Doanh nghiệp nhỏ và vừa: Ít cơ hội để... lớn

(Taichinh) - Không chỉ khó lớn, cơ hội kinh doanh co lại khiến nhiều doanh nghiệp (DN) buộc phải thu hẹp quy mô và phạm vi hoạt động.

Ít ai có thể ngờ rằng, câu hỏi "dạo này DN thế nào" lại gây bức xúc đến thế với một vị chủ tịch hội đồng quản trị của một tập đoàn DN tư nhân. "Giờ thì tôi chỉ muốn yên tĩnh để lo cho sự tồn tại của DN, lo việc làm cho công nhân thôi", vị này nói khi được hỏi lý do tại sao chưa triển khai những dự án đã công bố trước đó.

Thu lại để bảo toàn

Mặc dù tiền tố tập đoàn trong tên của DN tư nhân nói trên cho đến giờ vẫn là đề tài tranh luận của cả giới hoạch định chính sách cũng như các nhà nghiên cứu và chính các DN, rằng cần phải đáp ứng tiêu chí nào đó hay chỉ cần có hơn một DN trong nhóm là có thể mang "mũ" tập đoàn, song với việc thoái lui một loạt kế hoạch kinh doanh, cộng với lợi nhuận nhỏ đi từ khoản đầu tư trước đó, có thể thấy tập đoàn này đang bé lại đáng kể.

"Khó khăn nhất bây giờ là bảo toàn được nguồn lực, kể cả vốn và nhân lực. Cách tốt nhất là thu hẹp theo nguyên tắc giữ các bộ phận cốt cán" - vị chủ tịch hội đồng quản trị nói trên chia sẻ về cách thức tồn tại khi nhu cầu trong nước giảm mạnh ở hầu hết các lĩnh vực, kể cả sản xuất công nghiệp và tiêu dùng.

Đây chắc chắn không phải là DN duy nhất áp dụng biện pháp thu hẹp sản xuất, thậm chí tạm đóng cửa một số DN con, để bảo toàn. Trong khảo sát mới được công bố của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về động thái DN, hầu hết các yếu tố tác động trực tiếp đến sản xuất kinh doanh như: nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế, giá thành sản xuất, khả năng tiếp cận vốn vay, tiếp cận mặt bằng, đất đai… đều được chính các DN cho điểm rất thấp (dưới 0) khi nhận định về tình hình năm 2013.

Thậm chí, với 3 yếu tố có mức giảm điểm lớn nhất là nhu cầu thị trường trong nước (giảm 29 điểm so với năm 2012), nhu cầu thị trường nước ngoài (giảm 30 điểm) và khả năng tiếp cận vốn vay (giảm 30 điểm), có thể thấy, cơ hội kinh doanh của nhiều DN là không có và như vậy, khả năng buộc phải giảm bớt quy mô, cả vốn và lao động là điều khó tránh.

Xu hướng nhỏ lại

Gắn những động thái mới nhất này vào xu hướng chuyển dịch của DN Việt Nam giai đoạn 2002-2011 vừa được VCCI tổng kết, có thể thấy, trong khi vẫn chưa tìm được thuốc đặc trị cho căn bệnh khó lớn của DN Việt Nam thì các DN đã bị nhỏ đi do cơ hội kinh doanh bị thu hẹp. Dựa trên số liệu chính thức về DN do Tổng cục Thống kê công bố, VCCI đã phát hiện, chỉ trong vòng 1 năm, 2010-2011, có tới 40% DN quy mô vừa thu hẹp quy mô lao động. Số lượng DN thu hẹp vốn ít hơn, chỉ khoảng gần 7%, song lại là những DN lớn lui về làm DN vừa và nhỏ.

Nếu xét cả giai đoạn 2002-2011, tỷ trọng DN nhỏ và siêu nhỏ của Việt Nam phân theo quy mô lao động đã tăng từ 90 lên 95,6%, trong đó có tới 2/3 DN siêu nhỏ với số lao động dưới 10 người. Ngược lại, số DN vừa và lớn vào năm 2011 chỉ còn 2,1 so với 2,4% trong năm 2002. Nếu xét về vốn, xu hướng khá hơn với sự giảm đi của DN nhỏ, từ 89,7% năm 2002 xuống còn 84,1% năm 2011. Số DN lớn cũng đã tăng từ 3 lên 4,4%.
 
SỰ CHUYỂN DỊCH CỦA DN VỪA GIAI ĐOẠN 2002-2011
ảnh 1
Đáng nói hơn cả là số DN vừa, lực lượng được kỳ vọng sẽ là trụ đỡ của nền kinh tế trong giai đoạn chuyển đổi khi các DN lớn lao đao bởi quy mô quá lớn, khó dịch chuyển, các DN nhỏ không đủ sức cạnh tranh, lại có xu hướng nhỏ đi. Theo phân tích của VCCI, có tới 38,78% DN vừa đã chuyển thành DN nhỏ trong năm 2011, thậm chí có tới 5,1% bé lại thành siêu nhỏ. Ngay cả với các DN quy mô lớn vào năm 2002 thì có tới 13,5% chuyển xuống quy mô vừa, 17,53% chuyển xuống quy mô nhỏ và 2,38% chuyển xuống quy mô siêu nhỏ.

Cũng phải nói thêm rằng, DN nhỏ, siêu nhỏ dù luôn chiếm đa số trong nền kinh tế song tỷ lệ đóng góp của khu vực này, nhất là về lao động, cũng nhỏ tương ứng. Năm 2011, tỷ trọng lao động trong các DN nhỏ là 10,1% trong khi các DN lớn thu hút được hơn 52% lao động, dù chiếm có 2,4% trong tổng số DN. Với góc độ này, cộng thêm tính thiếu chuyên nghiệp, chuyển dịch lớn của DN nhỏ, sự phát triển của nền kinh tế sẽ trở nên rất bấp bênh nếu phụ thuộc vào số đông các DN nhỏ, siêu nhỏ.

Do cơ hội sai lệch

Ông Nguyễn Đình Cung, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương là một trong những chuyên gia kinh tế lên tiếng cảnh báo: tới thời điểm này, tư duy đầu cơ, sử dụng vốn đầu tư dễ dãi vẫn chi phối các quyết định tái cơ cấu DN, kể cả DN nhà nước và DN tư nhân. "Chỉ nhìn vào các đề xuất của DN với Chính phủ về các chính sách hỗ trợ, có thể thấy đa phần DN vẫn muốn được hỗ trợ để cố gắng cứu vớt phần lợi nhuận từ các khoản đầu tư trước, hay cố gắng duy trì tình trạng hiện hữu của DN. Với cách duy trì này, DN sẽ buộc phải "ăn vào thịt" và sẽ teo tóp dần khi thị trường đã đòi hỏi những thay đổi mới", ông Cung phân tích.

Trong vòng 1 năm, 2010-2011, có tới 40% DN quy mô vừa thu hẹp quy mô lao động

Dễ thấy nhất là thị trường bất động sản, khi cầu đang đòi hỏi mức giá thấp, nếu DN kiên quyết giữ giá để đợi hỗ trợ, sự dùng dằng của thị trường bất động sản sẽ còn kéo dài. "Đáng ra DN phải xác định thị trường đang đòi hỏi gì, để chuyển dịch theo hướng đó, chứ không phải là bấu víu vào tài sản hiện hữu. Có thể việc bán rẻ một số tài sản hiện có để thu tiền, đầu tư vào cơ hội kinh doanh khác phù hợp với thị trường hơn sẽ thay đổi tình thế của DN", ông Cung khuyến nghị cách giải quyết này với cả các khoản đầu tư ngoài ngành của DN nhà nước đang đình trệ vì giá thị trường đi xuống.

Kinh nghiệm thành công của cải cách trong mấy thập kỷ qua cho thấy, cơ hội đầu tư mới sẽ xuất hiện khi thị trường và cơ chế thị trường được mở rộng hơn và hoạt động tốt hơn, cạnh tranh thực sự và bình đẳng hơn, mở cửa nhiều hơn và thực chất hơn; cơ hội nhiều hơn cho khu vực tư nhân; DN nhà nước và đầu tư nhà nước giảm về quy mô nhường chỗ cho khu vực tư nhân, nhất là DN vừa và nhỏ. DN sẽ chỉ lớn lên một cách bền vững khi môi trường kinh doanh không nhằm bảo vệ cơ hội kinh doanh và lợi ích của một nhóm DN hay một ngành cụ thể nào mà tạo cơ hội cho bất cứ ai có sáng kiến và dám chấp nhận rủi ro.

Theo Diễn đàn Doanh nghiệp

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu