Một số giải pháp tăng cường công tác chống thất thu thuế tại Cục Thuế TP. Hà Nội

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Một số giải pháp tăng cường công tác chống thất thu thuế tại Cục Thuế TP. Hà Nội

Sự phát triển của lực lượng doanh nghiệp đã và đang ngày càng đóng góp tích cực vào nguồn thu ngân sách nhà nước. Cùng với nỗ lực cải cách và đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện thông thoáng cho doanh nghiệp, đối tượng nộp thuế đã lợi dụng chính sách thông thoáng, hỗ trợ của Nhà nước để thực hiện các hành vi gian lận, khai thiếu thuế, trốn thuế. Tình trạng này đang có chiều hướng gia tăng với hành vi ngày càng tinh vi, phức tạp. Do đó, việc tiếp tục tìm kiếm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra nhằm chống thất thu thuế là vấn đề với Cục Thuế TP. Hà Nội nói riêng.

Thủ đoạn buôn lậu, gian lận thương mại tinh vi

Ngành Thuế Hòa Bình thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2018

Một số vấn đề về thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2018

Chính sách tài khóa năm 2017 và định hướng năm 2018

Chống thất thu thuế - những chuyện giờ mới kể

Chuyển biến tích cực trong công tác chống thất thu thuế

Chống thất thu thuế là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản lý thuế nhằm góp phần đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước (NSNN), đồng thời tạo sự công bằng về nghĩa vụ thuế đối với mọi tổ chức, cá nhân (gọi tắt là người nộp thuế - NNT) trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Theo báo cáo của Cục Thuế TP. Hà Nội, năm 2017, Cục Thuế thực hiện 17.862 cuộc thanh, kiểm tra tại trụ sở NNT, tăng 4,6% so với năm 2016; Qua thanh tra, kiểm tra thuế, cơ quan thuế đã truy thu, truy hoàn, phạt là 3.203 tỷ đồng, bằng 97,7% so với năm 2016; Giảm thuế giá trị gia tăng (GTGT) được khấu trừ 413,4 tỷ; Giảm lỗ 12.053 tỷ đồng.

Trong năm 2017, đơn vị thực hiện 1.043 cuộc thanh tra, đạt 102,5% kế hoạch được giao, với tổng số thuế truy thu, truy hoàn, phạt là 1.428 tỷ đồng, (bình quân đạt 1,37 tỷ đồng/cuộc, giảm thuế GTGT được khấu trừ 173 tỷ đồng, giảm lỗ 7.933 tỷ đồng); Hoàn thành 17.013 cuộc kiểm tra đạt 98,9% kế hoạch được giao, tăng 7,1% so với năm 2016, với tổng số thuế truy thu, truy hoàn, phạt là 1.841 tỷ đồng, bằng 87,4% so với năm 2016 (bình quân đạt 108 triệu đồng/cuộc), giảm thuế GTGT được khấu trừ  247  tỷ đồng, giảm số thuế đề nghị hoàn 72,5 tỷ đồng, giảm lỗ 4.205 tỷ đồng.

Nhờ quyết liệt trong triển khai công tác chống thất thu thuế, năm 2017, Cục Thuế TP. Hà Nội đã hoàn thành vượt mức dự toán thu ngân sách với tổng số thu cân đối thực hiện là 193.616 tỷ đồng, đạt 103,2% dự toán pháp lệnh, tăng 18,7% so với thực hiện 2016.

Hầu hết các chỉ tiêu thu ngân sách tăng trưởng so với thực hiện năm 2016, trong đó thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, thuế thu nhập cá nhân tăng trưởng bền vững với kết quả cụ thể như: Khu vực công thương nghiệp – ngoài quốc doanh tăng 23,7%, thu khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,7%, thuế thu nhập cá nhân tăng 20,7%.

Một số hạn chế cần khắc phục

Theo đánh giá của Cục Thuế TP. Hà Nội, năm 2017, Cục Thuế tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế, hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn; không thanh kiểm tra đối với DN không có rủi ro về thuế, nhằm tạo điều kiện tối đa cho NNT phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, thực tiễn vẫn còn không ít NNT lợi dụng chính sách thông thoáng, hỗ trợ nêu trên để gian lận, khai thiếu thuế, trốn thuế. Hành động này có chiều hướng gia tăng và hành vi ngày càng tinh vi, phức tạp.

Báo cáo đánh giá kết quả hoạt động của Cục Thuế TP. Hà Nội, công tác thanh tra, kiểm tra năm 2017 cho thấy, một số hướng dẫn thực thi chính sách thuế còn chưa rõ ràng, điều này dẫn tới nhiều cách hiểu, áp dụng của cả cơ quan thuế và NNT, có lúc chưa cập nhật kịp thời những thay đổi để áp dụng đúng các quy định của pháp luật; Còn chưa có chế tài xử phạt nghiêm khắc cho các trường hợp cố tình không cung cấp tài liệu, hoặc kéo dài thời gian cung cấp tài liệu phục vụ cho công tác thanh, kiểm tra, cố tình trì hoãn việc ký biên bản ghi nhận số liệu, biên bản thanh, kiểm tra.

Hệ thống cơ sở dữ liệu, mặc dù đã cơ bản phục vụ thiết thực cho công tác thanh, kiểm tra thuế song vẫn còn gặp một số vướng mắc. Điển hình như: Phần mềm Phân tích thông tin rủi ro của NNT mặc dù cơ quan thuế đã hỗ trợ cho công tác xây dựng kế hoạch thanh tra nhưng việc kết xuất dữ liệu lại mất khá nhiều thời gian và phải kéo dữ liệu theo từng địa bàn quản lý; Việc đánh giá rủi ro để xây dựng kế hoạch thanh, kiểm tra mới chỉ dựa trên thông tin nội bộ ngành, chưa có sự kết nối thông tin bên ngoài…

Bên cạnh đó, còn nhiều cuộc thanh, kiểm tra thời gian bị kéo dài, còn tồn một số quyết định thanh tra còn dở dang năm trước chuyển sang chưa được giải quyết kịp thời; còn tồn tại các hồ sơ phối hợp với các cơ quan công an, cơ quan hữu quan chưa được giải quyết dứt điểm. Một số đơn vị còn chưa chú trọng công tác phối hợp, chưa chủ động đề xuất các giải pháp giải quyết những vướng mắc khó khăn trong quá trình phối hợp. Chất lượng nguồn nhân lực làm công tác thanh, kiểm tra chưa đồng đều…

Những tồn tại, hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, có thể tựu chung tại một số nguyên nhân và một số yêu cầu đặt ra như sau:

Thứ nhất, những tồn tại, hạn chế từ chất lượng công tác lập kế hoạch và chuẩn bị công tác kiểm tra. Việc lựa chọn đúng đối tượng kiểm tra thuế, từ đó đưa vào kế hoạch kiểm tra có ý nghĩa rất quan trọng cho việc tiến hành kiểm tra. Nếu công tác chuẩn bị kiểm tra thuế càng kỹ lưỡng, thu thập được càng nhiều thông tin về đối tượng kiểm tra trước khi tiến hành kiểm tra sẽ giúp cho công tác kiểm tra thuận lợi, hiệu quả công tác kiểm tra thuế càng cao và ngược lại.

Trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ kiểm tra thuế càng cao thì chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra càng tốt và ngược lại. Cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế nếu hiểu biết, nắm rõ các quy định của luật pháp về thuế và các quy định về xử phạt liên quan đến các hành vi trái pháp luật, có trình độ kế toán tốt, có kỹ năng kiểm tra, xử lý tranh chấp trong công việc tốt thì hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế càng cao và ngược lại.

Cán bộ cần có trình độ về công nghệ tin học nhằm đẩy nhanh tiến độ thanh tra, kiểm tra thuế có hiệu quả. Tính liêm chính, đạo đức của cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế là nhân tố quan trọng, cán bộ làm thanh tra, kiểm tra thuế phải có bản lĩnh vững vàng, không bị cám dỗ bởi những lợi ích vật chất mới thực hiện kiểm tra thuế có chất lượng tốt.

Hệ thống cơ sở dữ liệu và việc ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ cho khai thác, phân tích thông tin về NNT cũng là yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế. Cơ sở dữ liệu thông tin về các DN càng đầy đủ, chính xác và cập nhật thì hiệu quả kiểm tra thuế càng cao. Thông tin được tổng hợp xử lý tốt hay không phụ thuộc vào việc ứng dụng công nghệ thông tin vào kiểm tra thuế. Bởi vậy, cơ sở dữ liệu thông tin về NNT và trình độ ứng dụng công nghệ thông tin có ý nghĩa rất quan trọng trong kiểm tra thuế đối với các DN nói riêng và đối tượng nộp thuế nói chung.

Chế độ tiền lương và thu nhập của công chức thuế cũng là một yếu tố tác động tới hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra thuế. Chế độ đãi ngộ đối với cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế nằm trong tổng thể chế độ tiền lương và thu nhập của cán bộ, công chức. Chế độ đãi ngộ thỏa đáng sẽ tạo động lực làm việc tốt cho mỗi cán bộ, công chức nói chung và mỗi cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế nói riêng.

Thứ hai, pháp luật thuế càng hoàn thiện càng tạo ra một cơ sở pháp lý rõ ràng, đầy đủ, vững chắc, làm cho hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế được thuận lợi. Pháp luật thuế thiếu minh bạch thì cơ sở xác định sai phạm không vững chắc, có thể gây những tranh luận không có hồi kết về mức độ đúng sai trong hành vi của DN, của đối tượng nộp thuế và của chính cơ quan Thuế.

Thứ ba, về quy trình kiểm tra thuế cần được xây dựng rõ ràng, minh bạch, bao quát hết các bước công việc của công tác thanh tra, kiểm tra sẽ giúp cho cán bộ thuế thực hiện được dễ dàng, công tâm, khách quan hơn. Bên cạnh đó, để tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra thuế, cơ quan thuế cần sự phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước như: Công an, quản lý thị trường, địa chính, Kho bạc Nhà nước… Hoạt động phối hợp có ý nghĩa quan trọng trong xác định thông tin về hoạt động kinh doanh và tình hình chấp hành pháp luật thuế của các DN, của NNT. 

Ngoài ra, mức độ hiểu biết và ý thức tuân thủ pháp luật của DN cũng là một yếu tố tác động ảnh hưởng tới chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra thuế trên hai phương diện: (i) Họ là NNT, là đối tượng của thanh tra, kiểm tra thuế; (ii) Họ là quần chúng nhân dân có thông tin về đối tượng kiểm tra. Trên phương diện thứ nhất, với trình độ dân trí cao và ý thức chấp hành pháp luật tốt thì các DN phối hợp tốt với cơ quan kiểm tra; tạo sự thuận lợi cho công tác kiểm tra.

Hơn nữa, trình độ dân trí cao, ý thức chấp hành pháp luật thuế tốt sẽ giúp giảm khối lượng công tác thanh tra, kiểm tra thuế. Trên phương diện thứ hai, trình độ dân trí càng cao thì người dân càng chủ động đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng, người dân sẽ tích cực giúp đỡ cơ quan thuế trong quá trình thanh tra, kiểm tra thuế.

Một số đề xuất, kiến nghị tăng cường hiệu quả chống thất thu thuế

Tăng cường công tác kiểm tra thuế và xử lý vi phạm pháp luật thuế là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm ngăn ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời những vi phạm về thuế của các DN. Nhiệm vụ chủ yếu của cơ quan thuế là tập trung vào việc kiểm tra và phát hiện kịp thời những vi phạm để nhắc nhở, giáo dục đối với những trường hợp các tổ chức, DN, người nộp thuế tính thuế không đủ, không đúng, dây dưa nợ thuế; hoặc xử phạt nghiêm khắc những trường hợp cố tình lợi dụng cơ chế tự khai, tự tính, tự nộp để gian lận, chiếm đoạt tiền thuế.

Qua tìm hiểu và khảo sát tại Cục Thuế TP. Hà Nội cho thấy, công tác chống thất thu thuế nói chung và hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế nói riêng thời gian qua đã được cơ quan Thuế chú trọng và đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên so với yêu cầu và nhiệm vụ đề ra, thực tế đòi hỏi phải làm tốt hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các đối tượng NNT trong thời gian tới. Trong thời gian tới, một số giải pháp cần được xem xét thực hiện gồm:

Thứ nhất, về công tác hoàn thiện chính sách: Để công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các DN đạt hiệu quả cao cần có một hệ thống pháp luật thuế hoàn thiện, đó là cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác thanh tra, kiểm tra. Cần khắc phục được những bất cập của chính sách thuế như:

- Mở rộng cơ sở đánh thuế, bổ sung quy định để bao quát được các hoạt động kinh tế mới phát sinh trong kinh tế thị trường hội nhập, phù hợp với thông lệ quốc tế như: Quy định đánh thuế đối với hoạt động bán hàng đa cấp, cung cấp dịch vụ qua thương mại điện tử, bán hàng qua mạng, có cơ chế chính sách thuế thích hợp cho các tập đoàn kinh tế...

- Hoàn thiện chính sách thuế theo hướng rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, đảm bảo công bằng về nghĩa vụ thuế.

- Đơn giản hoá chính sách ưu đãi thuế theo hướng hẹp về lĩnh vực, tiếp tục khuyến khích đầu tư đối với lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu phát triển, xã hội hoá, đảm bảo, đảm bảo ưu đãi theo vùng miền để đảm bảo hiệu quả trong phân bổ nguồn lực, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch vùng miền.

- Hoàn thiện Luật Quản lý thuế, bổ sung chức năng điều tra cho cơ quan Thuế. Hiện nay, cơ quan Thuế chỉ có chức năng thanh tra các vụ việc và nếu nghi ngờ có dấu hiệu tội phạm thì chuyển cho cơ quan điều tra chuyên trách. Trong nhiều trường hợp, hoạt động này không đủ sức ngăn chặn, xử lý và răn đe vi phạm.

Nếu cơ quan Thuế được giao nhiệm vụ thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp giải quyết, xác minh, lấy lời khai ban đầu, trưng cầu giám định khi cần thiết, khởi tố vụ án hình sự và chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra có thẩm quyền thì sẽ kịp thời ngăn chặn, xử lý tội phạm trong các lĩnh vực này.

Mặt khác, tình hình vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thuế ngày càng gia tăng, với thủ đoạn ngày càng tinh vi nên việc bổ sung quy định cơ quan Thuế là cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra sẽ huy động được sức mạnh tổng hợp tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm, kinh nghiệm của các nước cho thấy cơ quan Thuế đều được giao thẩm quyền điều tra. Cùng với đó, việc giao cho cơ quan Thuế này thẩm quyền điều tra ban đầu góp phần giảm tải ở các cơ quan điều tra chuyên trách.

- Xây dựng, bổ sung và hoàn thiện pháp luật có liên quan đến hoạt động kinh doanh của các DN như: Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật Xây dựng, Luật Lao động, Luật Bảo hiểm…

Thứ hai, đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt: Đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt là một biện pháp quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra thuế đối với các DN của cơ quan Thuế.

Để thực hiện được giải pháp này, hệ thống dịch vụ ngân hàng cần cải tiến nâng cao chất lượng phục vụ, mở rộng các dịch vụ tiện ích, đa dạng hóa các hình thức thanh toán, tạo sự thuận lợi, dễ dàng cho người sử dụng; Thực hiện triển khai công tác tuyên truyền để mọi người dân và các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế thấy được lợi ích của việc thanh toán không dùng tiền mặt, tạo thành thói quen của người dân và các tổ chức, dần dần sẽ giảm thiểu hình thức thanh toán bằng tiền mặt.

Ngoài ra, trong quá trình kiểm tra, thanh tra thuế tại đơn vị, DN, bên cạnh việc kiểm tra phát hiện và xử lý vi phạm trong việc kê khai nộp thuế, các cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế cần thường xuyên tuyên truyền, phổ biến những chính sách thuế mới đến DN, tăng cường đôn đốc DN thực hiện nộp các khoản nợ đọng vào NSNN, bao gồm nợ đọng qua công tác thanh tra kiểm tra và nợ phát sinh qua kê khai.

Tăng cường phối hợp chặt chẽ với cơ quan Công an trong công tác chống thất thu; phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi gian lận trốn thuế, đặc biệt là hành vi mua bán, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp, điều tra xác minh các trường hợp không còn hoạt động tại địa chỉ kinh doanh nhưng còn nợ thuế… từ đó làm tăng tính hiệu quả các giải pháp chống thất thu thuế, góp phần đảm bảo thu đúng, thu đủ nguồn thu cho NSNN và đảm bảo tính khách quan, công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế đối với mọi cá nhân, tổ chức, DN.      

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Tài chính (2011), Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020;

2. Cục Thuế TP. Hà Nội: Báo cáo tổng kết công tác thuế các năm 2014, 2015, 2016;

3. Cục Thuế TP. Hà Nội: Báo cáo tổng kết công tác thuế năm 2017;

4. Học viện Tài chính (2016), Giáo trình Quản lý thuế, NXB Tài chính, Hà Nội;

5. Các website: mof.gov.vn, hanoi.gdt.gov.vn, tapchitaichinh.vn, thoibaotaichinhvietnam.vn...

ThS. Đinh Tiến Hải

Có thể bạn quan tâm