Kho bạc nhà nước tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong quản lý chi Ngân sách nhà nước

LƯU HOÀNG - Vụ trưởng Vụ Pháp chế - Kho bạc Nhà nước *

(Taichinh) - Chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước đến năm 2020 đặt ra mục tiêu xây dựng Kho bạc Nhà nước hiện đại, hoạt động an toàn, hiệu quả và phát triển ổn định vững chắc trên cơ sở cải cách thể chế, chính sách, hoàn thiện tổ chức bộ máy… Thực hiện mục tiêu này, trong công tác quản lý, kiểm soát chi ngân sách nhà nước, Kho bạc Nhà nước đã đẩy mạnh cải cách, đổi mới với nhiều nội dung theo định hướng Chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước đến năm 2020.
Quầy giao dịch Kho bạc Nhà nước tỉnh Gia Lai. Ảnh: Đ.TQuầy giao dịch Kho bạc Nhà nước tỉnh Gia Lai. Ảnh: Đ.T

Kết quả cải cách thủ tục hành chính
trong quản lý chi NSNN

Trong thời gian qua, Kho bạc Nhà nước (KBNN) đã tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả quy trình kiểm soát cam kết chi ngân sách nhà nước (NSNN) qua KBNN phù hợp với thông lệ quốc tế, góp phần nâng cao kỷ cương, kỷ luật tài chính tại các đơn vị. Bên cạnh đó, KBNN cũng thường xuyên rà soát, nghiên cứu và trình cấp có thẩm quyền hoàn thiện cơ chế, quy trình kiểm soát chi (KSC) NSNN qua KBNN theo hướng đơn giản, rõ ràng, minh bạch về hồ sơ, chứng từ và nội dung kiểm soát; đồng thời, phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan, đơn vị liên quan.

Đối với KSC đầu tư, thời gian KSC đã được rút ngắn từ 07 ngày xuống còn 03 ngày làm việc, yêu cầu đối với hồ sơ đề nghị thanh toán được đơn giản hóa, giảm số lượng mẫu biểu chứng từ thanh toán. Đối với chi thường xuyên, ngưỡng thực hiện KSC theo mức độ rủi ro bước đầu được xây dựng (đối với các khoản chi nhỏ, KBNN kiểm soát theo bảng kê chứng từ thanh toán); đối với cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập, thực hiện KSC theo cơ chế khoán chi. Đặc biệt, trong năm 2017, KBNN đã triển khai thành công Đề án Thống nhất đầu mối KSC trên toàn quốc; từng bước mở rộng chi tiêu NSNN qua thẻ tín dụng và thực hiện quy trình KSC điện tử thông qua Trang thông tin dịch vụ công của KBNN.

Thông qua việc xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định số 192/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, trình Bộ Tài chính ban hành các Thông tư hướng dẫn theo thẩm quyền, KBNN đã góp phần nâng cao kỷ luật tài chính của các đơn vị trong việc sử dụng kinh phí NSNN cấp.

Thực hiện Luật NSNN năm 2015, KBNN cũng nghiên cứu trình Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định trong lĩnh vực quản lý ngân sách nói chung và KSC NSNN qua KBNN nói riêng như: Kế hoạch tài chính – NSNN 3 năm; trách nhiệm của đơn vị trong việc đánh giá kết quả, hiệu quả chi tiêu NSNN gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ để nâng cao hiệu quả quản lý NSNN và từng bước đổi mới cơ chế quản lý ngân sách theo kết quả thực hiện nhiệm vụ.

Những vấn đề đặt ra đối với cải cách thủ tục hành chính trong quản lý chi NSNN

Bên cạnh các kết quả đạt được nêu trên, công tác cải cách thủ tục hành chính trong quản lý, KSC NSNN qua KBNN cũng gặp phải một số khó khăn, hạn chế cũng như một số vấn đề đặt ra như:

- Về cơ chế quản lý: KSC NSNN qua KBNN còn một số bất cập như: (i) Cơ chế cấp tạm ứng NSNN, ứng trước NSNN chưa theo thông lệ chung của thế giới, việc thu hồi/thanh toán số vốn đã tạm ứng, ứng trước NSNN còn hạn chế, nên gây rủi ro cho quá trình điều hành NSNN; (ii) Cơ chế kiểm soát cam kết chi NSNN qua KBNN tuy đã được triển khai, song chưa được pháp lý hóa cao ở Luật/Nghị định.

- Về quy trình, thủ tục: Quy trình thủ tục KSC NSNN qua KBNN tuy đã được đơn giản hóa, rút ngắn thời gian KSC NSNN qua KBNN, song vẫn còn phức tạp (nhất là các hồ sơ chứng từ KSC thường xuyên); chưa đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị trong việc sử dụng NSNN; thời gian KSC NSNN qua KBNN vẫn còn tương đối dài.

- Về phương thức kiểm soát chi và thanh toán: Phương thức KSC NSNN qua KBNN vẫn còn một số bất cập như: (i) Chưa thực hiện KSC thường xuyên gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ của đơn vị do việc lập, quyết định, phân bổ và quản lý ngân sách chưa thực sự gắn với kết quả hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị; (ii) chưa thực hiện KSC theo mức độ rủi ro đối với từng loại hình đơn vị sử dụng NSNN, nội dung chi và giá trị khoản chi, gắn với việc tăng cường giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sử dụng NSNN và thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành KBNN; (iii) KBNN mới chỉ thực hiện kiểm soát, xác nhận đối với các khoản chi từ nguồn vốn nước ngoài (do phụ thuộc vào các hiệp định vay và yêu cầu của nhà tài trợ). 

Việc triển khai một số phương thức thanh toán hiện đại đối với các khoản chi NSNN hoặc chưa được triển khai hoặc đã triển khai song chưa phổ biến như: (i) Thanh toán qua thẻ tín dụng; (ii) thanh toán tự động định kỳ theo lô đối với các khoản chi có tính ổn định cao (các khoản chi lương, bảo hiểm xã hội…); (iii) thanh toán tự động theo ủy nhiệm chi của đơn vị sử dụng NSNN cho nhà cung cấp đối với giá trị hàng hóa, dịch vụ mà đơn vị đã sử dụng (điện, nước, viễn thông…); (iv) chưa triệt để áp dụng các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt đối với các khoản chi NSNN qua KBNN.

- Về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, kiểm soát chi NSNN: Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc gửi hồ sơ KSC của đơn vị sử dụng NSNN và thực hiện KSC tại KBNN còn chưa cao.          

Giải pháp đẩy mạnh cải cách
thủ tục hành chính trong quản lý chi NSNN

Trước những khó khăn, vướng mắc cùng với những vấn đề mới đặt ra cho công tác cải cách quản lý, kiểm soát chi NSNN qua KBNN; thực hiện chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 51/NQ-CP ngày 19/06/2017 về việc ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016 của Bộ Chính trị về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại NSNN, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững, thời gian tới KBNN cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong quản lý, KSC NSNN, trong đó tập trung vào một số nội dung như:

Một là, đổi mới cơ chế cấp tạm ứng, ứng trước NSNN phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm giảm thiểu rủi ro trong quá trình quản lý, điều hành NSNN.

Hai là, rà soát, chuẩn hóa, đơn giản hóa và giảm thiểu các hồ sơ chứng từ KSC gửi KBNN để vừa thuận tiện cho việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong KSC NSNN, vừa gắn với việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sử dụng NSNN và việc hậu kiểm của KBNN (thông qua công tác thanh tra chuyên ngành), đảm bảo về cơ bản các hồ sơ, chứng từ KSC NSNN được lập và gửi qua Trang thông tin dịch vụ công của KBNN (trừ các hồ sơ, chứng từ chi có nội dung mật).

Tiếp tục thực hiện đơn giản hóa quy trình thủ tục KSC NSNN theo hướng thống nhất quy trình và đầu mối KSC gắn với việc phân định rõ trách nhiệm giữa đơn vị sử dụng NSNN với KBNN trong quá trình KSC; đồng thời, xây dựng và triển khai các ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác quản lý, KSC NSNN, phấn đấu thời gian KSC NSNN qua KBNN không quá 1 ngày làm việc.

Bên cạnh đó, hoàn thiện cơ chế kiểm soát cam kết chi NSNN qua KBNN, trong đó, quy định một số nội dung như: (i) KBNN thực hiện kiểm soát cam kết chi theo kế hoạch vốn đầu tư trung hạn đối với từng dự án, chi tiết theo từng hợp đồng và tiến độ thực hiện hàng năm của từng hợp đồng; (ii) KBNN thực hiện kiểm soát trước khi đơn vị ký hợp đồng với nhà cung cấp nhằm đảm bảo có nguồn thực hiện và tính pháp lý của hợp đồng; (iii) cơ chế cung cấp thông tin về cam kết chi từ KBNN tới các đơn vị sử dụng NSNN và nhà cung cấp để vừa tạo thuận lợi cho chủ đầu tư trong khâu phân bổ vốn và thực hiện hợp đồng, vừa khẳng định việc đảm bảo nguồn để thanh toán cho nhà cung cấp; (iv) quy định tổng giá trị tối đa của các hợp đồng mà một đơn vị sử dụng NSNN được phép ký trong 1 năm ngân sách, để đảm bảo khả năng cân đối ngân sách trong trung hạn; (v) cơ chế quản lý đối với nhà cung cấp cho khu vực công (như phải có tài khoản tại ngân hàng thương mại; cơ chế xử phạt khi không thực hiện đúng hợp đồng; chiết khấu hàng hóa, dịch vụ…). 

Ba là, đổi mới phương thức kiểm soát chi NSNN qua KBNN theo hướng: (i) từng bước thực hiện kiểm soát chi thường xuyên của NSNN theo kết quả thực hiện nhiệm vụ của đơn vị (kiểm soát theo dự toán và các bộ tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ đối với một số loại hình đơn vị sử dụng NSNN); (ii) xây dựng bộ tiêu chí đánh giá mức độ rủi ro đối với từng đơn vị sử dụng NSNN, nội dung khoản chi và giá trị khoản chi để từng bước chuyển sang thực hiện kiểm soát chi NSNN theo mức độ rủi ro, gắn với việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong chi tiêu của các đơn vị sử dụng NSNN và tăng cường khâu hậu kiểm của KBNN; (iii) mở rộng phương thức thanh toán trước, kiểm soát sau (kể cả chi thường xuyên và chi đầu tư xây dựng cơ bản); (iv) các khoản chi từ nguồn vốn nước ngoài được thực hiện theo phương thức chuyển vào NSNN và chi ra theo quy trình quản lý, KSC NSNN qua KBNN như đối với các khoản chi NSNN khác.

Bốn là, đẩy mạnh triển khai hiện đại hóa phương thức thanh toán đối với các khoản chi NSNN, cụ thể: (i) Mở rộng phương thức thanh toán qua thẻ tín dụng trong chi tiêu NSNN, đảm bảo tại những địa bàn có hạ tầng thanh toán tốt, mỗi đơn vị sử dụng NSNN có thẻ tín dụng để thực hiện mua sắm hàng hóa, dịch vụ (trừ các khoản thanh toán bằng chuyển khoản trực tiếp cho nhà cung cấp); (ii) xây dựng và triển khai chương trình thanh toán tự động theo lô và vào cùng 1 ngày thanh toán  đối với một số khoản chi có tính ổn định cao (lương, phụ cấp lương, bảo hiểm xã hội…) trên cơ sở ủy nhiệm tự động trích tài khoản và dữ liệu thanh toán của đơn vị; (iii) xây dựng và triển khai chương trình thanh toán tự động vào cùng một ngày theo ủy nhiệm chi của đơn vị sử dụng NSNN cho nhà cung cấp (đối với các loại hàng hóa, dịch vụ mà đơn vị sử dụng trước, trả tiền sau, các loại hàng hóa, dịch vụ mà một hoặc một vài nhà cung cấp cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho nhiều đơn vị sử dụng NSNN như điện, viễn thông, nước, vệ sinh môi trường,…); (iv) thực hiện triệt để phương thức thanh toán không dùng tiền mặt đối với những nội dung chi hoặc địa bàn có thể sử dụng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt.

Tóm lại, KSC NSNN hiệu quả là một điều kiện để quản lý tài chính công tốt. Các nguyên tắc tài chính, kế hoạch ngân sách trung hạn và dự toán ngân sách hàng năm sẽ không đạt được mục tiêu đề ra nếu các khoản chi tiêu không được kiểm soát trong quá trình thực hiện. Mặt khác, KSC NSNN kém hiệu quả cũng dẫn đến sự bất ổn của nền kinh tế vĩ mô và yếu kém trong quản lý tài chính. Mặc dù mỗi quốc gia có khung KSC khác nhau do phương thức quản lý, song tựu chung đều có các xu hướng như: (i) tập trung hơn vào việc kiểm soát trước thông qua kiểm soát cam kết chi, thay vì KSC trong giai đoạn thực hiện thanh toán; (ii) chuyển từ việc chỉ KSC đối với các khoản thanh toán sang kiểm soát các nghĩa vụ phải trả kể từ thời điểm phát sinh; (iii) phân quyền và phân định rõ trách nhiệm cho các bộ, ngành trong việc thường xuyên KSC tiêu ngay tại đơn vị (KBNN thực hiện KSC tập trung theo mức độ rủi ro); (iv) nâng cao vai trò của kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập để đảm bảo vấn đề kiểm soát tài chính tại các bộ, ngành (hậu kiểm); (v) làm rõ trách nhiệm trước pháp luật và nhân dân đối với các trường hợp vi phạm chế độ chi NSNN.

Vì vậy, các giải pháp cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính trong quản lý KSC NSNN của KBNN nêu trên là phù hợp với xu hướng và thông lệ chung trên thế giới. Để thực hiện cải cách theo các giải pháp đề ra, KBNN đã và đang từng bước nghiên cứu, trình cấp có thẩm quyền hoàn thiện khuôn khổ pháp lý có liên quan; trong đó, việc xây dựng và trình Bộ Tài chính, trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định thủ tục hành chính trong lĩnh vực KBNN trong năm 2018 là bước đi đầu tiên nhằm đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong quản lý chi NSNN và hướng tới mục tiêu hiện đại hóa KBNN theo Chiến lược phát triển KBNN đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; đồng thời, cũng góp phần thực hiện tốt Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016 của Bộ Chính trị về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại NSNN, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững.        

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính kỳ 1 - Tháng 3/2018

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục