Trồng ngô NK43000Bt/GT đạt 26,1 triệu đồng/ha

(Taichinh) - Ngô chuyển gen NK4300Bt/GT có triển vọng sản xuất đại trà. Lợi nhuận từ việc trồng ngô NK43000Bt/GT đạt 26,1 triệu đồng/ha
Giống Ngô chuyển gen NK4300Bt/GTGiống Ngô chuyển gen NK4300Bt/GT

Khi đưa vào trình diễn, giống ngô chuyển gen NK4300Bt/GT của Công ty Syngenta Việt Nam đã chinh phục được cả người dân cũng như cơ quan chuyên môn ở Thái Nguyên.

Hiệu quả kép

Giống ngô chuyển gen NK4300Bt/GT được Công ty Syngenta Việt Nam và Công ty CP Vật tư kỹ thuật nông nghiệp Bắc Giang phối hợp với Trạm Khuyến nông huyện Phú Lương (Thái Nguyên) đưa vào SX trình diễn trong vụ xuân 2016 tại xã Phấn Mễ.

Mục tiêu của mô hình nhằm đánh giá khả năng kháng sâu đục thân và chống chịu thuốc trừ cỏ cháy chậm gốc Glyphosate, đánh giá năng suất chất lượng ngô chuyển gen với giống ngô thông thường mà bà con đang trồng.

Tham dự mô hình, các hộ dân được hỗ trợ 100% giống và phân bón, được tập huấn kỹ thuật...Đánh giá mô hình, ông Bùi Phương Tháo, Phó Trạm trưởng Trạm Khuyến nông huyện Phú Lương cho biết, thực tế giống ngô lai chuyển gen Nk4300Bt/GT là giống trung ngày (TGST 115 ngày).

Cây có khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh. Đặc biệt, đối với giống sâu đục thân phổ biến trên ngô thì ngô chuyển gen NK4300Bt/GT đã không hề hấn gì, trong khi NK4300 bị sâu đục thân hại ở mức độ trung bình.

So sánh năng suất, giống ngô chuyển gen NK4300Bt/GT đạt 7,56 tấn/ha, cao hơn giống NK4300 (thông thường) 0,98 tấn/ha (NK4300 đạt 6,58 tấn/ha). Ông Nguyễn Công Biên, Trưởng vùng Đông Bắc, Công ty Syngenta Việt Nam cho biết, tiêu chí lựa chọn quan trọng là hiệu quả kinh tế khi ứng dụng giống mới. Theo đó, tổng chi phí SX cho ngô NK4300 là 21,2 triệu đồng/ha, trong khi đó, giống NK4300Bt/GT chỉ 19,2 triệu đồng/ha (thấp hơn 2 triệu).

Sự khác biệt ở đây xuất hiện chủ yếu là do chi phí cho xử lý cỏ dại. Trong khi giống NK4300Bt/GT với việc chỉ phun Glysphosat 1 lần duy nhất thì NK4300 ngoài quản lý có dại phải mất thêm một lần phun và 1 lần làm cỏ tay.

Rõ ràng, việc ứng dụng giống ngô NK4300Bt/GT đã giúp giảm được nhân công và chi phí làm cỏ, kết hợp với năng suất tăng làm hiệu quả SX ngô được nâng cao rõ rệt. Cụ thể, lợi nhuận từ việc trồng NK43000Bt/GT đạt 26,1 triệu đồng/ha, cao hơn NK4300 7,9 triệu đồng (NK4300 đạt lợi nhuận 18,2 triệu đồng/ha).

Hỗ trợ giá giống

Bà Nguyễn Thị Huê ở xóm Cọ 1, xã Phấn Mễ đúc rút, dù là vùng trồng ngô nhưng người dân địa phương vẫn còn duy trì các biện pháp quản lý sâu đục thân và cỏ dại mang tính thủ công, tốn kém và hiệu quả không cao.

Bởi vậy, giống NK4300Bt/GT sẽ là giải pháp, là lựa chọn hiệu quả nhằm khắc phục những nhược điểm của giống NK4300 nói riêng và một số giống ngô lai đang được bà con sử dụng nói chung. Điều quan trọng là đơn vị cung ứng giống cũng như cơ quan quản lý Nhà nước có cơ chế chính sách hỗ trợ với bà con như thế nào để đưa mạnh giống vào đại trà.

Về thực tế đó, ông Nguyễn Văn Ninh, Giám đốc kinh doanh vùng Đông Bắc, Công ty CP Vật tư kỹ thuật nông nghiệp Bắc Giang cho biết, đơn vị sẽ đảm bảo các điều kiến tốt nhất, giống đảm bảo chất lượng cũng như số lượng theo yêu cầu của các địa phương.

Theo đại diện Sở NN&PTNT Thái Nguyên, giống ngô biến đổi gen NK4300Bt/GT kháng được sâu đục thân, kháng được thuốc trừ cỏ gốc Glyphosate, TGST trung bình, bắp to đều, năng suất đạt 7,56 tấn/ha, tăng 15% so với giống ngô thường.

PV.

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục