các DN ở Australia. Chính phủ Australia thống kê thuế DPT giúp tăng 100 triệu AUD số thu mỗi năm trong năm 2018-2019 và 2019-2020 (tương đương khoảng 72 triệu EUR và 77 triệu USD).

Ấn Độ

Ấn Độ là một trong số các quốc gia đáp trả lại những thay đổi của nền kinh tế số thông qua việc xem xét lại việc đánh thuế thu nhập theo nguyên tắc nguồn phát sinh thu nhập, đặc biệt là định nghĩa PE. Ngược lại, với cách tiếp cận truyền thống, các quy định sửa đổi liên quan tới PE thường nhằm nới rộng các yêu cầu về hiện diện vật lý tại một quốc gia, đồng thời cũng bổ sung các hình thức hiện diện phi truyền thống.

Dựa trên khái niệm về “hiện diện kinh tế quan trọng” (SEP) của OECD, Ấn Độ đã thực hiện sửa đổi các quy tắc liên quan tới việc xác định cơ sở thường trú phục vụ việc quản lý thuế TNDN. Các quy định sửa đổi này có hiệu lực từ 1/4/2019. Theo đó, quy định mới cho phép đánh thuế TNDN lên các DN không thường trú dựa trên cơ sở nguồn phát sinh thu nhập mà không quan tâm tới mức độ hiện diện thực tế của DN đó tại Ấn Độ.

Luật pháp Ấn Độ quy định rằng, SEP của một DN không thường trú có thể thuộc 1 trong 2 trường hợp sau (Luật thuế thu nhập 1961 của Ấn Độ), cụ thể:

- Ngưỡng doanh thu trong nước: “Bất kỳ giao dịch hàng hóa, dịch vụ hoặc tài sản nào do người không cư trú ở Ấn Độ cung cấp, bao gồm dịch vụ cho phép tải dữ liệu hoặc phần mềm ở Ấn Độ, nếu tổng giá trị thanh toán phát sinh từ các giao dịch này hoặc tổng giá trị than toán phát sinh trong năm trước vượt quá số tiền được quy định trong luật”.

- Ngưỡng số lượng người tiêu dùng trong nước: “Thực hiện hoạt động kinh doanh hoặc thực hiện tương tác với một lượng người dùng nhất định một cách hệ thống và liên tục tại Ấn Độ, thông qua các phương tiện kỹ thuật số”.

Các ngưỡng này tạo ra nghĩa vụ thuế trực tiếp ở Ấn Độ không phân biệt địa điểm và/hoặc nơi cư trú của người nộp thuế. Sau khi tham khảo ý kiến với các bên liên quan, các quy tắc và hướng dẫn thực hiện tiếp theo dự kiến sẽ làm rõ các yếu tố của 2 ngưỡng trên.

Cơ sở thuế dự kiến sẽ được giới hạn việc đánh thuế trên khoản thu nhập liên quan tới các giao dịch hoặc người dùng được kết nối với SEP. Cho đến nay, pháp luật Ấn Độ không đề xuất bất kỳ sửa đổi nào đối với các quy tắc phân bổ lợi nhuận tiêu chuẩn hoặc làm rõ cách thức lợi nhuận sẽ được quy cho SEP liên quan đến rất ít, hoặc không có sự hiện diện thực tế (nghĩa là về tài sản hữu hình và/hoặc nhân sự).

Israel

Ngày 11/4/2016 Israel ban hành Thông tư số 04/2016 về việc làm rõ các trường hợp DN nước ngoài tham gia vào các hoạt động trực tuyến có thể chịu thuế TNDN ở Israel. Trong khi, Thông tư số 04/2016 đưa ra các quy tắc chung về việc đánh thuế lên DN không có cơ sở thường trú, có một số quy định liên quan tới quy tắc xác định mối quan hệ kinh tế nội địa nhằm mục đích xác định nghĩa vụ thuế TNDN.

Với mục đích xác định nguồn phát sinh thu nhập theo luật thuế hiện hành, Thông tư số 04/2016 đã làm rõ việc các dịch vụ trực tuyến cung cấp, bởi DN không có cơ sở thường trú tại Israel cho khách hàng trong nước có thể tạo ra hiện diện chịu thuế ở nước này nếu các hoạt động này thoả mãn các điều kiện của SEP. Quy định này áp dụng ngoài phạm vi các hiệp định tránh đánh thuế hai lần, cụ thể là áp dụng lên các nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến của các quốc gia không ký thoả thuận tránh đánh thuế hai lần với Israel. Các điều khoản cấu thành SEP được định nghĩa rộng chủ yếu liên quan tới yếu tố “hiện diện số”.

- Ký kết hợp đồng trực tuyến: Một lượng lớn hợp đồng được ký kết trức tuyến giữa công ty nước ngoài và khách hàng tại Israel.

- Sử dụng các sản phẩm và dịch vụ số: Công ty nước ngoài cung cấp các sản phẩm dịch vụ trực tuyến cho một lượng đáng kể khách hàng tại Israel.

- Trang web được bản địa hoá: Công ty nước ngoài sử dụng một website đã được bản địa hoá các tính năng nhắm vào các đối tượng tại thị trường Israel.

- Mô hình kinh doanh đa chiều: DN tạo ra lượng doanh thu lớn liên quan trực tiếp đến hoạt động các hoạt động trực tuyến được thực hiện, bởi người dùng ở trong lãnh thổ Israel.

Thông tư số 04/2016 quy định, các tiêu chí xác định sự “hiện diện số” có thể được áp dụng riêng lẻ hoặc cùng nhau và không có điều khoản về ngưỡng doanh thu từ hoạt động bán hàng tại địa phương. Khi một cơ sở kinh doanh thoả mãn ít nhất 1 trong 4 điều kiện trên, Thông tư số 04/2016 đưa ra các quy định chung về việc ghi nhận lợi nhuận chịu thuế dựa trên nguyên tắc xác định giá thị trường. Do đó, quy định này chưa giải quyết được vấn đề liên quan đến việc liệu bất cứ khoản lợi nhuận nào phát sinh cũng được phân bổ cho SEP khi cơ sở kinh doanh không có bất cứ hiện diện vật lý nào kể cả về tài sản vô hình hoặc nhân sự.

Kinh nghiệm đối với Việt Nam

Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH 14 có hiệu lực từ ngày 1/7/2020, trong đó đã bổ sung những quy định liên quan đến quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT. Tuy nhiên, quản lý thuế đối với hoạt động thương mại xuyên biên giới này hiện đang là thách thức, không chỉ riêng với Việt Nam mà còn là vấn đề của toàn cầu.

Quyết định số 2710/QĐ-BTC của Bộ Tài chính ngày 20/12/2016 về việc phê duyệt Kế hoạch cải cách quản lý thuế giai đoạn 2016-2020 và Quyết định số 2541/QĐ-TCT của Tổng cục Thuế ngày 26/12/2016 về việc Ban hành kế hoạch cải cách quản lý thuế trung hạn (giai đoạn 2016-2018) định hướng, quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT đã thông qua các hoạt động cụ thể, đặc biệt nhấn mạnh việc triển khai chương trình BEPS. Hiện biện pháp chống BEPS được Việt Nam thực hiện chủ yếu là hạn chế các khoản thanh toán làm xói mòn cơ sở thuế, do đó, kinh nghiệm quản lý thuế của các quốc gia đối với hoạt động TMĐT là cần thiết.

Đối với phương án tăng cường quyền đánh thuế của quốc gia phát sinh thu nhập thông qua việc sử dụng khái niệm “hiện diện kinh tế quan trọng” thay cho khái niệm “cơ sở thường trú” truyền thống, thực tế tại Ấn Độ và Israel đã đưa ra một số kinh nghiệm rất quan trọng đối với Việt Nam trong triển khai quản lý thuế, cụ thể:

Thứ nhất, về các yếu tố cấu thành định nghĩa SEP, định nghĩa của Israel mang tính cụ thể hơn so với định nghĩa của Ấn Độ. Ấn Độ xác định SEP của một tổ chức nước ngoài tại Ấn Độ thông qua 2 tiêu chí là ngưỡng doanh thu phát sinh và ngưỡng số lượng người dùng tại quốc gia này; trong khi, Israel lại xác định SEP dựa vào “hiện diện số” của tổ chức nước ngoài tại quốc gia này thông qua các hình thức như hợp đồng số, sản phẩm và dịch vụ số, trang web bản địa và các mô hình kinh doanh phát sinh lượng lớn người dùng địa phương. Tuy nhiên, trong trường hợp của Ấn Độ, các ngưỡng doanh thu và số lượng người dùng chưa được xác định cụ thể nên có thể gây khó khăn cho việc áp dụng.

Thứ hai, sau khi xác định được các yếu tố cấu thành SEP, 2 quốc gia (Ấn Độ và Isarel) tiếp tục quy định về các tiêu chí xác định các khoản thu nhập chịu thuế TNDN phân bổ cho SEP, tuy nhiên các quy định chưa cụ thể và nhìn chung còn dựa vào nguyên tắc giá thị trường. Do dó, nếu áp dụng đề xuất này, Việt Nam cần đưa ra các quy định cụ thể hơn về việc xác định SEP và có công thức phân bổ lợi nhuận chịu thuế cụ thể cho SEP để xác định nghĩa vụ thuế TNDN của SEP.

Đối với phương án ban hành một loại thuế mới đánh trên DPT, nhìn chung kinh nghiệm của 2 quốc gia (Anh và Australia) đều cho thấy, vai trò chủ yếu của DPT là khuyến khích các công ty đa quốc gia tăng cường thực hiện tuân thủ thuế tại các chi nhánh nước ngoài và giúp cơ quan thuế đẩy mạnh hoạt động thu thập thông tin về các giao dịch của các công ty này trên phạm vi toàn cầu, phục vụ công tác quản lý thuế. Nhược điểm của phương án này là tăng gánh nặng hành chính cho DN, đồng thời, tăng gánh nặng quản lý cho cơ quan thuế. Để áp dụng được phương án trên, các quốc gia đang phát triển như Việt Nam không những cần xây dựng khung pháp lý mới, mà còn đòi hỏi việc xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý thuế có năng lực cao, am hiểu sâu sắc về các tiêu chuẩn của BEPS, có khả năng áp dụng các thông lệ quốc tế mới, có như vậy mới có khả năng xử lý và  giải quyết các tranh chấp thuế phức tạp, quy mô quốc tế.          

Tài liệu tham khảo:

Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019;

Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 ngày 03/6/2008;

Luật số 32/2013/QH13 sửa đổi bổ sung một số quy định tại Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008;

Chính phủ, Nghị định số 20/2017/NĐ-CP ngày 24/2/2017 Quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết;

Quyết định số 2710/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính ngày 20/12/2016 về việc phê duyệt Kế hoạch cải cách quản lý thuế giai đoạn 2016-2020”;

Quyết định số 2541/QĐ-TCT của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế ngày 26/12/2016 về việc Ban hành kế hoạch cải cách quản lý thuế trung hạn (giai đoạn 2016-2018);

Bộ Tài chính (2014), Thông tư 103/2014/TT-BTC ngày 06/8/2014 hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế ap dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam;

Administrative Circular No. 04/2016 (11 April 2016);

FLR (2020) Income Tax Assessment Act 1936, https://www.legislation.gov.au/Details/C2020C00070

HMRC (2018), Transfer Pricing and Diverted Profit Tax statistics, https://assets.publishing.service.gov.uk/government/uploads/system/uploads/attachment_data/file/729876/Transfer_Pricing_and_Diverted_Profits_Tax_statistics.pdf;

OECD (2015), OECD/G20: Base Erosion and Profit Shifting Project - Executive Summary 2015 Final Reports, OECD Publishing;

Union Budget 2018, Amendment to Section 9(1) of the Income Tax Act of 1961.

THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM