Nâng cao hiệu quả thu hồi nợ của khách hàng tại các công ty xi măng

ThS. Nguyễn Thị Thu Huyền

(Taichinh) - Làm thế nào để nâng cao hiệu quả thu hồi nợ phải thu của khách hàng tại các công ty xi măng luôn là vấn đề làm đau đầu các nhà quản trị cũng như các cơ quan quản lý. Nợ phải thu phát sinh nếu không có biện pháp quản lý và thu hồi kịp thời sẽ dẫn tới tình trạng vốn bị chiếm dụng kéo dài, ảnh hưởng trực tiếp tới vòng quay vốn kinh doanh và tình hình thanh toán cũng như khả năng thu lợi của doanh nghiệp. Xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu, bài viết đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu hồi nợ phải thu của khách hàng tại các công ty xi măng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Ảnh minh họa. Nguồn: InternetẢnh minh họa. Nguồn: Internet

Thực trạng nợ phải thu của khách hàng tại một số công ty

Công ty cổ phần Xi măng Quán Triều, Nhà máy Xi măng Lưu Xá, Công ty cổ phần Xi măng La Hiên, Công ty cổ phần Xi măng Cao Ngạn và Công ty TNHH một thành viên Xi măng Quang Sơn là những đơn vị sản xuất xi măng chính của tỉnh Thái Nguyên.

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, việc tiêu thụ sản phẩm xi măng các loại, clinker, gạch, tấm lợp, tấm nóc… diễn ra sẽ phát sinh các khoản phải thu của khách hàng. Thực trạng cho thấy, số dư các khoản phải thu của khách hàng trong những năm gần đây có sự biến động tăng lên. Cụ thể:

Công ty cổ phần xi măng Quán Triều là đơn vị phát sinh nhiều hợp đồng kinh tế bán hàng với giá trị lớn nên khoản nợ phải thu của khách hàng có số dư khá cao, tính tại thời điểm 31/12/2013 là 56,55 tỷ đồng, 31/12/2014 giảm xuống là 34,60 tỷ đồng nhưng tính đến thời điểm 31/12/2015 lại tăng lên 57,35 tỷ đồng.

Trong khi, tổng tài sản giảm đi qua các năm tương ứng là 1.482,33 tỷ đồng, 1.378,84 tỷ và 1.289,23 tỷ đồng. Như vậy, số tài sản của đơn vị bị chiếm dụng sẽ gây nhiều bất lợi cho công ty trong việc thanh toán cũng như thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh.

Tại nhà máy xi măng Lưu Xá, khoản nợ phải thu của khách hàng dao động cũng khá cao qua các năm.Tính tại thời điểm 31/12/2013 là 5,18 tỷ đồng, thời điểm 31/12/2014 là 6,27 tỷ đồng, thời điểm 31/12/2015 là 6,37 tỷ đồng, trong khi tổng tài sản của Nhà máy chỉ dao động trong khoảng 28-30 tỷ đồng.

Theo số liệu thống kê số vòng quay các khoản phải thu năm 2014 là 16,23 vòng còn năm 2015 là 14,47 vòng. Điều này cho thấy, sự chủ động của Nhà máy về nguồn vốn lưu động trong sản xuất giảm xuống đáng kể, do đó, Nhà máy sẽ phải tìm nguồn vay để tài trợ thêm cho nguồn vốn lưu động.

Công ty cổ phần xi măng La Hiên có số nợ phải thu của khách hàng tại thời điểm 31/12/2013 là 19,25 tỷ đồng, thời điểm 31/12/2014 là 21,12 tỷ đồng, thời điểm 31/12/2015 là 19,29 tỷ đồng. Khoản nợ phải thu này khiến cho đơn vị bị hạn chế nguồn tiền trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.

Công ty TNHH một thành viên Xi măng Quang Sơn sau 6 năm tham gia vào thị trường dù đã rất nỗ lực sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm nhưng đến nay vẫn còn nhiều khó khăn. Số liệu cho thấy, năm 2014, Xi măng Quang Sơn lỗ tới 240,8 tỷ đồng, năm 2015 lỗ 210 tỷ đồng và dự kiến năm 2016 lỗ 282 tỷ đồng.

Mặc dù, doanh thu bán hàng của Xi măng Quang Sơn đã có sự cải thiện đáng kể, trong những năm gần đây đều vượt hơn 1.000 tỷ đồng/năm nhưng do quá trình đầu tư, vốn tự có chỉ có khoảng 5%, còn lại 95% là đi vay, nên gánh nặng trả nợ vốn và vay đầu tư quá lớn, khiến thời gian lỗ kế hoạch càng kéo dài.

Mặt khác, dù doanh thu bán hàng lớn nhưng số tiền thực tế thu về từ bán hàng không nhiều do khách hàng nợ đọng vốn khiến cho số nợ phải thu của khách hàng liên tiếp tăng qua các năm 35,7 tỷ đồng (2014), 42,5 tỷ đồng (2015).

Nâng cao hiệu quả thu hồi nợ phải thu của khách hàng tại các công ty xi măng

Xuất phát từ thực tiễn trên, nhằm nâng cao hiệu quả thu hồi nợ phải thu của khách hàng, các công ty xi măng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên cần áp dụng một số giải pháp như sau:

Thứ nhất, tăng cường tổ chức quản trị khoản phải thu của khách hàng: Phải đảm bảo phân công rõ ràng, bố trí nhân sự hợp lý cho việc đôn đốc, theo dõi thu hồi nợ trên cơ sở nguồn nhân lực hiện có.

Thứ hai, cần phối hợp giữa các phòng ban chức năng: Cùng theo dõi khách hàng nợ về giá trị, thời hạn, địa chỉ nhưng mỗi phòng ban sẽ có chức năng khác nhau: Phòng thương mại định kỳ lập báo cáo công nợ theo dõi khách hàng một cách tổng quát, đồng thời đề xuất biện pháp thu hồi công nợ nhằm đảm bảo các khoản nợ được thanh toán đúng hạn.

Phòng kế toán mở sổ kế toán tổng hợp và chi tiết cho tài khoản 131, Báo cáo tổng hợp công nợ bán hàng và có đề xuất cho phòng kinh doanh ngừng bán hàng cho những đơn vị không có khả năng thanh toán, gửi xác nhận công nợ cho những khách hàng có số dư nợ lớn hoặc quá hạn thanh toán.

Thứ ba, thường xuyên theo dõi và đánh giá hiệu quả quản lý khoản nợ phải thu của khách hàng: Việc theo dõi thường xuyên các khoản nợ phải thu giúp cho công tác quản lý nợ được thuận lợi, dễ đối chiếu, dễ kiểm tra khi cần thiết từ đó cung cấp thông tin kịp thời cho việc ra quyết định.

Vì vậy, để nâng cao hiệu quả việc theo dõi nợ phải thu của khách hàng, các công ty nên kết hợp phân loại các khoản nợ theo nhiều tiêu thức khác nhau: Theo khả năng thu hồi; Theo thời gian thu hồi nợ; Theo hình thức bảo lãnh; Theo tính chất của khách nợ.

Việc phân loại sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới chi phí phát sinh cho việc thu hồi nợ và khoản trích lập dự phòng phải thu để đề phòng rủi ro không thu hồi được nợ, từ đó đưa ra những biện pháp xử lý kịp thời để tránh gây tổn thất cho đơn vị. Ngoài ra, để đánh giá hiệu quả quản lý nợ phải thu của khách hàng, các công ty có thể xem xét thông qua các công cụ tài chính sau:

- Kỳ thu tiền bình quân = (Tổng giá trị các khoản phải thu/Doanh số bán chịu bình quân). Qua công cụ này, nhà quản trị có thể biết được một đồng tiền bán hàng trước đó phải mất bao nhiêu ngày mới thu lại được.

- Tỷ lệ các khoản phải thu so với phải trả = (Tổng số nợ phải thu/Tổng số nợ phải trả). Tỷ lệ này càng lớn chứng tỏ đơn vị bị các tổ chức khác chiếm dụng vốn càng nhiều và ngược lại tỷ lệ này càng nhỏ thì chứng tỏ đơn vị đã sử dụng vốn của đơn vị khác nhiều.

- Số vòng luân chuyển các khoản phải thu = (Tổng doanh số bán chịu được/Bình quân các khoản phải thu). Qua chỉ tiêu này, doanh nghiệp xác định được mức độ hợp lý của số dư các khoản phải thu và hiệu quả của việc thu hồi nợ.

Thứ tư, áp dụng các chính sách và hình thức bán hàng hợp lý: Trong mỗi hợp đồng kinh tế, các công ty cần soạn thảo một chính sách chi trả rõ ràng để hạn chế những vấn đề phát sinh về nợ của khách hàng, yêu cầu khách hàng ký thoả thuận, quy định về việc thanh toán nợ và nêu rõ mức phạt nếu khách hàng thanh toán chậm; nên tính lãi phạt cho những hóa đơn thanh toán trễ hạn nhằm khuyến khích khách hàng thanh toán đúng kỳ hạn. Ngoài ra, mỗi công ty có thể áp dụng chính sách chiết khấu thanh toán nhằm khuyến khích hàng thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn tránh rủi ro trong việc phát sinh nợ phải thu.

Cách tốt nhất để hạn chế rủi ro từ nợ là cẩn trọng hơn trong việc đặt ra tiêu chuẩn, điều khoản cũng như thời hạn bán chịu. Tiêu chuẩn xét bán chịu nên dựa trên mức vốn, khả năng trả nợ, uy tín, thông tin về tín dụng của khách nợ trong quá khứ…

Thứ năm, nâng cao năng lực của cán bộ thu nợ: Nhiệm vụ của cán bộ thu nợ là giúp khách hàng nâng cao ý thức thanh toán nợ. Vì vậy, để đạt hiệu quả cao trong thu hồi công nợ thì cán bộ thu nợ phải luôn thân thiện với khách hàng, nắm chắc được tình hình hoạt động cũng như các thông tin khác về khách hàng; Đồng thời, duy trì tác phong thu nợ chuyên nghiệp, biết kiềm chế bản thân và thật tập trung, trong khi xử lý phải biết đưa ra yêu cầu trả nợ một cách thẳng thắn, nghiêm túc.

Thứ sáu, áp dụng triệt để các hình thức thu nợ: Để nâng cao hiệu quả thu hồi nợ phải thu, các công ty nên đa dạng các hình thức thu nợ như: gửi thu, gọi điện nhắc nhở, đòi nợ trực tiếp, ủy quyền cho các ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng tiến hành các thủ tục pháp lý thu hồi nợ, sử dụng dịch vụ thu hồi nợ của các công ty.

Thứ bảy, thành lập ban thu hồi công nợ: Đối với những đơn vị phát sinh nhiều giao dịch thương mại với giá trị lớn, số phát sinh nợ phải thu nhiều, nên thành lập một ban thu hồi công nợ. Ban này có trách nhiệm phân tích, xem xét, xử lý, báo cáo việc thu hồi công nợ; Đồng thời, trực tiếp tiến hành nhiệm vụ thu hồi công nợ cho đơn vị bằng cách: gửi văn bản nhắc nợ, trực tiếp đòi nợ, đề xuất khởi kiện nếu cần, đề xuất trích lập dự phòng…

Tài liệu tham khảo:

1. Báo cáo tài chính của Công ty cổ phần xi măng Quán Triều, Nhà máy xi măng Lưu Xá, Công ty cơ phần xi măng La Hiên, Công ty cổ phần xi măng Cao Ngạn va CTTNHH MTV Quang Sơn;

2. Nguồn “National Federation anh Dependent Businesses”;

3. Tạp chí tài chính.vn;

4. Webketoan.vn.

Bài đăng trên tạp chí Tài chính kỳ II tháng 12/2016

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục