Những hạn chế trong công tác kiểm toán báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp xây dựng

Ths. Nguyễn Thị Thanh Phương - Học viện Tài chính

(Taichinh) - Đối với một số loại hình doanh nghiệp đặc thù như doanh nghiệp xây dựng, công tác kiểm toán báo cáo tài chính do các công ty kiểm toán nhỏ và vừa thực hiện trong thời gian qua còn tồn tại khá nhiều hạn chế. Những hạn chế này làm ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả kiểm toán, phần nào đang làm cho kiểm toán chưa xứng đáng với vai trò và vị thế trong nền kinh tế.
Ảnh minh họa. Nguồn: internetẢnh minh họa. Nguồn: internet

Hoạt động kiểm toán độc lập xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1991 với sự ra đời của hai công ty kiểm toán đầu tiên là Công ty kiểm toán Việt Nam (VACO) và Công ty dịch vụ tư vấn Tài chính kế toán và kiểm toán (AASC).

Trải qua hơn 25 năm phát triển, kiểm toán độc lập đã khẳng định được vai trò và sự cần thiết đối với nền kinh tế, số lượng các công ty kiểm toán tăng lên đáng kể, các loại hình dịch vụ cung cấp ngày càng đa dạng.

Theo thống kê của hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), tính đến ngày 31/08/2017, cả nước có 162 doanh nghiệp được Cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán. Các công ty kiểm toán tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau và có quy mô hoạt động khác nhau.

Theo thống kê ở Việt Nam, số lượng các công ty kiểm toán nhỏ và vừa chiếm tỷ lệ khá cao, khoảng 80%. Số lượng các công ty kiểm toán gia tăng nhanh chóng tạo nên sự cạnh tranh gay gắt, đặc biệt là giữa các công ty kiểm toán nhỏ và vừa.

Khảo sát thực tế tại các công ty kiểm toán nhỏ và vừa, có thể thấy rằng, khách hàng của các công ty kiểm toán nhỏ và vừa cũng chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đây là loại hình doanh nghiệp chiếm đa số và chủ yếu trong nền kinh tế.

Việc tổ chức kiểm toán BCTC cho các loại hình doanh nghiệp khác nhau trong nền kinh tế do các công ty kiểm toán nhỏ và vừa thực hiện đã đạt được một số thành tựu đáng kể như: Công tác kiểm toán ngày càng bài bản hơn, hoạt động kiểm toán được tổ chức chuyên nghiệp hơn, chất lượng kiểm toán viên (KTV) tham gia kiểm toán ngày càng được nâng cao, chất lượng cuộc kiểm toán cũng được đảm bảo hơn, tạo được niềm tin cho người sử dụng kết quả kiểm toán đối với doanh nghiệp kiểm toán.

Tuy nhiên, đối với một số loại hình doanh nghiệp đặc thù như doanh nghiệp xây dựng (DNXD), công tác kiểm toán BCTC DNXD do các công ty kiểm toán nhỏ và vừa thực hiện trong thời gian qua còn tồn tại khá nhiều hạn chế. Những hạn chế này làm ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả kiểm toán, phần nào đang làm cho kiểm toán chưa xứng đáng với vai trò và vị thế trong nền kinh tế.

Những tồn tại, hạn chế chủ yếu

Có thể chỉ ra một số hạn chế trong tổ chức công tác kiểm toán BCTC DNXD tại các công ty kiểm toán nhỏ và vừa như sau:

- Về mặt thiết kế, theo kết quả khảo sát, 100% công ty kiểm toán nhỏ và vừa thiết kế đầy đủ các nội dung công việc trong kiểm toán BCTC DNXD.

- Hạn chế trong tổ chức nguồn nhân lực: Tại các công ty kiểm toán nhỏ và vừa, việc tổ chức đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế. Nhiều công ty kiểm toán còn chưa tạo điều kiện cho nhân viên tham gia đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn và dự thi các chứng chỉ hành nghề.

Số lượng nhân sự kiểm toán còn hạn chế, vào thời gian cao điểm của nghề kiểm toán từ đầu tháng 1 đến hết tháng 3 hàng năm, số lượng nhân sự không đủ đáp ứng khối lượng công việc dẫn đến tình trạng thiếu hụt nhân sự trầm trọng.

Ở các công ty kiểm toán nhỏ và vừa, do đặc thù nghề kiểm toán thường diễn ra với mật độ cao trong một thời gian nhất định trong năm, nên đôi khi công việc kiểm toán được tiến hành bởi những KTV không có đủ kinh nghiệm về ngành nghề kinh doanh của khách hàng.

Qua kết quả khảo sát, 80% nhân sự đoàn kiểm toán BCTC DNXD tại các công ty kiểm toán nhỏ và vừa thường chỉ gồm từ 3 đến 4 người, 20% đoàn kiểm toán BCTC DNXD trên 4 người, các công việc có rủi ro cao tập trung cho những trưởng nhóm kiểm toán và trợ lý kiểm toán có kinh nghiệm lâu năm, dẫn tới khối lượng công việc của những người này lớn, cường độ làm việc cao có thể dẫn tới rủi ro phát hiện cao.

Do tính chất đặc thù và phức tạp trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như trong BCTC DNXD, công tác kiểm toán BCTC DNXD cần phải được thực hiện bởi các KTV có kinh nghiệm tài chính kế toán và các KTV am hiểu về lĩnh vực xây dựng. Tuy nhiên, theo kết quả khảo sát, chỉ 55% công ty kiểm toán vừa có các KTV am hiểu về lĩnh vực xây dựng.

Hạn chế trong tổ chức quy trình kiểm toán BCTC DNXD: Tuân thủ theo quy định của chuẩn mực kiểm toán, hiện nay các công ty kiểm toán nhỏ và vừa đều tổ chức thực hiện kiểm toán BCTC nói chung và BCTC DNXD nói riêng theo một quy trình gồm 03 bước. Mặc dù vậy, trong quá trình tổ chức thực hiện kiểm toán vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng kiểm toán BCTC.

- Hạn chế trong tổ chức giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán: Tại các công ty kiểm toán nhỏ và các công ty kiểm toán mới thành lập, các bước công việc trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán thường được tổ chức thực hiện khá sơ sài và mang tính hình thức, ít có giá trị trong thực tế.

Chỉ ở một số công ty kiểm toán đã thực hiện kiểm toán BCTC DNXDN nhiều năm thì mới thực hiện đầy đủ các công đoạn và chỉ thực hiện đối với các DNXD có quy mô lớn, rủi ro kiểm toán cao.

Kết quả khảo sát tại các công ty kiểm toán nhỏ và vừa cho thấy: Cho dù tiến hành kiểm toán BCTC cho một hay nhiều năm tài chính, hay kiểm toán BCTC cho DNXD có quy mô lớn, hoạt động phức tạp trên nhiều địa bàn thì cũng chỉ lập một bản kế hoạch chiến lược và kế hoạch kiểm toán tổng thể với mức độ khái quát không cao, dẫn đến KTV khó nắm bắt được tổng thể cuộc kiểm toán.

Đồng thời, việc lập chương trình kiểm toán cho từng khoản mục, bộ phận được kiểm toán vẫn mang tính chất hình thức, chủ yếu là sử dụng theo mẫu chung do VACPA ban hành (100% các công ty kiểm toán nhỏ, 60% các công ty kiểm toán vừa sử dụng). Thời gian lập kế hoạch kiểm toán thường ngắn, nội dung thể hiện trên kế hoạch kiểm toán thường không đầy đủ.

Trong nhiều trường hợp, các công ty kiểm toán nhỏ còn không thực hiện lập kế hoạch kiểm toán hoặc lập kế hoạch kiểm toán chỉ là hình thức. Công ty kiểm toán sử dụng kế hoạch kiểm toán giống nhau trong hầu hết các hợp đồng kiểm toán BCTC chứ không chi tiết cho từng DNXD và cho từng hợp đồng kiểm toán (100% tại các công ty kiểm toán nhỏ).

Việc xem xem xét chấp nhận/duy trì khách hàng và đánh giá rủi ro hợp đồng kiểm toán: Theo kết quả khảo sát, 100% các công ty đều thực hiện bước công việc này, tuy nhiên tại các công ty kiểm toán nhỏ, do sức ép về doanh thu nên công ty chấp nhận hầu hết các khách hàng mời kiểm toán, bước công việc này chỉ mang tính chất hình thức để hoàn thiện hồ sơ kiểm toán chứ không có ý nghĩa thực sự trong cuộc kiểm toán.

- Hạn chế trong tổ chức giai đoạn thực hiện kiểm toán: Tổ chức thực hiện các thử nghiệm kiểm soát: Theo kết quả khảo sát, 100% các công ty kiểm toán nhỏ không thực hiện hoặc thực hiện rất ít và sơ sài các thử nghiệm kiểm soát.

Việc ghi chép cũng như kết quả kiểm tra trên các giấy tờ làm việc rất ít hoặc không đầy đủ. 60% các công ty kiểm toán vừa có thực hiện có thực hiện các thử nghiệm kiểm soát nhằm đánh giá hiệu lực của hệ thống Kiểm soát nội bộ (KSNB) tuy nhiên vẫn còn hạn chế, các biểu mẫu giấy tờ không hướng dẫn cách làm cụ thể như: Phải áp dụng thủ tục gì, thời gian khi nào, phạm vi kiểm tra như thế nào, cỡ mẫu chọn bao nhiêu, ghi chép kết quả như thế nào?

Bên cạnh đó, do các khoản mục trên BCTC DNXD thường rất nhiều nên mặc dù có thiết kế các biểu mẫu để đánh giá KSNB cho từng khoản mục, nhưng thực tế các công ty kiểm toán thường không thực hiện đầy đủ, hoặc không thấy ghi chép lại trên giấy tờ làm việc các kết luận đánh giá KSNB liên quan đến từng khoản mục.

Thông thường người phụ trách kiểm toán khoản mục sẽ thực hiện công việc này thông qua việc chọn mẫu một số nghiệp vụ và kiểm tra dấu vết kiểm soát lưu lại trên các tài liệu, chứng từ kết hợp với phỏng vấn thêm và quan sát. Các công ty kiểm toán nhỏ và vừa vận dụng hạn chế các thử nghiệm kiểm soát nên thường phải thực hiện các thử nghiệm cơ bản với phạm vi rộng hơn.

Tổ chức thực hiện thủ tục phân tích: Theo kết quả khảo sát, 100% các công ty kiểm toán nhỏ và vừa thực hiện thủ tục phân tích xu hướng, so sánh số liệu thực tế kỳ này với số liệu thực tế của kỳ trước. KTV ít thực hiện so sánh số liệu thực tế của DNXD với số liệu bình quân của ngành.

KTV cũng không sử dụng hoặc chỉ sử dụng rất hạn chế kỹ thuật phân tích tỷ suất và phân tích ước tính (0% công ty kiểm toán nhỏ sử dụng, 40% công ty kiểm toán vừa sử dụng). Việc sử dụng kỹ thuật phân tích tại các công ty kiểm toán nhỏ và vừa chỉ nhằm mục đích xác định phạm vi kiểm toán, chưa giúp KTV khoanh vùng trọng tâm kiểm toán, đưa ra những nhận định về khả năng xảy ra các sai phạm chủ yếu.

Tổ chức thực hiện kiểm tra chi tiết nghiệp vụ và số dư tài khoản: Tại các công ty kiểm toán nhỏ và vừa, việc thực hiện các thủ tục kiểm tra chi tiết không xác định rõ thủ tục nào để thực hiện kiểm tra chi tiết về nghiệp vụ, thủ tục nào để thực hiện kiểm tra chi tiết về số dư tài khoản. Việc kiểm toán số dư đầu kỳ đối với các khách hàng mới còn nhiều hạn chế.

Các KTV mới chỉ thực hiện đối chiếu số liệu được trình bày trên BCTC năm nay với số liệu được trình bày trong BCTC năm trước mà không thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sung. Với thủ tục này, KTV không đảm bảo khả năng phát hiện ra các gian lận sai sót đối với số dư đầu kỳ, do đó không đủ cơ sở để xác nhận mức độ trung thực hợp lý của số dư đầu kỳ .

Đối với các DNXD, do công trình thi công diễn ra trên nhiều địa phương, thời gian thi công kéo dài qua nhiều năm tài chính, khối lượng và giá trị thi công lớn nên khi tiến hành kiểm toán BCTC DND, Đặc biệt là khi thực hiện các thử nghiệm cơ bản, có nhiều thủ tục kiểm toán bị KTV bỏ qua như kiểm tra thực tế công trường thi công, kiểm kê tại các công trường thi công, các tổ đội sản xuất, gửi thư xác nhận số dư tài khoản.

- Hạn chế trong tổ chức giai đoạn kết thúc kiểm toán: Trong giai đoạn kết thúc kiểm toán, hầu hết các công ty kiểm toán nhỏ và vừa chỉ thực hiện tổng hợp kết quả kiểm toán, đưa ra ý kiến nhận xét và phát hành báo cáo kiểm toán về BCTC DNXD.

Các công ty kiểm toán nhỏ và vừa chưa xem xét và đánh giá về khả năng hoạt động liên tục của các DNXD, soát xét các khoản nợ bất thường cũng như chưa kiểm tra và đánh giá các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm.

Mặt khác, vào giai đoạn cao điểm của mùa kiểm toán, công việc kiểm toán thường rất nhiều, các KTV phải thường xuyên đi thực hiện kiểm toán tại đơn vị khách hàng. Trong khi đó, thời gian quy định đối với mỗi đơn vị khách hàng, KTV cần phát hành Báo cáo kiểm toán sau 3-5 ngày kết thúc công việc kiểm toán nên áp lực công việc rất cao. Điều này tạo sức ép lớn cho các KTV, ảnh hưởng đến hiệu quả và chất lượng công tác kiểm toán BCTC.

- Hạn chế trong tổ chức kiểm soát chất lượng  (KSCL) hoạt động kiểm toán BCTC DNXD: Hiện nay, tại các công ty kiểm toán nhỏ và vừa, công tác KSCL hoạt động kiểm toán BCTC nói chung và kiểm toán BCTC DNXD nói riêng còn nhiều hạn chế. Bản thân các công ty kiểm toán nhỏ và vừa cũng đã ban hành và xây dựng hệ thống chính sách và thủ tục KSCL kiểm toán BCTC tương đối đầy đủ và chặt chẽ, tuy nhiên việc xây dựng này chỉ dừng lại ở việc hoàn thiện hồ sơ tài liệu mà chưa thực sự có ý nghĩa trong thực tế. Việc thực hiện còn nhiều hạn chế, chưa hiệu quả và chỉ mang tính chất hình thức.

- Hạn chế trong tổ chức hoàn thiện và quản lý hồ sơ kiểm toán: Các công ty kiểm toán nhỏ và vừa đều còn hạn chế ở khâu hoàn thiện giấy tờ làm việc và hồ sơ kiểm toán. Việc hoàn thiện giấy tờ làm việc và hồ sơ kiểm toán còn chưa đảm bảo đầy đủ và kịp thời.

Giấy tờ làm việc còn chưa được hoàn thiện ngay sau khi cuộc kiểm toán kết thúc và thường được hoàn thiện khi có đợt kiểm tra của doanh nghiệp hoặc của hiệp hội nghề nghiệp. Điều này chưa đảm bảo tuân thủ các quy định về kiểm soát chất lượng kiểm toán và dẫn đến rủi ro KTV không chứng minh được ý kiến kiểm toán đã nêu ra là phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của cuộc kiểm toán, do thiếu bằng chứng kiểm toán thích hợp khi các cơ quan chức năng của Nhà nước hoặc Hiệp hội nghề nghiệp kiểm tra hoặc trong các trường hợp xảy ra kiện tụng, tranh chấp…

Nguyên nhân của những hạn chế

Thực tế cho thấy, có nhiều nguyên nhân dẫn đến hạn chế nêu trên, có thể kế đến một số nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan như sau:

- Các công ty kiểm toán nhỏ và vừa chưa xây dựng một quy trình và tài liệu hướng dẫn tổ chức công tác kiểm toán BCTC nói chung và BCTC DNXD nói riêng một cách đầy đủ, chặt chẽ.

- Các KTV hiện nay chưa chủ động nâng cao trình độ chuyên môn để được thị trường trong nước và thị trường nước ngoài công nhận trong điều kiện hội nhập hiện nay.

- Do sự quản lý của các cơ quan chức năng và hiệp hội nghề nghiệp còn lỏng lẻo;

- Do khách thể kiểm toán chưa ý thúc được tầm quan trọng và trách nhiệm của mình trong việc lập và trình bày BCTC trung thực, hợp lý.

Một số giải pháp

Từ thực tế trên, bài viết đề xuất một số giải pháp cho thời gian tới như:

Một là, các công ty kiểm toán nhỏ và vừa cần tăng cường hơn nữa việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho các KTV; Tạo điều kiện cho các KTV tham gia thi chứng chỉ hành nghề kiểm toán trong nước và các chứng chỉ quốc tế. Đối với cuộc kiểm toán BCTC DNXD, cần tăng cường sử dụng ý kiến chuyên gia hoặc các KTV am hiểu về lĩnh vực xây dựng, đảm bảo chất lượng kiểm toán.

Hai là, các công ty kiểm toán nhỏ và vừa cần xây dựng quy trình kiểm toán BCTC DNXD phù hợp với quy trình kiểm toán BCTC nói chung và phù hợp với đặc điểm của DNXD.

Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, các công ty kiểm toán nhỏ và vừa cần chú trọng thực hiện đầy đủ các bước công việc đã được thiết kế.

Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, các công ty kiểm toán nhỏ và vừa cũng cần tăng cường hơn nữa thực hiện các thử nghiệm kiểm soát, từ đó dự kiến phạm vi áp dụng thử nghiệm cơ bản. Các công ty kiểm toán nhỏ và vừa cần hoàn thiện việc tổ chức thực hiện thủ tục phân tích. Bên cạnh việc sử dụng thủ tục phân tích xu hướng, cần sử dụng thêm thủ tục phân tích tỷ suất và phân tích ước tính.

Trong giai đoạn kết thúc kiểm toán, các công ty kiểm toán nhỏ và vừa cần tổ chức thực hiện đầy đủ các bước công việc để đảm bảo cho việc đưa ra ý kiến nhận xét về BCTC của DNXD.

Ba là, các công ty kiểm toán nhỏ và vừa cần phân công trách nhiệm trong hệ thống kiểm soát chất lượng kiểm toán phù hợp, đảm bảo quá trình soát xét với nguyên tắc người ở cấp bậc cao hơn sẽ kiểm tra, soát xét người ở cấp bậc thấp hơn. Công việc càng phức tạp và mức độ rủi ro của các khoản mục càng cao thì càng soát xét nhiều cấp. Đối với những giấy tờ làm việc quan trọng phải được thực hiện soát xét bởi thành viên ban giám đốc độc lập với cuộc kiểm toán.

Bốn là, các công ty kiểm toán nhỏ và vừa cần hoàn thiện việc lập và lưu trữ các tài liệu, giấy tờ làm việc và hồ sơ kiểm toán nhằm đảm bảo ghi chép đầy đủ và thích hợp làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán trên báo cáo kiểm toán và làm bằng chứng cho thấy, cuộc kiểm toán đã được lập kế hoạch và thực hiện phù hợp với quy định của chuẩn mực kiểm toán, pháp luật và các quy định có liên quan.

Tóm lại, để hoàn thiện tổ chức công tác kiểm toán BCTC DNXD tại các công ty kiểm toán nhỏ và vừa thời gian tới cần tăng cường sự quản lý của cơ quan chức năng; Nâng cao nhận thức của KTV và các công ty kiểm toán về tầm quan trọng của tổ chức công tác kiểm toán trong việc nâng cao hiệu quả và chất lượng của cuộc kiểm toán; Nâng cao trình độ, kinh nghiệm nghề nghiệp và khả năng xét của KTV thông qua bồi dưỡng, sinh hoạt chuyên môn, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm.   

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Tài chính (2012), “Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam”;

2. Quốc hội (2011), “Luật Kiểm toán độc lập”;

3. Hội KTV hành nghề Việt Nam VACPA, “chương trình kiểm toán  mẫu”;

4. TS. Nguyễn Viết Lợi, ThS. Đậu Ngọc Châu (chủ biên) (2012), “Giáo trình lý thuyết kiểm toán”, NXB Tài chính;

5. PGS., TS. Thịnh Văn Vinh, PGS., TS. Giang Thị Xuyến (chủ biên) (2012), Giáo trình tổ chức quá trình kiểm toán báo cáo tài chính”, NXB Tài chính;

6. Một số website: vacpa.org.vn;hoiketoankiemtoan.vn; mof.org.vn…

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục