VN-Index
HNX-Index
Nasdaq
USD
Vàng
Giới thiệu tòa soạn Hotline: 0987 828 585
Phát triển kinh tế tư nhân nhìn từ góc độ cải cách thủ tục hành chính

Theo ước tính, cộng đồng doanh nghiệp này hiện tạo ra khoảng hơn 9 triệu việc làm và đóng góp hơn 40% GDP. Nguồn: Internet.

Phát triển kinh tế tư nhân nhìn từ góc độ cải cách thủ tục hành chính

Trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, doanh nghiệp tư nhân chiếm khoảng 95% (khoảng hơn 600.000 công ty), trong đó chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo ước tính, cộng đồng doanh nghiệp này hiện tạo ra khoảng hơn 9 triệu việc làm và đóng góp hơn 40% GDP.

52% số doanh nghiệp tin xu hướng kinh doanh sẽ tốt lên trong quý III/2019

Lý giải nguyên nhân khu vực kinh tế tư nhân chậm phát triển

Phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam và một số vấn đề đặt ra

Kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định vị thế

Mặc dù, chiếm số đông nhưng thực tế cho thấy, sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân ở nước ta vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Trên cơ sở đánh giá thực trạng phát triển và những tác động từ cải cách thủ tục hành chính đến doanh nghiệp tư nhân, bài viết gợi mở một số vấn đề nhằm thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân phát triển tại Việt Nam.

Đặt vấn đề

Kinh tế tư nhân (KTTN) là khu vực kinh tế nằm ngoài quốc doanh (ngoài khu vực kinh tế nhà nước), bao gồm các doanh nghiệp (DN) trong và ngoài nước, trong đó, tư nhân nắm trên 50% vốn đầu tư. KTTN cần được hiểu là tất cả các cơ sở sản xuất kinh doanh không dựa trên sở hữu nhà nước về các yếu tố của quá trình sản xuất.

Đặc trưng mang tính bản chất của những DN thuộc khu vực KTTN là họ sử dụng nguồn vốn của chính họ và có quyền được hưởng thành quả lao động mà họ làm ra. Đây là điểm khác biệt quan trọng giữa khu vực KTTN và khu vực kinh tế khác trong nền kinh tế.

Nguyên tắc hoạt động của các loại hình DN đã được khái quát thành nguyên tắc “bốn tự” gồm: Tự bỏ vốn, tự tổ chức, tự chủ trong kinh doanh và tự bù lỗ. Đây là cơ chế gắn kết hoạt động (lợi ích) với năng lực hoạt động của người lao động, một cơ chế hoạt động tối ưu hướng tới kết quả cao. Việc chỉ ra đặc trưng cốt lõi của KTTN sẽ hướng sự chú ý tới bản chất chứ không dừng lại ở hình thức của vấn đề.

Ở cấp độ hẹp hơn, KTTN gồm có: Kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Thông qua cách hiểu trên, chúng ta có thể đi đến nhận thức mang tính cụ thể và rõ ràng về KTTN: KTTN là khu vực kinh tế gắn liền với loại hình sở hữu tư nhân, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất tồn tại dưới các hình thức DN tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần và các hộ kinh doanh cá thể.

Phát triển kinh tế tư nhân nhìn từ góc độ cải cách thủ tục hành chính - Ảnh 1

KTTN đang có vị trí rất quan trọng trong nhiều ngành, nghề ở nông thôn và thành thị, có điều kiện phát huy nhanh, hiệu quả tiềm năng về vốn, sức lao động, tay nghề của từng gia đình, từng người lao động. Không thể phủ nhận, KTTN là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, trong đó các chủ thể của nó được tiến hành sản xuất, kinh doanh một cách tự chủ vì lợi ích của bản thân cá nhân, và thông qua đó thực hiện lợi ích xã hội.

Đến nay, KTTN được coi là khu vực cung cấp khối lượng sản phẩm lớn nhất cho xã hội. Tuy nhiên, khu vực kinh tế này rất nhạy cảm với những đặc trưng của kinh tế thị trường, có tiềm lực lớn trong nâng cao năng lực nội sinh của đất nước, tăng trưởng kinh tế. Bởi vậy, phát triển KTTN được coi là điều kiện không thể thiếu để xây dựng thành công kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thể chế đối với kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế Việt Nam

Kể từ khi Đổi mới đến nay, thể chế đối với KTTN của nước ta đã có những bước phát triển rõ rệt. Đáng chú ý là sự thay đổi quan điểm về vai trò KTTN trong văn kiện Đảng. Giai đoạn trước đổi mới, Việt Nam thực hiện nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Nhà nước quyết định tất cả các hoạt động kinh tế, phân bổ đầu vào và phân bố đầu ra. DN nhà nước và tập thể vẫn là hai loại hình sở hữu chính trong nền kinh tế.

Trong giai đoạn sau Đổi mới, Đại hội lần thứ VII năm 1991, Đảng ta đã xác định: “Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể là nền tảng của nền kinh tế quốc dân”. Đến năm 2000, nhiều văn bản pháp lý đã được thông qua như Luật Đất đai (1988), Luật Công ty, Luật DN tư nhân (1990), Luật Phá sản DN (1993), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công ty, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DN tư nhân (1994)... thiết lập một khuôn khổ pháp lý cho việc vận hành của khu vực tư nhân. Tuy nhiên, sự phát triển của khu vực tư nhân vẫn rất chậm (Hakkala và Kokko, 2007).

Khi Luật DN (1999) ra đời, đã quy định rõ quyền của Nhà nước, cán bộ, các nhà đầu tư cũng như DN. Một điểm rất đáng lưu ý khác là quyền tự do kinh doanh được công nhận. Những chuyển biến tư duy quan trọng này đã góp phần làm tăng mạnh số DN đăng ký mới. Tuy vậy, phải đến Luật DN năm 2005 mới điều chỉnh tất cả các DN không kể loại hình sở hữu, tạo ra một sân chơi bình đẳng hơn giữa DN nhà nước (trước đó vẫn được điều chỉnh bởi Luật DN nhà nước), DN nước ngoài (trước đó do Luật Đầu tư nước ngoài điều chỉnh) và các loại hình DN khác như công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh, DN tư nhân (DN tư nhân) trong nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần từ DN nhà nước, DN của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội chuyển đổi thành.

Tiếp đó, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XII) về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa khẳng định: “Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với KTTN là nòng cốt để phát triển một nền kinh tế độc lập, tự chủ”. Vai trò của KTTN được nâng lên là nòng cốt của nền kinh tế, bên cạnh kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, thay vì chỉ là một trong những động lực của nền kinh tế như trước đây.

Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân tại Việt Nam

Sau hơn 30 năm đổi mới, đặc biệt trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, kinh tế Việt Nam đã chuyển hướng và dần thích nghi với nền kinh tế thị trường. Đây chính là đòn bẩy giúp cho khu vực KTTN ngày càng phát triển và khẳng định vai trò quan trọng đối với nền kinh tế đất nước.

Trong giai đoạn 2005 - 2014, khu vực KTTN phát triển mạnh mẽ và tăng nhanh về số lượng. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, tính đến năm 2014, Việt Nam có khoảng 500 nghìn DN thuộc thành phần KTTN chiếm gần 96,5% số DN của cả nước, bình quân mỗi năm tăng thêm 32 nghìn DN, trong khi khu vực DN nhà nước ngày càng giảm về số lượng (bình quân giảm 115 DN/năm).

Thống kê cho thấy, nếu như năm 2015, có 427.000 DN tư nhân đang hoạt động (chiếm 49,5% tổng số DN đã đăng ký tính đến năm 2015) thì đến năm 2018, cả nước có 131,3 nghìn DN đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 1.478,1 nghìn tỷ đồng, tăng 3,5% về số DN và tăng 14,1% về số vốn đăng ký so với năm 2017.

Xét về cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội, nguồn vốn tư nhân không chỉ luôn chiếm vị trí thứ 2 giữa 03 khu vực, mà còn có xu hướng tăng từ mức 22% (năm 2000) lên 38,4% (năm 2014). Kết quả cho thấy, ngay cả những giai đoạn kinh tế khó khăn (2008-2009 và 2011-2013) thì vốn đầu tư khu vực tư nhân vẫn tăng mạnh mẽ cho thấy tính ổn định, bền vững của khu vực này. Năm 2017, vốn đầu tư của KTTN tăng trưởng 17,1% so với năm trước, cao hơn tốc độ tăng trưởng của tổng số vốn đầu tư xã hội khoảng 11%; theo đó tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực KTTN trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng nhanh và vượt mức 40%. 

Đặc biệt, năm 2018, sau năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về phát triển KTTN thành động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Chính phủ đã ghi dấu ấn đặc biệt trong cải thiện môi trường đầu tư - kinh doanh, đưa niềm tin kinh doanh của nhà đầu tư trong nước và nước ngoài lên cao (con số này đã lên 18,5 % và tăng ở mức 12% so với năm trước). Đáng chú ý, 2018 là năm của các dự án quy mô lớn, của khu vực KTTN như: Nhà máy sản xuất ô tô, xe máy điện VinFast, với tổng vốn đầu tư 3,5 tỷ USD, quy mô 355ha; Sân bay Quốc tế Vân Đồn do Tập đoàn Sun Group làm chủ đầu tư đã chính thức đón chuyến bay thương mại đầu tiên…

Giai đoạn 2010-2016, tỷ trọng đóng góp của các DN tư nhân trong tổng thu ngân sách đã tăng từ 11,9% (năm 2010) lên 14,3% (năm 2016), (tức là khoảng 3 tỷ USD đến 7 tỷ USD/năm tính theo giá trị tuyệt đối). Thống kê cho thấy, thu ngân sách nhà nước từ các DN ngoài quốc doanh liên tục tăng lên, đến năm 2018 là năm đầu tiên thu ngân sách nhà nước từ sản xuất kinh doanh của khu vực KTTN vượt khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực DN nhà nước. Ngoài ra, khu vực KTTN đóng góp trên 40% GDP của nền kinh tế và có dấu hiệu tăng lên nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế. Đến năm 2018, KTTN đóng góp khoảng 42% GDP của nền kinh tế và có dấu hiệu tăng lên. Những tín hiệu này phản ánh sự lớn mạnh về quy mô, số lượng chủ thể và hiệu quả động của KTTN.

Mặc dù, có những đóng góp đáng kể nhưng khu vực KTTN vẫn còn tồn tại một số hạn chế sau: Chưa thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế; Đóng góp vào GDP của khu vực KTTN gần như không có sự thay đổi trong suốt thời gian dài; Quy mô của KTTN vẫn còn hạn chế và chậm phát triển, chủ yếu vẫn là hộ kinh doanh cá thể và kinh tế hộ gia đình (nhỏ và siêu nhỏ); Hiệu quả sử dụng vốn, khả năng sinh lời của các DN tư nhân thiếu ổn định và có chiều hướng giảm…

Phát triển kinh tế tư nhân nhìn từ góc độ cải cách thủ tục hành chính - Ảnh 2

Rào cản đối với khối KTTN còn khá nhiều, đơn cử như còn có sự phân biệt đối xử giữa các loại hình DN với DN tư nhân trong tiếp cận nguồn lực và trong nhận thức của hệ thống chính trị; Môi trường đầu tư, kinh doanh còn nhiều hạn chế, tiềm ẩn rủi ro cao, thiếu sự an toàn, minh bạch; Mức độ không an toàn trong kinh doanh từ chính sách vẫn còn cao, đặc biệt là do sự thay đổi nhanh và khó tiên liệu của chính sách; Môi trường đầu tư, kinh doanh gặp nhiều rào cản như gia nhập thị trường, kết cấu hạ tầng, tiếp cận thông tin, nguồn lực; Quyền tài sản và quyền sở hữu trí tuệ chưa được bảo vệ một cách hiệu quả; Chi phí tuân thủ pháp luật trong một số lĩnh vực còn cao, tiếp cận tín dụng còn khó khăn; Môi trường cạnh tranh thiếu lành mạnh; Năng lực nội tại của DN thuộc khu vực tư nhân hạn chế…

Vai trò của cải cách thủ tục hành chính đối với phát triển kinh tế tư nhân

Hiện nay, về cơ bản, mặc dù đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong cải cách hành chính, song thủ tục hành chính ở nước ta còn có nhiều hạn chế như: Hình thức đòi hỏi quá nhiều giấy tờ, gây phiền hà cho nhân dân, nặng nề, nhiều cửa, nhiều cấp trung gian, rườm rà, không rõ ràng về trách nhiệm, không phù hợp với yêu cầu của thời kỳ mở cửa và hội nhập. Nhiều thủ tục hành chính còn thiếu thống nhất...

Vì vậy, trong tiến trình phát triển và hội nhập, cải cách thủ tục hành chính có một vai trò đặc biệt quan trọng. Đơn giản hóa thủ tục hành chính nhằm tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi, minh bạch nhằm giảm thiểu chi phí về thời gian và tài chính của các DN tư nhân trong việc thực hiện các thủ tục hành chính, trong đó có các thủ tục liên quan đến thuế và hải quan.

Thời gian nộp thuế và thời gian thực hiện thủ tục hành chính thông quan hàng hóa được rút ngắn qua các năm. Cụ thể, thời gian nộp thuế năm 2017 còn dưới 11 giờ, giảm 420 giờ so với năm 2013, thời gian giải phóng hàng nhập khẩu giảm từ 42 giờ năm 2014 xuống còn 34 giờ năm 2016. Trong lĩnh vực hải quan, thời gian qua đã rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa đối với 223 thủ tục hải quan, tiếp tục triển khai thực hiện thủ tục hải quan điện tử.

Khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho thấy, có 12% ý kiến cho rằng, khó khăn lớn nhất khi giải quyết thủ tục hành chính; 23% cho biết họ phải dành hơn 10% quỹ thời gian để tìm hiểu và thực hiện các quy định pháp luật của Nhà nước, gần 30% DN cho biết họ vẫn phải đi lại nhiều lần để lấy dấu và chữ ký. Cũng theo đánh giá của các DN, còn nhiều DN cho rằng cán bộ không thân thiện khi giải quyết thủ tục hành chính...

Năm 2018, Chính phủ đã ghi dấu ấn đặc biệt trong cải thiện môi trường đầu tư - kinh doanh, đưa niềm tin kinh doanh của nhà đầu tư trong nước và nước ngoài lên cao (con số này đã lên 18,5 % và tăng ở mức 12% so với năm trước). Đáng chú ý, 2018 là năm của các dự án quy mô lớn, của khu vực kinh tế tư nhân như: Nhà máy sản xuất ô tô, xe máy điện VinFast, với tổng vốn đầu tư 3,5 tỷ USD, quy mô 355ha; Sân bay Quốc tế Vân Đồn do Tập đoàn Sun Group làm chủ đầu tư đã chính thức đón chuyến bay thương mại đầu tiên…

Những lĩnh vực mà DN đang gặp nhiều khó khăn khi thực hiện thủ tục hành chính bao gồm: Đất đai (21%), bảo hiểm xã hội (13%), xây dựng (9%), bảo vệ môi trường (6,5%), đăng ký DN, đăng ký đầu tư (6%)... Bên cạnh đó, tình trạng nợ đọng văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật và việc ban hành văn bản thì còn chồng chéo. Mặc dù, cải cách thủ tục hành chính đã được thực thi nhưng không những không giảm thủ tục hành chính mà còn có chiều hướng tăng lên, nhiều thủ tục hành chính ban hành chưa coi trọng ý kiến các tổ chức cá nhân, chủ yếu là tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan nhà nước...

Mặt khác, hiện nay chưa xây dựng cơ cấu cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính và chưa thực hiện tốt việc đào tạo trước khi bổ nhiệm, cơ chế quy định trách nhiệm người đứng đầu. Công tác chống tham nhũng, sách nhiễu DN vẫn còn hạn chế, sự tham gia đóng góp của người dân, DN chưa được coi trọng, hoặc chưa được tiếp thu và điều chỉnh kịp thời...

Giải pháp đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính phát triển kinh tế tư nhân

Cải cách thủ tục hành chính phải hướng tới đảm bảo tính pháp lý, hiệu quả, minh bạch và công bằng trong giải quyết công việc đi đôi với việc phát hiện để xóa bỏ những thủ tục rườm rà, chồng chéo gây khó khăn cho người dân và DN. Trong thời gian tới, việc xây dựng, sửa đổi các thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, thuận lợi cho các DN khu vực tư nhân cần theo hướng sau:

Thứ nhất, cải cách thủ tục hành chính các lĩnh vực thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội, đặc biệt mở rộng cải cách những thủ tục liên quan đến đất đai, cấp phép xây dựng, thủ tục đầu tư, tiếp cận nguồn vốn vay, thành lập DN... Đồng thời, xóa bỏ những quy định không cần thiết, mẫu hóa thống nhất trong cả nước các loại giấy tờ, thủ tục có liên quan đến các DN khu vực tư nhân.

Thứ hai, để cải cách hành chính giúp khu vực KTTN phát triển, cần đẩy mạnh ứng dụng các công nghệ mới, công nghệ tiên tiến trong hoạt động, đặc biệt công nghệ dữ liệu lớn, công nghệ chuỗi khối, công nghệ internet. Xây dựng hệ thống thủ tục hành chính phù hợp với kiến trúc Chính phủ Việt Nam.

Thứ ba, ban hành cơ chế kiểm tra cán bộ, công chức tiếp nhận và giải quyết công việc; xử lý nghiêm người vi phạm, khen thưởng kịp thời những người thi hành xuất sắc nhiệm vụ, nhằm tiếp tục tạo bước chuyển biến căn bản trong quan hệ giữa cơ quan Nhà nước và các DN khu vực tư nhân trong việc giải quyết các thủ tục hành chính.

Thứ tư, chuyển giao các dịch vụ công liên quan đến các hoạt động hỗ trợ phát triển DN và xúc tiến thương mại, đầu tư cho các hiệp hội DN để tập trung nỗ lực của các cơ quan Chính phủ vào việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước; tinh giản bộ máy hành chính, đảm bảo tính chuyên nghiệp; đồng thời giúp tạo nguồn thu hỗ trợ các hiệp hội, ngành hàng trong quá trình hoạt động.

Thứ năm, thường xuyên tổ chức các buổi đối thoại với DN để lắng nghe các ý kiến phản ánh vướng mắc của DN, từ đó giải quyết, tháo gỡ kịp thời khó khăn vướng mắc cho DN trong việc thực hiện thủ tục hành chính.

Thứ sáu, bản thân các DN khu vực tư nhân cần nỗ lực hơn nữa trong việc phát triển DN để hòa nhập với cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế. 

Tài liệu tham khảo

  1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII (2017), Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3/6/2017 “Về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”;
  2. Nguyễn Quốc Toản (2014), “Các động lực mới đẩy mạnh cải cách kinh tế và hội nhập quốc tế hướng tới sự phát triển bền vững của đất nước”, Tạp chí Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, tháng 11/2014;
  3. Trần Kim Chung, Tô Ngọc Phan, Vai trò động lực của kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế Việt Nam, Tạp chí Tài chính;
  4. Đức Thành (2018), Kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng lớn nhất trong GDP của Việt Nam, Lao động điện tử;
  5. H.L (2018), Doanh nghiệp tư nhân có đóng góp nhiều nhất cho ngân sách nhà nước, báo Pháp luật Xã hội.
THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM