VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng
Giới thiệu tòa soạn Hotline: 0987 828 585
Huy động vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa qua tổ chức tín dụng và phát hành trái phiếu

Huy động vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa qua tổ chức tín dụng và phát hành trái phiếu. Nguồn: Internet.

Huy động vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa qua tổ chức tín dụng và phát hành trái phiếu

Kênh huy động vốn vay qua các tổ chức tín dụng và phát hành trái phiếu doanh nghiệp được đánh giá là khá hữu hiệu và quan trọng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bài viết đánh giá tình hình thực hiện chính sách huy động vốn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa qua kênh huy động này để chỉ ra các "điểm nghẽn" về chính sách và giải pháp khắc phục nhằm khơi thông kênh dẫn vốn, giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa có thêm nguồn vốn phục vụ sản xuất - kinh doanh, đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Quy trình thực hiện và hiệu quả hoạt động M&A doanh nghiệp có vốn nhà nước ở Việt Nam

Làm thế nào để vay vốn sản xuất kinh doanh hiệu quả?

Tối đa hoá giá trị doanh nghiệp qua cơ cấu vốn mục tiêu như thế nào?

Huy động vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam

Huy động vốn thông qua tổ chức tín dụng và phát hành trái phiếu

Nguồn vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) ở Việt Nam thường được huy động qua các kênh: Đi vay tổ chức tín dụng (TCTD); phát hành trái phiếu; vốn tự có, vốn góp để thành lập DN và thực hiện sản xuất - kinh doanh; vốn huy động từ các nguồn khác (như ngân sách trợ cấp, bảo lãnh, bảo hiểm và ưu đãi thuế, phí; vay người thân trong gia đình, vay bạn bè; vốn tín dụng bảo lãnh chiết khấu, thuê tài chính; nguồn vốn từ đối tác trả chậm, tín dụng thương mại...). Trong đó, 2 kênh huy động vốn ngắn hạn (chủ yếu huy động vốn vay các TCTD), trung và dài hạn (thông qua phát hành trái phiếu doanh nghiệp - TPDN) có vai trò rất quan trọng đối với DNNVV.

Huy động vốn qua tổ chức tín dụng

Ở Việt Nam, các tổ chức tín dụng đang đóng vai trò là kênh dẫn vốn chủ yếu, đặc biệt là vốn ngắn hạn  cho  DNNVV. Trước đây, việc cho tổ chức, cá nhân vay vốn của tổ chức tín dụng được thực hiện theo Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và một số văn bản khác liên quan đến hoạt động cho vay. Tuy nhiên, để điều chỉnh khung pháp lý chung điều chỉnh hoạt động cho vay phù hợp với quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Bộ Luật Dân sự năm 2015... NHNN đã ban hành Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng để thay thế cho Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN, quy định cho vay ngày đối với khách hàng nói chung và DNNVV nói riêng vẫn đang được áp dụng. 

Thông  qua  việc  triển  khai  chính  sách  cho  vay đối với các DNNVV, giai đoạn 2011 - 2018, tín dụng cho  vay  đối  với  DNNVV  tăng  trưởng  khá,  trung bình tăng 8,97%/năm. Tuy nhiên, đến năm 2018, số DNNVV tiếp cận được vốn ngân hàng, tổ chức tín dụng có xu hướng giảm, có 70% DNNVV chưa tiếp cận được nguồn vốn tín dụng ngân hàng (trong đó, có hơn 30% là DNNVV không thể tiếp cận nguồn vốn  ngân  hàng  và  30%  DN  khác  cho  biết,  rất  khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn ngân hàng...). Điều này cho thấy rõ hơn những khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn ngân hàng đối với các DNNVV.

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, trong 3 tháng đầu năm 2019, tín dụng tăng khoảng 2,8% so với cuối năm 2018, trong đó tín dụng cho DNNVV đạt 1,31 nghìn tỷ đồng, tăng 15,6%, chiếm tỷ trọng 18% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Trong tổng dư nợ cho vay DNNVV, có 54% dư nợ thuộc lĩnh vực thương mại và dịch vụ, 41% là lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, trong khi lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 5%. Như vậy, cơ cấu tín dụng phục vụ sản xuất vẫn còn thấp, trong khi cho vay dịch cụ còn khá cao.

Theo các chuyên gia kinh tế, việc khó tiếp cận nguồn vốn của DNNVV có nguyên nhân bắt nguồn cả từ ngân hàng và DN. Về phía DN, khó khăn lớn nhất hiện nay của các DN khi tiếp cận nguồn vốn ngân hàng, đó là thiếu tài sản thế chấp, thủ tục vay còn phức tạp. Về phía ngân hàng, vẫn còn tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”. Mặc dù NHNN rất quan tâm đến việc đẩy mạnh tiếp cận vốn cho DNNVV, tuy nhiên, ở nhiều bộ phận cho vay trực tiếp của các ngân hàng vẫn còn tình trạng thiếu quan tâm đến khách hàng là DNNVV, do lo ngại không trả được nợ, tạo thêm nợ xấu đối với ngân hàng. Tất cả những điều này đã làm dãn rộng thêm khoảng cách giữa DNNVV và ngân hàng trong việc cung cấp tín dụng để phát triển sản xuất - kinh doanh.  

Huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu doanh nghiệp

Huy động vốn của DNNVV thông qua kênh phát hành  TPDN  giai  đoạn  2011  -  2018  được  thực  hiện theo Nghịđịnh số90/2011/NĐ-CP quy định vê ̀phát hành TPDN ngày 14/10/2011 của Chính phủ. Trong quá trình triển khai thực hiện Nghị định số 90/2011/NĐ-CP, cùng với sự thay đổi của cơ chế chính sách và tình hình thị trường có nhiều biến động, Nghị định số 90/2011/NĐ-CP đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế cần phải sửa đổi để phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế và thị trường tài chính. Do đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 163/2018/NĐ-CP quy định về phát hành TPDN. Nghị định này được đánh giá tạo bước đột phá trong việc huy động vốn cho DNNVV trong trung và dài hạn cho DNNVV.

Trong giai đoạn 2011 - 2018, thị trường TPDN có sự tăng trưởng, phát triển so với giai đoạn trước cả về quy mô huy động vốn và số lượng DN phát hành trái phiếu. Giá trị phát hành trái phiếu năm 2018 đã tăng hơn 15 lần so với năm 2011, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 39%. Tuy nhiên, dư nợ thị trường TPDN hiện vẫn rất thấp. Cụ thể, thời điểm cuối năm 2018, dư nợ TPDN tăng 53% so với cuối năm 2017 nhưng chỉ bằng 8,5% GDP, trong khi bình quân của các nước trong khu vực là 22%. Đáng chú ý, nếu so sánh với các nước trong khu vực cho thấy, thị trường TPDN Việt Nam còn khá nhỏ.

Tính riêng trong 6 tháng đầu năm 2019, tổng mức phát hành TPDN là 116.085 tỷ đồng, tăng 7,4% so với cùng kỳ 2018. Về cơ cấu DN phát hành, các ngân hàng phát hành khoảng 26%, DN bất động sản khoảng 22%, trong khi  lĩnh vực sản xuất, nông nghiệp, xây dựng hạ tầng cần được khuyến khích lại có tỷ trọng phát hành thấp, chỉ khoảng 13%/lĩnh vực. Đến cuối tháng 6/2019, quy mô vốn hóa thị trường TPDN bằng 10,22% GDP, tăng 21% so với cùng kỳ 2018, vượt mục tiêu đặt ra là 7% GDP vào năm 2020.

Về lãi suất phát hành, lãi suất TPDN bình quân bằng và cao hơn khoảng 0,5% so với mức cho vay phổ biến của các thương mại. Trong đó, lãi suất một số đợt phát hành TPDN cao trong thời gian gần đây, từ 12- 14%. Có khoảng 70% DN phát hành trái phiếu sử dụng tài sản và tài sản hình thành từ nguồn hình thành trái phiếu, nhưng chưa được định giá bởi tổ chức định giá độc lập và khó xác minh các tranh chấp pháp lý. 98% các đợt phát hành là riêng lẻ. Tuy nhiên,  đối  tượng  phát  hành  TPDN  chủ yếu  là  các tập đoàn tư nhân lớn (thuộc khối DN vừa) và chủ yếu phát hành riêng lẻ cho đối tác, không phải phát hành ra công chúng, trong khi các DN siêu nhỏ và DN nhỏ ít thực hiện huy động vốn qua hình thức phát hành trái phiếu.

Các “điểm nghẽn” trong chính sách huy động nguồn vốn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Về huy động vốn qua tổ chức tín dụng

Khoản 1, Điều 13, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định về lãi suất cho vay: “TCTD và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung - cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có quy định về lãi suất cho vay tối đa tại khoản 2 Điều này”. Với quy định này, DN dễ bị áp lãi suất ngân hàng ở mức cao, vì tính thị trường không được quy định rõ, chẳng hạn bình quân lãi suất huy động cho vay của bao nhiêu TCTD được coi là thị trường, hay cung - cầu với số lượng bao nhiêu khách hàng chào lãi suất, hay ngân hàng đưa ra lãi suất cho khách hàng vay được gọi là thị trường... Những nội dung này đều rất khó hiểu và chỉ có ngân hàng mới định đoạt được lãi suất cho vay.

Đáng  chú ý,  mặc  dù  Khoản  1,  Điều  13,  Thông tư số39/2016/TT-NHNN đã quy định lãi suất theo cung - cầu thị trường, tuy nhiên NHNN lại quy định “Tổchức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất  cho  vay  ngắn  hạn  bằng  VND  nhưng  không vượt  quá  mức  lãi  suất  cho  vay  tối  đa  do  Thống đốc  NHNN  Việt  Nam  quyết  định  trong  từng  thời kỳ…” (Khoản 2, Điều 13). Điều này phản ánh tính thị trường chịu sự chi phối của Nhà nước, cho thấy bất cập của vấn đề.

Về điều kiện vay vốn, Khoản 1, Điều 7, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định “Khách hàng là pháp nhân có năng lực pháp luật dân sự theo quy định của pháp luật. Khách hàng là cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật hoặc từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, trong khối DNNVV có DN tư nhân lại không có tư cách pháp nhân, theo đó không thuộc đối tượng được vay. Nếu muốn vay được vốn ngân hàng thì đối tượng này phải chuyển đổi loại hình công ty để có tính pháp nhân theo quy định của Bộ Luật Dân sự 2015, trong khi việc chuyển đổi này gây nên nhiều bất lợi cho DN tư nhân, làm cho DN tư nhân gặp khó khăn trong vấn đề vay vốn các TCTD.

Bên cạnh điều kiện vay vốn quy định là pháp nhân, còn có các điều kiện mà DNNVV vay vốn TCTD phải đáp ứng đó là DNNVV phải: có phương án sử dụng vốn khả thi; có khả năng tài chính để trả nợ… Các điều kiện này cũng chưa được định lượng trong Thông tư số 39/2016/TT-NHNN thế nào là phương án sử dụng vốn khả thi? Thế nào được gọi là người đi vay có khả năng tài chính để trả nợ? Như vậy, việc quy định chưa cụ thể đã và đang tạo khó khăn cho DNNVV, tiếp cận nguồn vốn tín dụng, vì dễ bị các TCTD loại do các tiêu chí quy định trong văn bản còn chung chung.

Về huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu doanh nghiệp

Trong giai đoạn 2011 - 2018, thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam có sự tăng trưởng, phát triển mạnh so với giai đoạn trước cả về quy mô huy động vốn và số lượng doanh nghiệp phát hành trái phiếu. Giá trị phát hành trái phiếu năm 2018 đã tăng hơn 15 lần so với năm 2011, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 39%.

- Về lãi suất: Theo các quy định hiện hành, DN phát hành trái phiếu có thể có hoặc không có tài sản đảm bảo. Như vậy, trong trường hợp không có tài sản đảm bảo thì bản chất phát hành trái phiếu trong trường hợp này là vay tín chấp. Trong trường hợp là vay tín chấp thì lãi vay tín chấp chỉ 10 - 15%/năm. Với nhà đầu tư, mua TPDN là đầu tư, chứ không phải gửi tiết kiệm, mà đầu tư thì phải xác định là luôn có rủi ro. Bên cạnh đó, theo phân tích, lãi suất TPDN bình quân là bằng và cao hơn khoảng 0,5% so với mức cho vay phổ biến của các ngân hàng thương mại. Trong đó, lãi suất một số đợt phát hành TPDN cao trong thời gian gần đây, từ 12 - 14%, dễ tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao về lạm phát, dẫn tới dư địa bất ổn định kinh tế vĩ mô.

Một điểm đáng lưu ý nữa là phần lớn nhà đầu tư cá nhân tham gia mua TPDN chỉ đơn thuần dựa trên mức lãi suất mà DN cam kết chi trả. Trong khi đó, để có quyết định đầu tư, các tổchức lớn đều phải dựa vào bộ phận phân tích chuyên nghiệp của mình để  đánh  giá  thông  tin  về tình  hình  tài  chính  DN, dòng tiền, nguồn trả nợ…

- Về xếp hạng tín nhiệm: Với thị trường TPDN, đối tượng phát hành TPDN chủ yếu là các tập đoàn tư nhân lớn và chủ yếu phát hành riêng lẻ cho đối tác, không phát hành ra công chúng, trong khi các DN siêu nhỏ và DN nhỏ ít thực hiện huy động vốn qua hình thức phát hành trái phiếu. Thực tế này dẫn đến tổ chức phát hành TPDN hầu như chưa được xếp hạng tín nhiệm, nên tiềm ẩn rủi ro cho nhà đầu tư, nhất là nhà đầu tư cá nhân (chiếm 6,1% trên thị trường sơ cấp TPDN).

- Về cơ cấu phát hành: Trong cơ cấu DN phát hành trái phiếu, các ngân hàng, công ty bất động sản là những trái chủ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu phát hành trái phiếu của DN do có tiềm lực về vốn, khả năng tiếp cận thông tin nhanh cũng như năng lực phân tích đầu tư chuyên nghiệp. Trong khi đó, lĩnh vực sản xuất, nông nghiệp, xây dựng hạ tầng cần khuyến khích lại có tỷ trọng phát hành thấp chỉ khoảng 13%/lĩnh vực.

- Về tiếp cận thông tin: Do thời gian phát hành riêng lẻ thông thoáng hơn so với phát hành ra công chúng (mặc dù phát hành riêng lẻ bị hạn chế về việc tiếp cận nhà đầu tư so với phát hành ra công chúng, chỉ được phát hành trong phạm vi 100 nhà đầu tư không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp), dẫn đến phát hành TPDN chiếm tới 98% là các đợt phát hành là riêng lẻ. Việc phát hành riêng lẻ này khiến nhà đầu tư khó tiếp cận thông tin.

Chính sách thúc đẩy nguồn vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

DNNVV có vai trò quan trọng trong việc đóng góp cho nền kinh tế (như tạo công ăn việc làm, huy động các nguồn vốn trong nước cho hoạt động sản xuất - kinh doanh, giải quyết các vấn đề xã hội…), nên những hạn chế, “điểm nghẽn” về mặt chính sách huy động vốn trung và dài hạn đối với DNNVV cần sớm được tháo gỡ, giúp cho DNNVV ngày càng phát triển ổn định, cụ thể:

Về chính sách cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

- Ngân hàng Nhà nước cần quy định rõ ràng, cụ thể thế nào là lãi suất thị trường (cụ thể hóa Khoản 1, Điều 13, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN), để các ngân hàng thương mại có thể vận dụng chính xác hơn, tránh việc áp lãi suất không mang tính thị trường trong việc cho vay đối với DNNVV, nhất là đối với DN siêu nhỏ.

- Khu vực kinh tế tư nhân ngày càng thể hiện vai trò là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Do vậy, Nhà nước cần sớm chỉnh sửa khung chính sách (Bộ Luật Dân sự, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN) để DN tư nhân tiếp cận được nguồn vốn vay ngân hàng với đầy đủ tư cách pháp nhân khi thực hiện các giao dịch dân sự, trong đó có giao dịch dân sự trong việc vay vốn ngân hàng.

Tính riêng trong 6 tháng đầu năm 2019, tổng mức phát hành trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam là 116.085 tỷ đồng, tăng 7,4% so với cùng kỳ 2018. Về cơ cấu doanh nghiệp phát hành: các ngân hàng phát hành khoảng 26%, doanh nghiệp bất động sản khoảng 22%, trong khi lĩnh vực sản xuất, nông nghiệp, xây dựng hạ tầng cần được khuyến khích lại có tỷ trọng phát hành thấp, chỉ khoảng 13%/lĩnh vực.

- Cần quy định cụ thể về điều kiện vay vốn của tổ chức. Theo đó, cần cụ thể hóa nội dụng thế nào là “Có phương án sử dụng vốn khả thi; có khả năng tài chính để trả nợ…” trong Thông tư số 39/2016/TT-NHNN. Bởi nếu không quy định cụ thể vấn đề này thì có thể dẫn đến sự tiếp tay cho “sự vận dụng thiếu khách quan” khi thực hiện chính sách vay vốn đối với DNNVV, làm cho DNNVV bị thiệt thòi trong việc tiếp cận vốn ngân hàng, đặc biệt là đối với DNNVV có quy mô nhỏ, tiềm lực tài chính yếu.

- Về tài sản đảm bảo, đối với DNNVV không đảm bảo các tiêu chí về tài sản đảm bảo trong việc vay vốn ngân hàng thì có thể tìm kiếm các kênh huy động vốn khác như thông qua Quỹ bảo lãnh tín dụng, Quỹ phát triển DNNVV… để gia tăng nguồn vốn cho sản xuất - kinh doanh.

Về chính sách phát hành trái phiếu doanh nghiệp

Nhằm khắc phục tình trạng lách quy định về phát hành trái phiếu riêng lẻ bán trái phiếu ra công chúng, cần quy định trong Luật Chứng khoán nội dung về việc TPDN riêng lẻ được phát hành và giao dịch giữa các nhà đầu tư chuyên nghiệp; Mở rộng phạm vi nhà đầu tư chuyên nghiệp bao gồm cả tổ chức đầu tư chuyên nghiệp và cá nhân đầu tư chuyên nghiệp, đảm bảo các thông lệ quốc tế hiện hành.

Nhằm tránh rủi ro cho nhà đầu tư không chuyên nghiệp, đặc biệt là nhà đầu tư cá nhân, cần sửa đổi Nghị định số 63/2018/NĐ-CP theo hướng trái phiếu phát hành riêng lẻ phải bị hạn chế giao dịch trong suốt thời hạn của trái phiếu.

Tăng cường gắn kết điều hành trái phiếu chính phủ về kỳ hạn lãi suất huy động với điều hành phát hành TPDN và chính sách tiền tệ để hạn chế tình trạng chênh lệch quá lớn về lãi suất trong phát hành TPDN, nhất là các DN có tiềm lực tài chính mỏng nhưng lại phát hành TPDN với lãi suất cao dẫn đến rủi ro cho nhà đầu tư.

Đồng thời, hoàn thiện khung pháp lý phát triển thị trường xếp hạng tín nhiệm về TPDN. Theo đó, có lộ trình về yêu cầu các DN phát hành trái phiếu phải được xếp hạng tín nhiệm, một mặt, giúp cho thị trường trái phiếu được minh bạch, hạn chếrủi ro cho nhà đầu tư; mặt khác, giúp tăng tiềm lực tài chính trung và dài hạn cho DN phát triển.

Ngoài  ra,  cần  đẩy  mạnh  chế tài  về minh  bạch thông tin khi phát hành TPDN, niêm yết trái phiếu, giúp cho nhà đầu tư (tổ chức, cá nhân) có thông tin minh bạch để đưa ra các quyết định đầu tư, giúp DN phát hành trái phiếu huy động hiệu quả nguồn vốn, phục vụ cho hoạt động sản xuất - kinh doanh.    

Tài liệu tham khảo:

Cục Phát triển doanh nghiệp, Sách trắng doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017;

Nguyễn Hoài (2019), "Trái phiếu doanh nghiệp: Nhà đầu tư cá nhân phải rất cẩn trọng", http://vneconomy.vn/trai-phieu-doanh-nghiep-nha-dau-tu-ca-nhan-phai-rat-can-trong-20190905124920863.htm;

Ngô Hải (2019), “Vì sao doanh nghiệp nhỏ và vừa khó tiếp cận vốn ngân hàng?”, http://vneconomy.vn/vi-sao-doanh-nghiep-nho-va-vua-kho-tiep-can-von-ngan-hang-20190418092318313.htm;

Nguyễn Hữu (2019), “Sửa luật để chặn cửa lách phát hành trái phiếu doanh nghiệp”, https://tinnhanhchungkhoan.vn/trai-phieu/sua-luat-de-chan-cua-lach-phat-hanh-trai-phieu-doanh-nghiep-271299.html;

http://chinhphu.vn; https://mof.gov.vn; https://www.hnx.vn; https://www.hsx.vn; https://www.sbv.gov.vn.

THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM