Quản trị tốt giao dịch bên liên quan tạo sự phát triển vững mạnh cho doanh nghiệp

(Taichinh) - Thực tế hiện nay cho thấy xung đột lợi íchgiao dịch bên liên quan (GDBLQ) tại các công ty cổ phần đại chúng đang là vấn đề “nóng” được các nhà quản lý và nhiều nhà đầu tư quan tâm. Bà Nguyễn Nguyệt Anh, Chuyên gia Quản trị Công ty (QTCT), Phụ trách Chương trình QTCT của Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) tại Việt Nam trả lời phóng viên xoay quanh chủ đề trên.

Phóng viên: Thưa Bà! Được biết khái niệm về bên liên quan (BLQ) và GDBLQ hiện còn nhiều cách hiểu khác nhau cả trên thế giới và ở Việt Nam. Là chuyên gia QTCT của một tổ chức tài chính quốc tế có hơn sáu mươi năm hoạt động về đầu tư và tư vấn quản trị trên nhiều quốc gia đang phát triển, bà có thể chia sẻ để độc giả Tạp chí Chứng khoán hiểu rõ hơn về vấn đề này?

bà Nguyễn Nguyệt Anh, Chuyên gia Quản trị Công ty, Phụ trách Chương trình Quản trị Công ty của Tổ chức Tài chính Quốc tế IFC
Bà Nguyễn Nguyệt Anh, Chuyên gia Quản trị Công ty, Phụ trách Chương trình Quản trị Công ty của Tổ chức Tài chính Quốc tế IFC

Bà Nguyễn Nguyệt Anh: Ở mỗi quốc gia, định nghĩa về BLQ là khác nhau và theo nhiều tiêu chí khác nhau. Khái niệm về BLQ được chấp nhận rộng rãi trên thế giới được nêu tại chuẩn mực Kế toán Quốc tế số 24 (IAS 24) về công bố BLQ. Chuẩn mực này không giống với Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 26 hoặc định nghĩa về BLQ trong Luật Các Tổ chức tín dụng (TCTD), mà IAS 24 có những quy định chặt chẽ hơn. Theo đó, khái niệm về BLQ trong IAS 24 được mở rộng hơn so với các quy định của Việt Nam và khái niệm về người thân trong gia đình.
Khái niệm này sẽ bao gồm cả cô, dì, chú, bác, anh, em họ và thậm chí cả các thành viên khác trong gia đình, bên cạnh đó định nghĩa này còn mở rộng đến thế hệ thứ hai và thứ ba của gia đình bởi họ vẫn có mối quan hệ ruột thịt với nhau và có thể có sự chi phối hoặc bị tác động trong các quyết định của doanh nghiệp. Do vậy, trên thế giới, việc áp dụng khái niệm BLQ của IAS 24 được coi là ở mức tối thiểu.

Theo IAS 24, BLQ là một người hoặc tổ chức liên quan đến tổ chức đang chuẩn bị báo cáo tài chính - BCTC (trong chuẩn mực này được gọi là “bên/tổ chức báo cáo”). Các thành viên thân thuộc trong gia đình của một người là những thành viên trong gia đình có thể sẽ ảnh hưởng, hoặc bị ảnh hưởng bởi người đó trong các giao dịch của họ với tổ chức.

Một thành tố quan trọng của định nghĩa BLQ là các mối quan hệ trong gia đình. Định nghĩa phải được xây dựng trên mối quan hệ rộng với các thế hệ trong gia đình của những người có vai trò chủ chốt (thành viên hội đồng quản trị (HĐQT), ban kiểm soát và các vị trí quản lý điều hành cấp cao).

Định nghĩa sẽ bao gồm gia đình hiện tại, có cùng huyết thống và ngoài huyết thống, họ hàng thế hệ thứ hai trong gia đình (cô dì, chú bác, cháu trai và cháu gái, anh em họ, anh chị em dâu/rể) và họ hàng thế hệ thứ ba trong gia đình (ông bà, cháu nội/ngoại hoặc tương đương) và người thân của các thành viên trong gia đình của các thành viên HĐQT và quản lý cấp cao. Hướng dẫn của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cho thấy nên áp dụng các mối quan hệ gia đình trong vòng ba thế hệ.

Cũng theo các hướng dẫn của OECD, định nghĩa về BLQ nên ở mức độ bao quát và đủ rộng để nắm bắt toàn bộ các bên và các giao dịch phù hợp/có liên quan mà có thể gây ra nguy cơ trục lợi. Định nghĩa tốt về bên có liên quan nên bao trùm tất cả các cá nhân và thực thể mà, do vị trí, thẩm quyền, quyền sở hữu và quan hệ của họ, có cơ hội có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đối với quá trình ra quyết định của doanh nghiệp trong các GDBLQ.

Danh sách các bên được giả định là các BLQ không nên được xem là một bản danh sách đầy đủ bởi các BLQ khác có thể xuất hiện theo thời gian. Cuối cùng, việc xác định BLQ được hoặc cần phải được xác định bằng năng lực hiện tại hoặc tương lai của một cá nhân hoặc tổ chức hoặc khả năng ảnh hưởng đến việc đưa ra các quyết định của các công ty.

Ở Việt Nam, Luật Doanh nghiệp 2014 có sửa đổi về khái niệm về BLQ so với Luật Doanh nghiệp cũ. Khái niệm này không đồng nhất với khái niệm về BLQ được nêu trong Luật Các TCTD nhưng nó bao gồm nhiều thành phần hơn, chẳng hạn như định nghĩa về các thành viên trong gia đình là rộng hơn và định nghĩa về người quản lý của doanh nghiệp là toàn diện hơn. Ngoài ra, khái niệm nêu tại Luật Các TCTD không thống nhất với khái niệm BLQ trong Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) số 26 về công bố thông tin (CBTT) BLQ.

GDBLQ là các giao dịch chuyển giao nguồn lực, dịch vụ hoặc nghĩa vụ giữa doanh nghiệp và một BLQ, bất kể có tính chi phí hay không.

GDBLQ phổ biến ở hầu hết các doanh nghiệp thuộc nhiều lĩnh vực, loại hình và ngành hoạt động khác nhau ở châu Á cũng như ở Việt Nam. Không phải tất cả các GDBLQ đều gây ảnh hưởng xấu đến doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu các giao dịch này không được thực hiện theo các nguyên tắc, điều khoản thị trường trong việc mua/bán hàng hóa, chuyển nhượng các tài sản vô hình hay góp vốn, hợp vốn liên doanh thì các cổ đông sẽ luôn chịu rủi ro.

Chính vì vậy, những GDBLQ có trục lợi thường là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của nhiều doanh nghiệp lớn, phá hủy giá trị cổ đông và làm mất lòng tin của nhà đầu tư vào tính liêm chính của thị trường. Các GDBLQ có trục lợi đã trở thành một trong những thách thức quản trị lớn nhất đối với môi trường kinh doanh tại Việt Nam.

Vậy để tránh những rủi ro từ các GDBLQ có trục lợi thì cần tuân thủ những nguyên tắc, điều khoản thị trường gì, thưa Bà?

Theo thông lệ quốc tế tốt, về cơ bản tất cả các giao dịch với một doanh nghiệp được kỳ vọng sẽ thực hiện theo các nguyên tắc chung sau đây:

(i) Tất cả các giao dịch với doanh nghiệp phải tuân thủ nguyên tắc thị trường độc lập (arm’s length terms), có nghĩa là tất cả các bên tới giao dịch với doanh nghiệp đó đều nhận được những thông tin đầy đủ, giao dịch một cách tự nguyện và độc lập vì lợi ích tốt nhất của họ, mỗi bên đều cố gắng thương thảo để đạt được các điều khoản và điều kiện của hợp đồng là tốt nhất với họ.

Nguyên tắc này áp dụng cho các giao dịch với các BLQ và cả các bên không liên quan và được kỳ vọng sẽ tạo ra một giá trị thị trường đúng và đem lại sự bình đẳng cho tất cả các bên và cho doanh nghiệp.

(ii) GDBLQ luôn được nhìn nhận như giao dịch có thể gây xung đột lợi ích;

(iii) Tất cả các GDBLQ cần phải được tiến hành cẩn trọng, chặt chẽ;

(iv) Tất cả các GDBLQ phải tuân thủ quy trình rà soát/phê duyệt chặt chẽ;

(v) Các doanh nghiệp cần thiết lập một chính sách GDBLQ minh bạch không chỉ tuân thủ pháp luật và quy định của Việt Nam mà còn theo các thông lệ quốc tế tốt nhất;

(vi) Khi có bất kỳ vấn đề nào với GDBLQ, các doanh nghiệp cần phải kiểm tra lại vị trí của bên có liên quan với doanh nghiệp mình.

GDBLQ không nên có điều khoản hoặc điều kiện nào thuận lợi hơn so với giao dịch của những người (hoặc bên) khác và các điều khoản này được kỳ vọng sẽ áp dụng chung cho các giao dịch tương tự trên thị trường mở.

Còn theo các nguyên tắc QTCT của OECD/G20, giao dịch với BLQ phải được phê duyệt và tiến hành nhằm bảo đảm việc quản lý tốt các xung đột lợi ích, bảo vệ lợi ích của công ty và các cổ đông.

(i) Xung đột lợi ích tiềm tàng trong giao dịch với các BLQ nên được giải quyết;

(ii) Thành viên HĐQT và Ban điều hành phải công bố cho HĐQT biết họ có lợi ích đáng kể hay không trong mọi giao dịch hay vấn đề ảnh hưởng trực tiếp tới công ty, cho dù là trực tiếp, gián tiếp hay thay mặt cho bên thứ ba;

(iii) Cổ đông thiểu số phải được bảo vệ khỏi các hành động lạm dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bởi hoặc vì lợi ích của các cổ đông nắm quyền kiểm soát và họ cần có các phương tiện khiếu nại hiệu quả. Các giao dịch trục lợi cá nhân phải bị cấm.

Như vậy, các GDBLQ, nếu không được thực hiện trên nguyên tắc thị trường độc lập, sẽ là nguy cơ đe dọa đối với sự phát triển bền vững và lành mạnh không chỉ ở cấp độ các doanh nghiệp mà còn ở cấp độ quốc gia, ở rất nhiều nơi, không chỉ riêng Việt Nam.

Theo bà, HĐQT có trách nhiệm và vai trò như thế nào trong việc giải quyết xung đột lợi ích và GDBLQ?

Kinh nghiệm quốc tế đã chỉ ra rằng, QTCT vững mạnh sẽ giúp các doanh nghiệp tạo ra môi trường kiểm soát GDBLQ hiệu quả. Điều này được thể hiện qua ý chí và cam kết của lãnh đạo. HĐQT phải chịu trách nhiệm giám sát và xử lý các xung đột lợi ích tiềm ẩn của Ban điều hành, HĐQT và cổ đông, bao gồm việc lợi dụng các giao dịch với BLQ.

HĐQT có một chức năng quan trọng là giám sát hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm BCTC và việc sử dụng tài sản doanh nghiệp và chống lại việc lạm dụng các GDBLQ. Những chức năng này thường được giao cho kiểm toán nội bộ, là bộ phận báo cáo trực tiếp cho HĐQT (thông qua Ủy ban kiểm toán).

Để thực hiện trách nhiệm giám sát, HĐQT cần bổ nhiệm đầy đủ số lượng thành viên độc lập có khả năng đưa ra phán quyết đối với các vấn đề khi tiềm ẩn xung đột về lợi ích. Các thành viên HĐQT độc lập có vai trò hỗ trợ giám sát việc thực hiện chính sách về giao dịch với bên liên quan.

Thông qua các ủy ban chức năng của HĐQT (ví dụ như ủy ban kiểm toán), các thành viên độc lập có sự phối hợp chặt chẽ với bộ phận kiểm toán nội bộ và kiểm toán bên ngoài tham gia vào quá trình rà soát đối với các giao dịch với bên liên quan.

Sự tham gia của thành viên HĐQT độc lập với vai trò giám sát có thể là đảm bảo thêm cho các bên tham gia thị trường (bao gồm cổ đông thiểu số) rằng lợi ích của họ sẽ được bảo vệ tốt hơn.

Xin trân trọng cảm ơn Bà!

Theo Tạp chí Chứng khoán 11/2017

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • tối đa 150 từ
  • tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục