Thông tư số 22/2016/TT-BTC: Đảm bảo quyền lợi của chủ xe cơ giới

(Taichinh) -

Sáng 13/3/2016, tại Hà Nội, Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) phối hợp với Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam tổ chức Hội nghị tập huấn Thông tư số 22/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 16/2/2016 quy định quy tắc, điều khoản, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Đáng chú ý, thông tư này giúp đảm bảo quyền lợi của chủ xe cơ giới theo hướng bám sát thực tế, điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay.

Toàn cảnh Hội nghị. Toàn cảnh Hội nghị.

Chính thức có hiệu lực từ ngày 1/4/2016, Thông tư số 22/2016/TT-BTC thay thế Thông tư số 126/2008/TT-BTC ngày 22/12/2008, Điều 1 Thông tư số 151/2012/TT-BTC ngày 12/9/2012 và Điều 1 Thông tư số 43/2014/TT-BTC ngày 11/4/2014 của Bộ Tài chính.

Về cơ bản, Thông tư số 22/2016/TT-BTC (bao gồm 3 chương, 21 Điều, 9 Phụ lục) hợp nhất và kế thừa các quy định tại Thông tư số 126/2008/TT-BTC ngày 22/12/2008, Thông tư số 151/2012/TT-BTC ngày 12/9/2012 và Thông tư số 43/2014/TT-BTC ngày 11/4/2014.

Tuy nhiên, thông tư này có một số thay đổi theo hướng bám sát thực tế triển khai, điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay, cũng như tạo cơ sở pháp lý ổn định, minh bạch, giảm thiểu thủ tục hành chính, và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH), chủ xe cơ giới, các cơ quan liên quan trong quá trình thực hiện loại chế độ này.

Giải quyết bồi thường cho gần 80.000 vụ tai nạn giao thông

Phát biểu tại Hội nghị, bà Phạm Thu Phương - Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho biết, với việc tích cực triển khai thực hiện chế độ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới ban hành theo Nghị định số 103/2008/NĐ-CP ngà 16/9/2008 của Chính phủ, trong giai đoạn 2009 – 2013, các DNBH đã giải quyết bồi thường cho gần 80.000 vụ tai nạn giao thông với tổng số tiền bồi thường là 3.300 tỷ đồng; trong đó, bồi thường thiệt hại về người là gần 1.000 tỷ đồng cho trên 7.700 người bị chết và gần 26.000 người bị thương, bồi thường thiệt hại về tài sản là trên 2.300 tỷ đồng và phần lớn tài sản của người bị tai nạn.

Bên cạnh đó, một số trường hợp nạn nhân bị tai nạn giao thông nhưng không xác định được xe gây tai nạn hoặc xe không tham gia bảo hiểm còn được hỗ trợ nhân đạo từ Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới với tổng số tiền trên 100 triệu đồng.

Có thể nói, kết quả triển khai trong thời gian qua đã có đóng góp tích cực góp phần bù đắp những tổn thất, mất mát về người và tài sản, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người tham gia giao thông, thể hiện rõ tính chất nhân văn của chính sách này.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, một số quy định không còn phù hợp với thực tiễn như: mức trách nhiệm bảo hiểm thấp hơn so với thực tế chi phí điều trị và sửa chữa tài sản, ảnh hưởng quyền lợi của chủ xe; bảng tỷ lệ bồi thường chưa thực sự khoa học và chi tiết; một số quy định, thủ tục hành chính còn chưa minh bạch, bất bình đẳng, chưa thực sự tạo thuận lợi cho quá trình triển khai; mức phí bảo hiểm một số dòng xe chưa phản ánh đúng rủi ro, tác động đến an toàn tài chính, hiệu quả kinh doanh của DNBH.

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế này, Thông tư số 22/2016/TT-BTC sửa đổi, bổ sung các quy định mới nhằm đáp ứng các mục tiêu hoàn thiện chế độ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự theo hướng: đảm bảo an toàn tài chính của DNBH; tăng cường minh bạch hóa, bình đẳng và đơn giản hóa thủ tục hành chính; đảm bảo quyền lợi của chủ xe cơ giới.

Đơn giản hóa thủ tục hành chính

Thông tư số 22/2016/TT-BTC thay đổi quy định về thời hạn đóng phí bảo hiểm, đảm bảo bình đẳng và áp dụng thống nhất cho tất cả các đối tượng chủ xe. Cụ thể, trường hợp phí bảo hiểm dưới 50 triệu đồng, chủ xe cơ giới thanh toán 01 lần tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm; trường hợp phí bảo hiểm từ 50 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng, thời hạn thanh toán phí không quá 10 ngày; trường hợp phí bảo hiểm từ 100 triệu đồng, thời hạn thanh toán phí không quá 30 ngày.

Đồng thời, thông tư này bổ sung xác nhận nộp tiền của khách hàng trên Giấy chứng nhận bảo hiểm là bằng chứng hợp pháp xác nhận thanh toán phí bảo hiểm. Bổ sung quy định về hồ sơ bồi thường rút gọn (biên bản xác minh vụ tai nạn có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền; biên bản giám định tổn thấ, nguyên nhân…) đối với các trường hợp không có các tài liệu liên quan của cơ quan có thẩm quyền và thiệt hại về tài sản ước tính dưới 10 triệu đồng. Phân công trách nhiệm cụ thể giữa DNBH và chủ xe trong thu thập hồ sơ các hồ sơ bồi thường có liên quan.

Về bồi thường thiệt hại do lỗi của bên thứ ba, Thông tư số 22/2016/TT-BTC quy định rõ trường hợp lỗi hoàn toàn của bên thứ ba thì mức bồi thường bảo hiểm về người đối với các đối tượng bên thứ ba bằng 50% mức bồi thường theo quy định.

Đảm bảo an toàn tài chính của DNBH

Điểm mới của Thông tư số 22/2016/TT-BTC là tăng phí từ 10% đến 20% một số dòng xe (13 dòng) có tỷ lệ tai nạn, rủi ro cao, bao gồm xe dưới 6 chõ ngồi, xe 16, 24 và trên 25 chỗ ngồi; xe tải từ 8 đến 15 tấn, trên 15 tấn và một số loại xe khác (taxi, xe chuyên dùng, đầu kéo rơ –moóc, xe máy chuyên dùng).

Đảm bảo quyền lợi của chủ xe cơ giới

Thông tư này cũng tăng mức trách nhiệm bảo hiểm: Phản ánh biến động chi phí khám chữa bệnh, sửa chữa tài sản tăng so với trước. Theo đó, tăng 25% và 43% mức trách nhiệm bảo hiểm hiện hành (lên mức 50 triệu đồng/1 vụ tai nạn và 100 triệu đồng/1 vụ tai nạn đối với thiệt hại về tài sản do mô tô, xe máy và xe ô tô gây ra, 100 triệu đồng/1 người/1 vụ tai nạn đối với thiệt hại về người), nhằm phản ánh các biến động tăng về chi phí khám chữa bệnh và chi phí sửa chữa tài sản, phương tiện.

Đồng thời, Thông tư số 22/2016/TT-BTC thay thế toàn bộ bảng tỷ lệ trả tiền bồi thường bảo hiểm theo quy định mới của liên Bộ Y tế và Bộ Lao động, thương binh và xã hội quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích, bệnh tật và bệnh nghề nghiệp. Bảng tỷ lệ mới được quy định chi tiết hơn (tăng từ 221 lên 827 trường hợp thương tật) với cách phân loại đầy đủ, khoa học hơn, và thống nhất một mức dao động là 5% giữa tỷ lệ tối thiểu và tối đa của các loại thương tật./.

Minh Hà

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục